Con diều không cất cánh – Truyện ngắn của Lư Thu Biên

548

(Vanchuongphuongnam.vn) – Lư Thu Biên, sinh ngày 15 tháng 11 năm 1994 tại huyện U Minh tỉnh Cà Mau. Hiện sinh sống và làm việc tại huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng. Là Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Hậu Giang. Hiện đã có các tác phẩm được đăng trên Tạp chí Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh và Tạp chí Văn nghệ Hậu Giang.

Tác giả trẻ Lư Thu Biên   

  Bữa nay trời vừa đứng gió vừa nắng chang chang. Trước cổng bệnh viện từng dòng xe cộ qua lại tấp nập, bóp còi inh ỏi làm cho không khí ngột ngạt lên gấp mấy lần. Mấy bà cô bán bắp luộc, nước mía cứ thủng thẳng lại quay qua dòm nhau rồi cằn nhằn mấy câu thấy thương đứt ruột: “Nắng gì mà nắng thấy ghê! Nắng gì muốn chết con người ta hà!”. Rồi như bắt gặp được khoảnh khắc đáng giá, mấy bà chỉ trỏ một người để đầu trần đang đi trên đường, đoạn xì xầm: “Mèn ơi, con nhỏ nó không biết nắng nôi gì hết trơn sao mà để đầu trần trùi trụi dị”. Thảo nghe loáng thoáng có người nói về mình thì chỉ biết nhoẻn miệng cười sượng trân. Cô cong tay lên quệt đi mấy giọt mồ hôi đương bệt trên đám tóc mai rồi cũng quýnh quáng rẽ nhanh vào bệnh viện.

          Vừa kịp đặt cái cà mên với giỏ đồ nặng trìu trĩu xuống cạnh giường thì Thảo đã nghe mẹ cằn nhằn: “Hổng biết mần gì mà trưa trờ mới vô tới. Làm gì cũng trậm trầy trậm trật!”. Mấy chục năm nay rồi, bà Lệ luôn như vậy. Không khi nào bà nhỏ nhẹ được quá hai câu với Thảo. Nếu là một bà mẹ khác chắc người ta sẽ thấy con gái mồ hôi mồ kê nhễ nhại, mặt mày nắng ăn đỏ choét. Hay chí ít cũng thấy tội nghiệp nó khệ nệ cái giỏ đồ to tướng không thiếu một thứ gì từ chai dầu cù là, cây gãi lưng, cây lược sừng trâu tới cái mền, cái áo gối. Hơn ai hết bà phải biết đứa con gái đó thương mẹ, biết tánh mẹ kĩ, chỉ xài được đồ ở nhà nên cho dù cực cũng ráng đem đầy đủ đồ vô cho mẹ. Nó mong một chút thoải mái nhỏ nhoi có thể xoa dịu bớt khó chịu của bệnh tật để mẹ mau mau về nhà. Vậy chứ mẹ nó cứ hở ra là cằn nhằn, dù nhỏ con gái có làm cái gì cũng không ưng bụng. Thảo nghe mẹ la riết rồi cũng thành quen nên dẫu có buồn cũng nín thinh, không trả lời tiếng nào. Trong lòng Thảo tự an ủi rằng mẹ nói thì nói vậy thôi chứ mẹ nào có ghét bỏ gì mình đâu. Dẫu sao mình cũng là núm ruột, là máu mủ của mẹ, sao lại không thương cho đành. Cứ nghĩ vậy, cứ tự ủi an như vậy qua bao tháng năm. Nước mắt nuốt ngược vào trong cho nên đôi mắt có buồn cũng thành ra ráo hoảnh.

