Diện mạo thơ Việt đầu thế kỷ XXI – Trần Thị Minh Tâm

142

Giờ đây, khi nhìn lại, chúng ta thấy thế kỉ XX là một thế kỉ đầy những biến động to lớn của văn học Việt Nam nói chung, thơ ca Việt Nam nói riêng. Biến động về hệ hình văn học với sự chuyển đổi từ mô hình văn học trung đại sang hiện đại. Biến động về đội ngũ tác giả. Sau thế hệ “những người muôn năm cũ” với những Tản Đà, Á Nam Trần Tuấn Khải là thế hệ Thơ mới, thế hệ nhà thơ thời kháng chiến chống Pháp, chống Mĩ, trong chiến tranh biên giới và rồi tiếp đến thế hệ nhà thơ sinh ra trong hòa bình, độc lập. Biến động về thể loại. Nhiều thể loại đã lui vào ở ẩn trong tháp ngà như Đường luật, song thất lục bát, nhường chỗ cho thơ tự do, trường ca… Trở lại với thực tại, ở cuối thập niên thứ hai của thế kỉ XXI, chắc hẳn sẽ có nhiều người tự hỏi, vậy diện mạo thơ Việt hiện tại ra sao? Đây là một câu hỏi lớn, rất lớn. Trong khuôn khổ của một bài viết, chắc chắn không thể giải đáp hết được. Dưới đây, chúng tôi chỉ trình bày những nét khái lược nhất.


Từ trái sang, các nhà thơ: Trầm Hương, Phan Hoàng, Bang Hyun Suk, Văn Lê, Nguyễn Quang Thiều, Nguyễn Vũ Quỳnh, Phùng Hiệu tại Hội thảo quốc tế “Triển vọng Giao lưu Văn học Việt – Hàn” tổ chức ở TP Hồ Chí Minh 12-2017

1. Thơ Việt những năm đầu thế kỉ XXI đánh dấu sự quay trở lại của cảm hứng dân tộc, khuynh hướng sử thi. Sau mấy thập kỉ phát triển rực rỡ với nhiều thành tựu, sang thập niên 80 của thế kỉ trước, đặc biệt khi bắt đầu thời kì Đổi mới, hiện thực đất nước thời mở cửa với bao bộn bề, lo toan, đói nghèo và lạc hậu đã khiến cảm hứng dân tộc, khuynh hướng sử thi trở nên lạc điệu. Thơ trở về đời thường với cảm hứng thế sự, đi sâu vào thế giới nội tâm nhỏ bé của con người… Đến cuối thế kỉ XX, ít ai còn nói đến cảm hứng dân tộc, thậm chí có người bắt đầu “soạn” lời cáo chung cho khuynh hướng sử thi. Nhưng đến cuối thập niên đầu tiên của thế kỉ XXI, cảm hứng dân tộc có xu hướng trở lại mạnh mẽ. Điều này có nguyên do từ những tác động của hiện thực đất nước. Việc chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc bị đe dọa đã thổi bùng lên chủ nghĩa yêu nước và tinh thần dân tộc, ý chí bảo vệ từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc trong trái tim, trí óc người dân Việt nói chung, các nhà thơ nói riêng. Và như loài phượng hoàng bất tử, vụt bay lên tái sinh từ tro tàn, cảm hứng dân tộc, khuynh hướng sử thi đã trở lại một cách ngoạn mục, nhất là trong các thi phẩm viết về biển, đảo quê hương.

