Dấu ấn văn hóa của Văn Lê

14

Phan Hoàng

(Vanchuongphuongnam.vn) – Sự ra đi đột ngột của Văn Lê, một cây bút tài hoa, một nhân cách đáng kính trọng, làm việc không biết mệt mỏi ngay cả khi lâm trọng bệnh, đã gây bàng hoàng cho những người yêu quý ông. Đa năng và giàu sức sáng tạo, làm thơ, viết văn, nghiên cứu phê bình, làm báo, biên kịch, đạo diễn phim, có thể nói dấu ấn văn hóa và phẩm hạnh mà người hiền Văn Lê để lại rất đáng ngưỡng mộ.

Nhà thơ – Đạo diễn Văn Lê

1. Văn Lê không phải con người của truyền thông. Ông hiếm khi xuất hiện trên báo chí hay truyền hình. Văn Lê càng không phải con người của quan trường hay của đám đông. Ông đã từ chối những chức vụ quản lý văn nghệ được đề bạt. Văn Lê là người lính từng âm thầm xông pha trên những chiến trường ác liệt và là cây bút lặng lẽ sống, đọc và viết bằng ngọn lửa nồng cháy tình yêu, tự hào về lịch sử, văn hóa lớn lao của dân tộc cho tới khi ông trút hơi thở cuối cùng.

Sinh trưởng ở đất thiêng Ninh Bình, chàng trai Lê Chí Thụy sớm rời ghế nhà trường xung phong vào chiến trường Nam Bộ từ năm 1967, rồi trở thành cây bút trên mặt trận văn hóa với bút danh Văn Lê vốn là tên của một đồng đội yêu thơ mình đã hy sinh. Ông từng là phóng viên báo Văn Nghệ Quân Giải Phóng, Văn Nghệ Giải Phóng, Văn Nghệ. Đất nước thống nhất, ông xuất ngũ năm 1976, nhưng rồi lại tái ngũ năm 1977 khi chiến tranh biên giới Tây Nam nổ ra, đến năm 1982 mới ra quân hẳn.

Nhà văn Văn Lê cho rằng năng khiếu cầm bút là “tài vặt” nhưng cũng theo ông: “Chính cái tài vặt ấy đã giúp tôi may mắn sống sót giữa mưa bom bão đạn”. Giống như những cây bút cùng thế hệ, chiến tranh trở thành nguồn cảm hứng chủ đạo cho trang viết, mà kết quả là mấy mươi tập thơ, trường ca, truyện ký, tiểu thuyết của ông đã xuất bản như: Một miền đất, những con người (tập thơ, 1976), Những ngày không yên tĩnh (truyện, ký 1978), Đồng chí Đại tá của tôi (truyện, 1981), Khoảng thời gian tôi biết (tập thơ, 1983), Ngôi chùa ở Pratthana (tiểu thuyết, 1985), Khoảng rừng có những ngôi sao (tiểu thuyết, 1985), Hai người còn lại trong rừng (tiểu thuyết, 1989), Phải lòng (tập thơ, 1994), Nếu anh còn được sống (tiểu thuyết, 1994-2002; xuất bản tại Hàn Quốc năm 2003), Những cánh đồng dưới lửa (trường ca, 1997), Đồng dao thời chiến tranh (tiểu thuyết, 1999), Cao hơn bầu trời (tiểu thuyết, 2004)…

Thế nhưng khác với nhiều nhà văn cùng thế hệ đã sớm gác bút nghỉ ngơi thì Văn Lê cho đến những năm tháng cuối đời chiến tranh vẫn là nỗi ám ảnh khôn nguôi và nguồn cảm hứng bất tận để dựng nên những tiểu thuyết đồ sộ mà tiêu biểu là Mùa hè giá buốt (2009, tái bản 2012), Phượng hoàng (2014, tái bản 2020), Quần ma loạn vũ (đã hoàn thành, chuẩn bị xuất bản), đó là chưa kể tập thơ Vé trở về (2013)… Đối với Văn Lê, nếu người còn được sống không tiếp tục viết thì sự hy sinh của bao con người trong chiến tranh trở nên vô nghĩa! Hai tiểu thuyết Mùa hè giá buốt, Phượng hoàng đều được dư luận đánh giá cao và được trao Giải thưởng Bộ Quốc phòng, Giải thưởng VHNT TP.HCM 5 năm. Không chỉ là tiểu thuyết hay nhất viết về Chiến dịch Mậu Thân 1968 mà Mùa hè giá buốt còn là một trong vài cuốn tiểu thuyết hiếm hoi hay nhất về chiến tranh chống Mỹ, trong khi Phượng hoàng là tiểu thuyết duy nhất đến nay viết về một chiến lược chiến tranh cùng tên hết sức khốc liệt do đối phương thực hiện. Độ lùi thời gian và sự chín chắn trải nghiệm đã giúp Văn Lê tái hiện chiến tranh một cách khách quan, sòng phẳng và toát lên vẻ đẹp phẩm hạnh, đức hy sinh của con người bị cuốn trong mưa bom bão đạn.

Hai nhà thơ Văn Lê và Phan Hoàng bên hè phố Hoàng Hoa Thám, Tân Bình tháng 7.2020 khi tiểu thuyết “Cống nhân” mới xuất bản.