          Chuyện cũng hơn ba mươi năm trước, có một cô gái không biết ở đâu tới, khệ nệ cái bụng chửa đi khắp các quán sá trong chợ huyện này để xin rửa chén, phụ việc kiếm cơm sống qua ngày. Chủ các hàng quán thấy người kia bầu bì chậm chạp lại không rõ lai lịch nên cũng không ngại từ chối. Cô cứ đi như thế suốt từ sáng tới chiều không chỗ nghỉ chân. Bụng đói mốc meo thêm đang trong thai kì nên chỉ sau một cơn choáng váng, say xẩm cô đã ngã vật ra đất bất tỉnh. Mấy dì bán rau củ, trái cây đang buôn chuyện gần đó thấy vậy cũng hết hồn chạy ra xốc cô gái vào trong. Người xứt dầu, người cạo gió, người giựt tóc mai may sao cô ta tỉnh dậy. Hồi lâu sau khi tỉnh cô gái bấm bụng nói: “Mấy dì làm ơn cho con miếng cơm. Con đói bụng quá mà… con không có tiền!”. Mấy bà dì nghe vậy thì mủi lòng. Bà Chín Tấn đập tay lên đùi cái chát rồi nói: “Hồi sớm mơi sao bây không nói, tao trụng tô bún nước lèo cho bây ăn”. Nói đoạn bà lật đật đi bắt nồi nước lèo lên bếp, tay quơ nhanh lọn bún để vào trong tô, vừa làm bà vừa thanh minh: “Tui có biết nó là ai đâu. Quán tui nhỏ xíu, bán ế thấy mồ mà nó xin vô mần. Mần rồi tiền đâu tui trả”. Mấy dì nghe vậy cũng bật cười ha hả rồi chêm vô: “Ừ! bây xin vô mần cho bã chắc ăn bún trừ cơm chứ tiền đâu bả trả bây”. Chỉ một lúc sau nồi nước lèo bốc lên mùi thơm nứt mũi. Khoảnh khắc ấy, cô gái đã rơi nước mắt. Chỉ cô mới biết không phải nước mắt tứa ra do cơn đói miết qua da thịt làm gan ruột lộn cào cào mà là vừa có tình người ghé thăm nên khuấy động đến tâm can của một kẻ từ lâu không còn biết cảm giác được yêu thương là thế nào nữa.

          Kể ra mới biết cô gái tên Lệ. Cô cũng được người ta cưới hỏi đàng hoàng chứ đâu có phải chửa hoang. Nhưng điều đáng nói là chồng cô không hề công nhận sự tồn tại của cô và đứa con cô mang trong bụng. Nói trắng ra anh ta đã chối bỏ cô từ lúc mẹ anh mới manh nha ý định hỏi cưới cô về cho anh. Anh bảo đã có người yêu rồi. Mẹ anh biết nên bà mới cấm không cho hai người tới lui. Bà chỉ nói lý do đơn giản là bà đi coi thầy, thầy phán không hạp mạng, hạp tuổi, “cưới nhỏ đó về sẽ nghèo mạt cả đời không ngóc đầu lên”. Rồi bà hỏi thăm, qua mối mai nên chấm được Lệ – một cô gái không đẹp, không xấu nhưng được cái hạp tuổi với con trai bà. Chẳng biết bà làm cách nào mà con trai bà cũng chịu cưới Lệ. Chuyện cưới hỏi diễn ra giản đơn, không rình ràng sính lễ mà chỉ vỏn vẹn vài ba văn tự suông cho có cái lễ để trình gia tiên. Cưới một đứa con gái mồ côi như vậy coi bộ cũng lễ nghĩa lắm rồi. Mấy bà đàn bà nhiều chuyện trong xóm còn thài lai, khều nhau tặc lưỡi tội nghiệp Lệ. Rồi còn ra điệu bộ thầy bà mà tiên tri: “số con nhỏ đó từ rày sẽ khổ”. Chẳng biết những lời nói không đầu không đuôi đó là thật lòng hay ác ý mà sự thật là sau bữa đó Lệ khổ thật.