Trong thơ viết về biển đảo, hai địa danh thường xuyên được nhắc đến nhất là Trường Sa và Hoàng Sa. Trường Sa – cái tên thôi cũng đủ thấy sự xa xôi, cách trở. Cứ tưởng Trường Sa chỉ có sóng và gió, cứ tưởng Trường Sa chỉ có đảo đá khô cằn. Nhưng không, Trường Sa trong thơ thật gần gũi, máu thịt, ở đó tiếng chuông chùa thân thuộc vang xa thật bình yên: Hình như tiếng chuông chùa Hoàng Phi thì phải/ Phật linh thiêng không quản nơi xa ngái/ Vượt biển độ trì cho dân đảo cầu an (Cổ tích thời @ – Võ Thị Kim Liên), và tiếng hát trẻ thơ ngoài Trường Sa mà như nghe ở làng quê bên sông Hồng, sông Hậu (Nghe trẻ hát ở Trường Sa – Ngô Minh). Còn nhắc đến Hoàng Sa, mỗi lần nhắc là một lần nhói buốt. Cái tên đó cứa vào lòng người Việt nỗi đau về một vùng chủ quyền bị lấy mất, chạm đến khát vọng khắc khoải một ngày đòi lại được mảnh đất của cha ông: Mộ gió đây/ những phút giây biển lặng/ gió là tay ôm ấp bến bờ xa/ chạm vào gió như chạm vào da thịt/ chạm vào/ nhói buốt/ Hoàng Sa… (Mộ gió – Trịnh Công Lộc). Bài thơ được gợi cảm hứng từ những ngôi mộ gió trên đảo Lý Sơn. Từ xưa đến nay, bao người con đất Việt đã không ngại hi sinh để bảo vệ chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc. Thân xác họ chìm sâu dưới đáy đại dương nhưng khát vọng giữ gìn biển đảo quê hương của họ như đã hòa vào gió, vào sóng. Mọi ánh nhìn vẫn đang đau đáu về hướng đó với nỗi khắc khoải chưa bao giờ nguôi: Nếu Tổ quốc đang bão giông từ biển/ Có một phần máu thịt ở Hoàng Sa (Tổ quốc nhìn từ biển – Nguyễn Việt Chiến).

Khi chủ quyền biển đảo bị đe dọa, ngay lập tức lòng yêu nước, tinh thần xả thân vì lãnh thổ trọn vẹn của đất nước lại bừng trỗi dậy mạnh mẽ: Biển của mình thì mình đem máu xương gìn giữ/ Biển của mình thì mình phải ra khơi/ Buồm căng lồng ngực bạn chài ngân vang câu hát/ Đây biển Việt Nam/ Đây hồn Việt Nam/ Tổ quốc trào dâng cùng biển trời bát ngát (Vọng Hải Đài – Bùi Công Minh). Giọng thơ khi thủ thỉ, khi thúc giục như một lời hiệu triệu. Hình ảnh những người dân chài ra khơi bám biển, không chỉ vì mục đích mưu sinh mà còn để bảo vệ vùng biển đảo thiêng liêng thật mạnh mẽ hào hùng, như hình ảnh những người tráng sĩ hiên ngang ra trước sóng gió. Đó cũng là tư thế của cả dân tộc – một dân tộc có truyền thống bất khuất, kiên cường chống giặc ngoại xâm. Hãy lắng nghe lời tuyên thệ của người lính hải quân: vì Tổ quốc/ chúng tôi là cột mốc/ chúng tôi là trận địa tiền duyên/ chúng tôi là lá chắn/ chúng tôi là bệ phóng/ chúng tôi là chốt chặn xâm lăng (Chúng tôi ở Trường Sa – Nguyễn Hữu Quý). Nó gợi đến lời thề “Sát Thát” trong trận chiến chống Nguyên Mông, lời thề “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh” trong kháng chiến chống Pháp, là âm vang hào khí anh dũng của dân tộc mấy nghìn năm chống ngoại xâm.