2. Một nguồn cảm hứng chủ đạo khác của Văn Lê là cội nguồn lịch sử và văn hóa dân tộc. Vì vậy mười năm trở lại đây bên cạnh các tiểu thuyết về chiến tranh ông đã dành tâm huyết viết nên ba cuốn tiểu thuyết mang tính sử thi độc đáo: Mỹ nhân (2013), Thần thuyết của người Chim (2014) và mới đây là Cống nhân (2020). Tiểu thuyết Mỹ nhân là câu chuyện tình hấp dẫn nhưng qua đó khắc họa hình ảnh tài ba và công lao của Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên và quần thần trong việc mở mang, xây dựng xứ Đàng Trong, đặc biệt là xác quyết chủ quyền biển Đông cho con cháu đời sau. Với tiểu thuyết Thần thuyết của người Chim, chúng ta được sống lại thời sơ khai của dòng giống Lạc Hồng, theo dấu tổ tiên dựng nên một nền văn hóa khác biệt và một quốc gia độc lập vững bền. Còn tiểu thuyết Cống nhân xoay quanh cuộc đời tài ba bi kịch của danh y Tuệ Tĩnh, ông tổ thuốc Nam, bị tiến cống sang phương Bắc nhưng tấm lòng khôn nguôi hướng về quê hương phương Nam. Cái tài của Văn Lê không chỉ ở kiến văn thâm hậu, cách dựng chuyện, sức liên tưởng phong phú, mà còn khơi dậy lòng yêu nước, niềm tự tôn lịch sử, văn hóa của dân tộc!

Chẳng những thơ văn mà đề tài lịch sử còn chi phối cả phim ảnh của Văn Lê. Vào dịp Đại lễ 1.000 năm Thăng Long – Hà Nội, bộ phim truyện Long Thành cầm giả ca do Văn Lê biên kịch – Đào Bá Sơn đạo diễn đã gây tiếng vang và đoạt nhiều giải thưởng lớn. Giữa niềm vui ấy Văn Lê tâm sự với chúng tôi rằng ông vốn rất say mê lịch sử và sáng tác thường xuyên. Viết kịch bản Long Thành cầm giả ca, ông muốn thông qua lịch sử để hình dung thời thế lúc ấy hỗn độn thế nào, số phận bấp bênh của con người, đặc biệt là giới nghệ sĩ có khuynh hướng sống ra sao, vì họ là những người có tài nhưng thường yếu đuối và quá nhạy cảm. Bộ phim thể hiện hình ảnh cô ca kỹ bậc nhất Long Thành – nàng Cầm và đệ nhất thi hào Tố Như là những nghệ sĩ tiêu biểu nhất cho thời kỳ phức tạp đó. Họ đã chịu chung đắng cay, tủi nhục với đồng bào mình. Giữa loạn lạc hai con người tài năng ấy tình cờ gặp nhau, yêu thương nhau, xa nhau, rồi lại gặp nhau. Cuộc đời họ như khúc ca buồn về thân phận con người đã lập trình!

Vì say mê lịch sử dân tộc mà Văn Lê còn quay nhiều bộ phim tư liệu, đặc biệt là thời kỳ đầu đất nước đổi mới. Ông đã xuôi ngược đi thực tế các công trình mới xây dựng, gặp gỡ phỏng vấn nhiều nhà lãnh đạo cao cấp, phản ánh nhiều mặt đời sống xã hội trì trệ, lạc hậu, nghèo khó đang dần thay đổi theo chiều hướng tích cực. Những thước phim ghi dấu ấn lịch sử một thời nhưng có giá trị tư liệu văn hóa mãi mãi.

3. Có một điều ít người biết, dù dựng nên hàng chục bộ phim hay tiểu thuyết đồ sộ nhưng thơ ca vẫn là niềm say mê lớn nhất của Văn Lê. Giải A cuộc thi thơ của tuần báo Văn Nghệ – Hội Nhà văn Việt Nam (1975-1976) với chùm thơ trong đó có bài Tiếng gọi bò vẫn là kỷ niệm đẹp ý nghĩa nhất trong ông so với những giải thưởng khác. Chỉ khi thơ không chuyển tải hết những điều Văn Lê cần cất tiếng thì ông tìm tới các thể loại khác.

Và từ trong thẳm sâu trái tim ông, những vần thơ vẫn vút lên bao điều kỳ diệu, tự hào về lịch sử, văn hóa dân tộc mình, như trong bài thơ Những người làm chủ biển Đông ông viết: “Dân tộc Anh đi qua chiến tranh, đã từng hành quân từ thời tiền sử/ Cái thời chưa rành rọt núi sông/ Cái thời dân tộc anh còn gọi là Lạc Việt/ Nguồn cội sinh ra bởi giống Tiên Rồng”.

Sống đẹp, chết đẹp. Cuộc đời và sự nghiệp văn hóa phong phú, đồ sộ nhưng cũng chịu lắm truân chuyên, bất công của Văn Lê cao hơn mọi giải thưởng, lớn hơn những gì mà người đời đã biết về ông. Văn Lê – người hiền trong tính cách lẫn trong sáng tạo, là một trong những con cháu ưu tú của dòng giống Tiên Rồng đã bay về cùng tổ tiên!

P.H