          Nhà chồng Mỹ Lệ tổng cộng hết thảy mười lăm người. Nhiều thế hệ chen chúc nhau trong một ngôi gia. Họ sống đoàn kết lắm nên lúc vui thì thôi, lúc buồn thì đại gia đình lại đồng lòng đem cô ả người ngoài ra để chê bai, chì chiếc. Họ thay nhau coi chừng, không cho cô có cơ hội vắng mặt trong bất cứ công ăn chuyện làm nào từ đi ruộng, làm vườn đến nấu cơm, giặt đồ, gánh nước. Có những hừng đông trở dậy nghe bụng dưới co thắt, đau ran, Lệ chỉ dám rón rén thấm khăn lau đi vệt máu tới kì vấy ra tấm chiếu rồi cũng lụm hụm sửa soạn ra đồng. Trong bụng ngán ngược cảnh một lát nữa phải trầm mình xuống mấy cái mương nước quá lưng quần rồi chép miệng hít hà chứ không dám trễ nãi vì biết ốm đau chẳng phải lý do chính đáng để cô đình công. Qua mấy mùa xuân, đôi bàn tay thiếu nữ ngày nào cũng cùn mằn thấy rõ.

          Rồi cũng đến một ngày Lệ mang thai. Cô thấy trong người uể oải chỉ muốn ngủ vùi. Ăn uống bao nhiêu thì nôn trớ ra hết. Cô xin mẹ chồng được nghỉ ít hôm, bà chỉ nín thinh và để lại sau lưng cái nhìn sắc lạnh. Chiều đó, Lệ nghe em chồng báo lại: “Chị đừng có ỷ được anh Ba cưng mà nhõng nhẽo trong nhà ngen. Má nói lóng rày chị lơ mơ làm biếng lắm rồi đó”. Lệ tủi thân lắm, cổ họng nghẹn ứ không thốt nên lời. Tối đó, Lệ dựa đầu vào vai chồng khóc rấm rứt. Trong ngôi nhà thênh thang, chỉ duy có gian buồng và người chồng lúc nào cũng nằm day mặt vô vách là của cô. Cô thương chồng và luôn nghĩ trọn đời này phải một lòng vì chồng. Dù nhà anh có đối đãi như thế nào thì cô cũng ráng bởi đó là phận đàn bà “xuất giá tòng phu”. Nhưng trái ngược với cô, anh chẳng mải mai. Bằng chứng là khi cô dựa vào anh, giây phút cô mềm lòng nhất, cần ủi an nhất anh đã hất cô ra. Rồi anh thốt lên câu nói làm tâm can cô vụn vỡ: “Đừng có làm nư, bắt chước thói tiểu thư. Má tui nói sao thì nghe vậy đi! Đàn bà trên đời đâu phải một mình cô biết mang bầu!”. Nói xong anh vén mùng bước ra ngoài bộ ngựa nằm hút thuốc, kéo đờn cò tỉ tê. Chẳng biết anh đờn bài gì mà nước mắt Lệ chảy dài ướt sũng cái gối. Mới đó, Lệ còn tự tưởng tượng khi khoe với anh cái bầu anh sẽ vòng tay ôm mình vào lòng và sờ lên bụng mân mê cưng nựng đứa con đang độ tượng hình. Cô nghĩ từ rày anh sẽ thôi thờ ơ, lạnh nhạt với mình vì dẫu sao vợ chồng cũng đã ăn ở với nhau có một mặt con. Điều cô không ngờ là anh đã biết trước điều cô chưa nói và đau lòng hơn là anh không hề vui sướng khi biết được mình sắp được làm cha.