Trong thơ viết về biển đảo từ xưa đến nay, người lính hải quân luôn là biểu tượng đẹp đẽ của lòng dũng cảm, tinh thần xả thân vì Tổ quốc. Những vần thơ xúc động nhất là những vần thơ nói về sự hi sinh của các anh. Nguyễn Hữu Quý đã tái hiện kí ức về những đoàn tàu không số, tái hiện những hải trình khốc liệt chi viện cho miền Nam, tái hiện những chuyến đi không hẹn ngày trở về của người lính hải quân năm xưa bằng những câu thơ dữ dội: Trong mơ các anh về/ từ những con tàu đã ngủ quên dưới đáy biển/…/ những hành trình nương vào bão tố/ để che mắt quân thù/…/ lỗ chỗ vết đạn găm/ trục vớt lên những mùa đông/ lặng im cảm tử/ trục vớt lên những mùa xuân không hoa đào nở/ ngổn ngang trời, ngổn ngang biển mây bay (Hạ thủy những giấc mơ). Nguyễn Việt Chiến dựng lại phút giây bi tráng khi người lính lấy thân mình bảo vệ lá cờ trên đảo Gạc Ma: hi sinh ở đảo đá Gạc Ma/ Họ đã lấy ngực mình làm lá chắn/ Để một lần Tổ quốc được sinh ra/ Máu của họ thấm vào lòng biển thẳm (Biển là nơi Tổ quốc sinh ra). Ở một hướng tiếp cận khác, nhà thơ Nguyễn Trọng Văn lại viết về nỗi đau trong thời bình. Khi mọi người đang có cuộc sống bình yên nơi đất liền thì ngoài kia, biển khơi tiếng sóng ầm ào hát ru người chiến sĩ hải quân vào giấc ngủ ngàn năm: Quấn chặt lá cờ/ Vào sát ngực mình/ Bên phía trái tim/ (Vật duy nhất còn lại trên nhà giàn – 2A/DK1/6)/ Đại úy Vũ Quang Chương/ Gồng mình/ Hít hơi thở cuối/ Anh mỉm cười thấy đồng đội đã xuống tàu cứu hộ an toàn/ Anh mỉm cười…/ Một con sóng chồm lên/ Cờ Tổ quốc còn nguyên bên ngực/ Chỗ anh đứng/ Sóng liên hồi kì trận/ Sóng liên hồi/ Từng đợt lại chồm lên/ Anh mỉm cười/- Đâu cũng quê hương/ Biển thẳm sâu, ru anh vào giấc ngủ… (Tổ quốc – đường chân trời). Những người lính ấy, họ đón nhận cái chết một cách tự nguyện và thanh thản. Hình ảnh những người lính lấy thân mình che chắn cho lá cờ Tổ quốc trên đảo Gạc Ma, hay hình ảnh người lính quấn lá cờ quanh mình trước khi phong ba ập xuống nhà giàn là biểu tượng của tình yêu nước bất tử. Hi sinh cho những gì thiêng liêng và cao cả, đó không chỉ là mất mát, đó còn là niềm tự hào.

Bên cạnh những vần thơ về biển đảo quê hương, cảm hứng dân tộc, khuynh hướng sử thi còn xuất hiện trong nhiều trường ca viết về đất nước dặm dài. Trường ca Bước gió truyền kì của Phan Hoàng là một câu chuyện truyền kì về công cuộc mở cõi và giữ nước của dân tộc, đưa người đọc vào một hành trình kì lạ, vừa thực vừa mơ để khám phá những vẻ đẹp của văn hóa, khí phách và ý chí của dân tộc với nhiều cung bậc cảm xúc thẩm mĩ khác nhau. Trải qua hàng ngàn năm, để mảnh đất hôm nay mang hình chữ S, để có chủ quyền trên hải đảo xa xôi là công sức mở cõi của hàng triệu người con đất Việt, hữu danh và vô danh: Ơi lớp lớp người người/ hiên ngang đôi cánh ước mơ chim Việt/…/ Bước gió vó ngựa uy phong Lê Thánh Tôn…/ Bước gió Nguyễn Hoàng/ bước gió Lương Văn Chánh/ bước gió Nguyễn Hữu Cảnh/ bước gió những đoàn quân vô danh/ bước gió những lưu dân vô danh/ bước gió những nghệ sĩ vô danh/ bước gió những mĩ nữ vô danh…/ nhập hồn xóm làng/ nhập hồn sông suối/ nhập hồn núi rừng/ nhập hồn biển đảo… Mỗi một tấc đất đều được đổi bằng máu: máu/ máu/ máu/ mở cõi/ máu/ máu/ máu/ giữ nước. Đã một thời gian dài, trong thơ Việt, người đọc chưa bắt gặp những câu thơ mang âm hưởng tráng ca như thế.