          Một buổi chiều đi ruộng về sớm Lệ nghe trong nhà có tiếng van lơn: “Con năn nỉ má! Dù sao nó cũng là cháu nội của má mà. Má có thương con thì thương cổ dùm con đi má”. Trong bụng Lệ bỗng rơn lên cảm giác sung sướng. Cô lâng lâng với suy nghĩ chồng mình đang đòi công bằng cho vợ con. Nhưng chỉ ít lâu sau lỗ tai Lệ lùng bùng khi nghe tiếp: “Con đâu có chịu cưới con Lệ. Tại má ép con. Con thương Quyên. Má không chịu thì thôi, đừng trách con bất hiếu. Con đi ra khỏi nhà này. Con còn lo cho Quyên và con của con nữa”. Trong nhà, mẹ chồng Lệ đã ngồi thụp xuống bộ ván kêu trời. Không đợi bà xả cơn tam bành, chồng Lệ đi vội ra sau quơ nhanh mấy bộ đồ treo trên sào bỏ vào bị rồi xuống xuồng bơi khuất dạng. Lúc ngang qua bậu cửa anh chỉ gởi lại cho Lệ một ánh mắt đã đóng băng.

          Chồng bỏ đi, Lệ nằm ru rú trong buồng. Những tưởng cùng phận đàn bà sẽ cảm thông cho nhau nhưng ở đời đâu có dễ. Mẹ chồng vẫn tiếp tục phận sự đay nghiến và chì chiếc. Như giọt nước tràn ly sau câu nói: “Nhắm ở được thì ở, không ở được thì cuốn gói đi” – Lệ đã đi thật. Và chẳng biết ai xui, Lệ chọn cái chợ huyện này để mưu sinh.

          Nghe chuyện mấy bà dì thấy thương tình nên cho Lệ một chỗ dung thân mặc dù có hơi tù mù, xập xệ. Hàng ngày Lệ rửa chén, phụ việc cho mấy quán ăn có đồng ra đồng vô, cắt củm đợi ngày sanh con. Đã nghèo còn mắc cái eo, bữa xuất viện bồng con Thảo về tới phòng thì thấy cửa nẻo phòng toang hoát. Ăn trộm đã quơ hết đồ đạc, chỉ chừa hai mẹ con bộ đồ dính da. Lệ chỉ biết hậm hực với đứa con nít đỏ hỏn: “Đẻ mày ra xui quá!”. Con Thảo như muốn phủ nhận lời phán xét của mẹ nên nó cứ dễ ợt. Chỉ uống nước cơm pha đường với bú vú da mấy bà dì trong khu trọ mà lớn. Mẹ nó phó thác luôn con nhỏ cho hàng xóm nuôi rồi đi làm quần quật trong quán nhậu suốt từ sáng đến tối mò mới về.

          Cũng chừng năm năm sau đó, Thảo có cha dượng. Ít lâu sau thì có em. Thằng Hiếu “vừa giống cha vừa giống mẹ” – Thảo nghe ai cũng nói vậy nên non nớt ganh tị sao mình không giống cha cũng chẳng giống mẹ. Vậy mình giống ai? Trong đầu một đứa nhỏ năm sáu tuổi đâu có hiểu được. Nó chỉ nhớ mẹ nó từng chửi đỏng: “Cái mặt mày giống cái quân phản bội nào quá vậy? Đi cho khuất mắt tao!”. Trong kí ức của Thảo nó không nhớ ra mình đã làm sai điều gì. Rồi không biết lý do gì mà mỗi bận đi chợ về mẹ luôn chỉ nhớ mua bánh ú cho mỗi thằng Hiếu. Còn nó thì ngồi nhìn em ăn mà thèm thuồng, nuốt nước miếng ừng ực. Mẹ chỉ nhớ Thảo học ngu môn toán, lần nào cũng chỉ được tám điểm chứ không được mười. Để rồi mỗi lần nhớ đến là mỗi lần trên đít nó chằng chịt vết roi dọc roi ngang. Thảo mếu máo vặn vẹo lại: “Sao thằng Hiếu ba điểm mẹ không đánh nó?”. Mẹ lại đánh thêm chục roi rồi giọng chắc nịch: “Nó làm em!”. Thảo trả đũa bằng cách được toàn điểm mười để mẹ không có cớ đánh. Bữa nọ nó chạy hớt hãi về khoe: “Con thi học sinh giỏi được hạng nhì”. Mẹ chỉ cười khẩy: “Sao không phải hạng nhất?”. Thảo xìu co. Nó nhớ rõ ràng mới sáng này thằng Hiếu được có bảy điểm nhưng mẹ đã mừng ra mặt. Trong bữa ăn còn không quên khoe với cả nhà: “Con trai tui mà chịu học con Thảo đời nào học lại”. Thảo tức lắm, nước mắt rơi lã chả xuống chén cơm.

          Chiều gió mát, Thằng Hiếu rủ chị làm diều. Nó chống nạnh đứng coi thấy chị hai hì hục chẻ tre, rọc giấy thì bĩu môi: “Diều gì chán phèo, không giống của tụi thằng Thành gì hết!”. Mẹ nghe vậy thì xách xe đi ra chợ, lát sau đem về đưa ra một con diều sặc sỡ, còn không quên dặn: “Của thằng Hiếu! Con Thảo xếp diều giấy chơi. Xớ rớ rách của em là ăn roi!”. Thằng Hiếu nghe vậy thì nhảy tưng tưng rồi xách con diều chạy đi mất hút. Thảo nhìn em chạy đi mà trong lòng trống rỗng. Nó tự hỏi: Sao mẹ không mua hai con diều? Sao mẹ không cho mình chơi chung con diều đó với em?

          Đến chạng vạng, Thảo cũng làm xong con diều giấy. Nó đem ra chỗ thằng Hiếu khoe thành quả, định bụng sẽ cho em chơi cùng. Chẳng biết do con diều nặng hay do trời đã đứng gió mà con diều giấy vốn chẳng được đẹp lại còn chẳng chịu cất cánh bay. Nó cứ là đà dưới đất rồi lát sau lại loạng choạng cắm đầu xuống sông ướt chèm nhẹp. Cả đám con nít ôm bụng cười sặc sụa rồi chổng mông về phía Thảo lêu lêu dậy trời. Thảo tiu nghỉu chịu đựng cảm giác của một kẻ ê chề thất bại. Hôm sau, vừa đi học về Thảo đã bị mẹ vung roi quất tới tấp, tiếng roi chát chúa của mẹ kèm theo tiếng khóc nhè của thằng Hiếu: “Chị hai làm rách diều của con”. Thảo đứng trân trân không thèm biện minh cho oan ức trong lòng. Từ mùa gió năm đó, Thảo không thích những con diều chót vót trên bầu trời cao nữa.

          Bà Lệ từ ngày đổ bệnh thì ra vô bệnh viện thường xuyên như cơm bữa. Ban đầu bà cũng mạnh miệng từ khước sự ân cần của Thảo nhưng về sau khi sức khỏe càng suy kiệt bà không còn giữ được lập trường đó nữa. Mấy hôm thấy khỏe trong người bà lại tản bộ ra ngoài ban công. Đi dạo là một lẽ, thật ra trong bụng bà muốn ngóng đứa con trai. Từ lúc bà bệnh tới nay nó chưa lần nào vô thăm. Có lúc nằm bần thần bà chợt nhớ lại chính mình đã không ít lần nuông chiều để thằng Hiếu có được mọi thứ nó muốn. Cuối cùng nó đem tình thương của bà đổ đi để dấn thân vào con đường không lấy gì làm sáng sủa. Nó đã sớm bỏ dở việc học để tụ tập theo tụi thằng Thành du côn. Bà giận lắm nhưng vẫn mong nó sẽ quay về. Nhưng trái với mong muốn của bà, càng ngày đường về nhà của Hiếu càng xa. Cái tên bà đặt cũng không đủ nhắc nhở đứa con rằng nó chỉ còn một người mẹ để phụng dưỡng. Thảo đã báo tin cho nó biết bà đang bệnh nhưng nó vẫn đi biệt xứ. Thậm chí một cuốc điện thoại của nó để hỏi thăm bâng quơ cũng chỉ là tưởng tượng của riêng bà.