Trường ca Long mạch của nhà thơ Hoàng Trần Cương được cấu trúc thành 11 chương: Khấn thầm, Huyết thống, Nết đất, Hồn sông, Mạch chủ, Thác ghềnh, Quỷ nước, Sấp ngửa, Sông và em, Vía biển, Thế núi, với những hô ứng liên hoàn, thắt mở đầy mê dụ để chỉ khí và thế của đất đai sông núi. Long mạch trước hết là niềm tự hào về thế địa linh của Tổ quốc với núi với sông, đất liền và biển cả: Cứ như là rủ nhau/ Nguồn mạch đất đai nổi chìm đứt nối/ Đứng là núi/ Chảy là sông/ Mênh mông là biển/ Dài rộng đất liền/ Quây bờ xẻ bếnLong mạch cũng là nơi nảy sinh bao điều tốt đẹp, là xứ sở của những người lao động khéo léo và quả cảm: Năm tháng chảy/ Đan tơ dệt lụa/ Hãm thác ghềnh/ Gói bọc đất đai, xứ sở của tình yêu và lòng bao dung: Thành lứa/ Thành đôi/ Vun bồi đắp đổi/ Ngày một ngày hai trổ nụ vươn cành/ Nối li tán/ Ngấm ngầm tụ hội. Long mạch đâu chỉ là thế núi hình sông của đất nước mà còn là vóc dáng tinh thần, tâm hồn của dân nước. Trải qua bao thăng trầm lịch sử, vóc dáng, tâm hồn ấy vẫn lưu truyền, hun đúc nên bản lĩnh của thế hệ hôm nay: Mang dòng chảy/ Chở ngọn nguồn/ Đầy bị/ Ngày đi/ Đêm đi/ Chúng mình đi/ Nước mắt/ Chắt ước vọng/ Nuôi núi sông.

Trường ca Chân đất của Thanh Thảo là những suy cảm của tác giả về quê hương, về Tổ quốc, về nhân dân trong thời cuộc mới. Từ biểu tượng lớn Chân đất tác giả mở ra nhiều hướng để luồng tâm tư trải rộng những vấn đề nhân tình, thế sự qua 9 đoạn thơ với các biểu tượng: Chân tre, Chân ruộng, Chân mưa, Chân núi, Chân cò, Chân tháp, Chân mây, Chân sóng, Chân lũy. Điểm nổi bật nhất trong bản trường ca là những suy ngẫm về nhân dân. Nhân dân nghèo đói nhưng nghĩa tình, nhân dân không gọi nhau “man” này “man” nọ/ nhân dân gọi nhau đồng bào. Từ ngàn xưa, nhân dân đã âm thầm dựng xây đất nước: hình như tổ tiên mình trồng một bụi tre/ trồng một lũy tre/ trồng một rừng tre/ bên dưới thành Châu Sa/ bên dưới Trường Lũy. Và ngày nay, nhân dân đang bền bỉ xây dựng nên Trường Lũy của tình người, của tinh thần bất khuất: cùng mọi người tôi vác đá xây lũy/ cùng mọi người tôi vác tự do vác tình anh em qua lũy/ cùng mọi người tôi ném những trái ngang khỏi lũy/…/ dù chân lũy tới chân trời/ xa lắc chơi vơi/ chúng tôi đi/ dè dặt/ chúng tôi đi/ từng bước. Chân đất là một bản giao hưởng ngôn từ bi tráng và kiêu hãnh về một dân tộc đã đứng lên từ nước mắt và máu để dựng lên nhân cách sống của mình suốt chiều dài lịch sử.

Sự trỗi dậy của cảm hứng dân tộc, khuynh hướng sử thi trong các vần thơ viết về biển đảo quê hương và non sông đất nước đầu thế kỉ XXI đã thể hiện trách nhiệm công dân của các nhà thơ trước những vấn đề trọng đại của dân tộc, qua đó chứng minh chủ nghĩa yêu nước vẫn luôn là một “đại tự sự” xuyên suốt lịch sử thơ ca Việt từ xưa đến nay.

2. Thơ Việt những năm đầu thế kỉ XXI phản ánh những vấn đề quan thiết của nhân loại trong thời đại toàn cầu hóa. Thế kỉ XXI được bắt đầu bằng cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư (cách mạng 4.0) diễn ra từ những năm 2000, còn gọi là cuộc cách mạng số chuyển hóa toàn bộ thế giới thực thành thế giới số. Một thế giới số – bản sao của thế giới thực – đã và đang hình thành, thâm nhập vào đời sống của mỗi công dân đương đại. Nền văn minh hậu công nghiệp đem lại cho con người cuộc sống tiện nghi, nhưng mặt trái của nó là nhân loại mải mê với những phát minh, những cuộc chinh phục nên không bao giờ yên ổn: Nhân loại tỉnh thức/ Nhân loại cuồng say tạo dựng, săn lùng và tàn phá/ Nhân loại thức công nghiệp/ Nhân loại thức điện tử/ Nhân loại thức bay ra ngoài trái đất/ Nhân loại thức không bao giờ ngủ được nữa(Giấc ngủ màu xanh – Lương Tử Đức). Sự gấp gáp của nhịp thơ cũng là nhịp sống hối hả của thời đại hậu công nghiệp, đồng thời thể hiện sự hoảng hốt của con người trước một nhân loại không bao giờ ngủ – một ẩn dụ cho sự thiếu cân bằng trầm trọng giữa đời sống vật chất và đời sống tinh thần. Sự trơ lì cảm xúc đã trở nên báo động, như một thảm họa tàn khốc chẳng kém thảm họa thiên nhiên: Người ta đang lí giải El Nino thiên nhiên/ Mà lãng quên một El Nino xoay vần nhân tình thế thái/ Sự tiến hóa làm con người xa nhau hơn/ Thậm chí có ít thời gian để cười và càng ít khóc (Đôi mắt lửa Puskin – Vi Thùy Linh). Sự tiến hóa làm con người xa nhau hơn là một mệnh đề không mới, nhưng khi Vi Thùy Linh viết Thậm chí có ít thời gian để cười và càng ít khóc thì người ta phải ngạc nhiên vì sự già dặn và tinh tế của một cô gái tuổi mới đôi mươi. Trong một bài phát biểu, thiên tài vật lí người Anh Stephen Hawking đã cảnh báo trí tuệ nhân tạo sẽ hủy diệt loài người. Nhưng có lẽ, loài người đã tự hủy diệt mình sớm hơn thế, từ cái ngày mà loài người phá hủy hệ cân bằng sinh thái, từ cái ngày loài người chối bỏ những xúc cảm buồn, vui, yêu, ghét vốn là đặc trưng cao quý của giống loài mình. Những dự đoán về tương lai bất ổn càng ngày càng xuất hiện nhiều trong thơ: Tôi nằm lo một cái gì như thể/ Một tai ương sắp dội xuống phàm trần (Nhớ tiếng mèo ngõ vắng – Ngô Xuân Hội); Giật mình muốn hỏi Thượng Đế/ Ô nhiễm, bão lụt… quá nhiều/ Chẳng hay ngài cho Trái Đất/ Nhiệm kì này còn bao nhiêu? (Trò chuyện với Thượng Đế – Trần Ninh Hồ).

Soi chiếu vào thực trạng đất nước trong thời đại hậu công nghiệp và toàn cầu hóa, các nhà thơ đặc biệt chú ý đến việc phơi bày những mặt trái của xã hội hiện đại. Như trên đã nói, cảm hứng hiện thực trở lại với thơ từ khi kết thúc chiến tranh nhưng chủ yếu đó là hiện thực đói nghèo, lạc hậu. Ngày nay, mặt trái của thời kì đô thị hóa, của thời đại kĩ trị còn khủng khiếp hơn thế: Đồ vật ngày lên ngôi, hư vinh cũng chòi lên/ căn phòng chật tiếng cãi cọ các thế hệ công nghệ/ ti vi siêu mỏng, điện tử thời đại số/ tình cảm hóa thân những cuộc chát và tin nhắn (Đồ vật – Trần Quang Quý). Giàu có về vật chất làm con người nghèo nàn đi về tâm hồn. Con người tách mình ra khỏi thiên nhiên, dửng dưng trước vẻ đẹp của thiên nhiên màu lá non tơ ngoài phòng lạnh (Nhật kí cuối thế kỉ – Tuyết Nga), thậm chí còn hủy hoại thiên nhiên: Đừng hát nữa mà đau/ em ơi Hà Nội phố/ Ôi thôi thôi/ Cây đã về với kiếp tro than/ Người ở lại cùng lời nức nở! (Văn điếu cây Hà Nội– Vương Trọng).