           Không biết do phải nếm quả đắng vì những sai lầm của quá khứ hay vì nhận thấy mình đã đi đến buổi chiều muộn của cuộc đời mà bà Lệ đã dần thôi chấp niệm. Thật tình, những điều xung quanh bà vẫn y nguyên. Thảo vẫn giống cha ruột như khuôn đúc, từ tướng đi tướng đứng, đến cái nết ăn nết ngủ. Cái bản sao y đó làm bà tức lộn ruột gan nên chẳng muốn nhìn và chẳng thể nói chuyện được quá hai câu. Mấy chục năm qua, người đàn ông tệ bạc đó cũng vẫn vậy! Ông chưa một lần tìm đến thăm để biết giọt máu của mình mang hình hài tròn hay méo. Bà tự nhũ ngày gặp lại ông bà sẽ trút hết thảy những trận ba đào sục sôi trong lòng suốt mấy chục năm trời. Bà sẽ cho ông thấy bà không còn là con Lệ cam chịu, nhẫn nhục đến mức nhu nhược ngày nào. Nhưng tiếc thay bà đã không có cơ hội để làm điều đó.

          Mới mấy bữa trước, đứa cháu bà con xa của bà điện thoại hỏi thăm bệnh tình rồi thài lai: “Chú Ba chết cả năm năm nay rồi thiếm. Con đi bán buôn tứ xứ mới biết tin ổng đó chớ”. Bà không trả lời mà chỉ lén thả đi một tiếng thở dài lê thê rồi để nó tự do bay đi đâu lẫn khuất vào trong không trung. Dẫu gì thì từ lâu bà đã thôi dành tình yêu thương cho người đàn ông tệ bạc đó, thứ còn lại chăng là sự uất nghẹn, xót xa vẫn lần mò, trêu ghẹo làm tâm can bà không đêm nào được ngủ yên. Và rồi khi người xưa đã hóa bụi cát từ đời thuở nào thì mình bà vẫn còn ngồi đó, khua khoắng điên đảo những dòng hồi ức đau thương để nó chảy tràn, cuốn người thân của bà rơi vào vòng xoáy.

          Thảo lấy làm lạ khi bữa nay đặt cái cà mên với cái giỏ đồ xuống giường bệnh của má đã trưa trờ trưa trật mà má không la. Má chỉ nhìn rồi nói: “Ừ! Mày…, Ừ… Con gái con lứa coi kĩ kĩ lại con, đi nắng bận áo dài tay vô, tay chân đen đúa xấu quắt đó!”. Thảo trố mắt nhìn má: “Ủa? Bộ bữa nay má khỏe rồi hả má?”. Bà Lệ nhìn Thảo cười hiền: “Ừ!”. Thảo nghe trong lòng khấp khởi. Chắc vừa nảy vội nên Thảo không kịp để ý rằng nắng đã làm đôi gò má của mình ửng đỏ. Và chắc là gió cũng đã được dịp nên thả vài hạt bụi làm đôi mắt buồn từ lâu ráo hoảnh giờ mới lại ngấn nước long lanh.

          Mùa này gió lại về. Thảo đưa mẹ ra đứng dạo mát trên ban công cho khuây khỏa. Bà Lệ tiện tay vuốt gọn lại đám tóc mai đang bệt trên trán con gái. Thảo thừa cơ hội lại nũng nịu, dựa vào lưng má mà ôm. Đằng xa, chỗ bãi đất trống, người ta đang í ới thi nhau thả căng dây cho những con diều uốn lượn trên nền trời. Mảng màu đơn điệu của trời chiều đã được điểm tô bằng hàng trăm vệt màu rằn ri, rực rỡ. Nhưng trong mắt Thảo, lác đác đâu đó có những con diều giấy đang loạng choạng, là đà dưới đất. Những đôi tay non nớt đang đuối sức nhìn con diều của mình loay hoay mãi mà chẳng thể cất cánh bay cao….

L.T.B