Chạy theo công nghệ, con người bỏ rơi giá trị văn hóa truyền thống: Trăng lang thang ngoài bến sông Hồng/ Tìm lời ru những người mẹ trẻ/ Nhưng lời ru đã chết sau màn hình đa hệ/ Trăng ôm vào lòng đứa trẻ mồ côi (Nỗi buồn đô thị – Nguyễn Trác). Tách ra khỏi những cái nôi nuôi dưỡng tâm hồn, trái tim trở nên khô cằn không thể đón nhận âm vang cuộc sống, trái tim hóa thành vách đá/ tiếng vọng sượt qua/ rơi/ lả tả(Vách đá – Lê Quốc Hán). Thói vụ lợi biến con người thành kẻ vô tình: Tôi quên lãng những bông dạ hương trước một loài hoa hướng dương/ Tôi lãng quên những cây đại thụ khi ngồi trên sập gụ tủ chè (Quên lãng – Nguyễn Tấn Việt) và là kẻ giết người: Một góc phố một hiệu kim hoàn bị phá cửa/ Và trong quán rượu một người say đâm chết một người say (Đoản ca buổi tối – Nguyễn Quang Thiều). Mỗi câu thơ trên là một tiếng nói cảnh tỉnh sự tha hóa, vô cảm của con người.

3. Thơ Việt những năm đầu thế kỉ XXI lặn sâu vào thế giới nội tâm, truy tìm cái tôi cá thể và cái tôi bản thể, khai thác miền tâm linh. Thơ cách mạng vì điều kiện hoàn cảnh không thể là tiếng nói của cái tôi cá thể, càng không thể là tiếng nói của cái tôi bản thể và đi vào những đề tài nhạy cảm như tâm linh, vô thức. Chỉ khi chiến tranh qua đi, đặc biệt là sau Đổi mới, những nhu cầu nói trên mới trở nên mãnh liệt. Thơ Việt những năm đầu thế kỉ XXI đã tiếp tục mạch thơ này vắt sang từ những thập niên cuối của thế kỉ XX.

Cái tôi cá thể hiện nay đang được khẳng định như một giá trị. Đó là nhu cầu ý thức về mình, xác định chỗ đứng của mình trước thế giới và trong các quan hệ xã hội, cá nhân. Trước hết cá thể đó thể hiện ngay trong cái tôi sáng tạo của mỗi nhà thơ. Trong xu hướng đổi mới chung, mỗi nhà thơ hiện nay nỗ lực tìm tòi cho mình một hướng đi riêng, mang đậm dấu ấn cá nhân của một cái tôi đa chiều kích, đầy kiêu hãnh và độc lập. “Rời khỏi bầy đàn” trở thành tuyên ngôn chung cho cả một thế hệ nhà thơ, xác lập một tâm thế độc mã trên hành trình sáng tạo: Anh là con cá miệng dàn dụa trăng/ Rời bỏ bầy đàn quẫy vào biển động (Ngậm em trong miệng – Mai Văn Phấn); Tôi bứt khỏi tập thể/ Câu thơ bứt khỏi máu còn nguyên rễ (Giác quan ánh chớp – Nguyễn Hữu Hồng Minh). Nếu cái lạc lõng của các nhà Thơ mới là do bị đẩy ra khỏi bầy đàn thì cái lạc lõng của các nhà thơ đương đại là do họ chủ động lựa chọn, chấp nhận cô đơn, thậm chí quay lưng lại tập thể để xác lập một tiếng nói riêng. Cái tôi sáng tạo của thơ đương đại gai góc, nổi loạn một cách bản lĩnh. Bởi vậy đặc trưng của thơ cách tân đương đại là không dựa vào bất kì chuẩn mực nào, tự vươn tới những chân trời cao rộng của sáng tạo, bứt phá khỏi mọi khuôn mẫu giá trị cũ để tìm một không gian sáng tạo mới, như chú ngựa non vùng thức dậy chạy trên thảo nguyên bao la: Thức dậy đi hỡi chú ngựa non của lồng ngực trẻ/ Thức dậy và tung bờm cất vó/…/ Thức dậy, dẫm chân và lắc đầu kiêu hãnh/ Trước những yên cương rực rỡ sắc màu/ Thức dậy để uống sương mai/…/ Thức dậy đi ơi chú ngựa/ Đã ngủ sâu trong đáy tim nhiều năm tháng (Bài ca ngựa non – Trần Lê Sơn Ý).

Hiện tượng lấy tên mình đặt cho một bài thơ, một tập thơ không còn là hiếm (Trang Thanh – Trang Thanh, Vili in love – Vi Thùy Linh…), như một cách khẳng định cái tôi ngay từ tiêu đề tác phẩm. Con người ngày nay có khát vọng tạo dựng một chân dung riêng biệt của mình trong thơ. Đó có thể là chân dung ngoại hình: tôi nhìn/ tôi/ trán dô cằm nhọn má cao/ nhân trung sâu/ thọ đau kiếp nạn/ mím môi/ không sẻ cho người (Trang Thanh – Trang Thanh). Nhưng quan trọng hơn cả vẫn là chân dung tinh thần. Cái tôi cá thể dám làm và dám chịu trách nhiệm về những việc đã làm, cho dù đối lập với tất cả: Tôi phóng sinh tất cả khỏi lề thói/ Lao vào đêm ca hát những điều tôi thích/ Trong sự bất cần của những mặt nạ lặng câm/ Trong sự ồn ĩ của những mặt nạ phản đối (Bay lặng im – Trang Thanh).

Trong thơ hôm nay chúng ta còn gặp những lời tự bạch của người chơi như một cách khẳng định cá tính. Người chơi ở đây được hiểu là người có lối sống tự do, phóng khoáng, thích rong chơi không vướng bận với đời. Người chơi không phải là xa lạ đối với thơ Việt Nam. Thời trung đại, trong khuôn phép ngặt nghèo của Khổng giáo vẫn đã xuất hiện những nhà nho tài tử với triết lí hành lạc mà Nguyễn Công Trứ, Phạm Thái, Tản Đà là những tên tuổi tiêu biểu. Trong Thơ mới có những chàng thi sĩ mộng mơ: Tôi chỉ là một khách tình si/ Ham vẻ đẹp của muôn hình muôn thể (Cây đàn muôn điệu – Thế Lữ). Người chơi vắng bóng trong thơ cách mạng vì nó lạc lõng trong điều kiện chiến tranh. Sau 1975, khi cuộc sống trở về bình thường, người chơi trở lại trong thơ. Nếu như trong thơ 1975 – 2000, chơi có thể là một thái độ phản ứng lại những phi lí của cuộc đời: Rong hồn vào cõi chơi vơi/ Quên mình khổ hạnh, quên đời nhiễu nhương (Rượu tha hương – Lương Định), hoặc là một cách khẳng định cá tính đối lập với cuộc sống khuôn mẫu, buồn tẻ thì trong thơ đầu thế kỉ XXI, hình tượng con người chơi mang một vẻ đẹp mới. Con người chơi hiện nay không ở tư thế đối lập với hoàn cảnh, môi trường sống mà ở tư thế vượt lên hoàn cảnh, đạt đến độ ung dung, tự tại: Có lẽ không gì vui sướng/ Bằng đi cho hết chiều thanh/ Có lẽ không gì tự tại/ Bằng nay ta sống riêng mình (Tự tại – Phạm Văn Đoan). Chơi đối với họ vừa để khẳng định cá tính riêng không giống ai, vừa để khám phá những vẻ đẹp muôn màu của cuộc sống: Ta/ kẻ ăn sương đường phố/ Vẻ đẹp đêm/ Trăng chếnh choáng lên men/ Nhịp điệu màu nguyên thủy mê man/ Hồn hát cùng thân xác/ Muốn rủ cả bóng ma cậy nắp ván rong chơi/ Gõ phách bầu trời/ Tình tang cây cỏ bị bỏ rơi (Dạ ca – Trương Thị Kim Dung).

Không chỉ đi tìm mình trong quan hệ với thế giới, con người còn đào sâu vào cái tôi bản thể để phát hiện ra những mặt khác nhau của cái tôi. Với Cát Du, khát vọng đi tìm cái tôi bản thể lại khởi đi từ những câu hỏi mang tính bản thể luận của nhân loại như nhà thơ tự bạch: Ta từ đâu tới?/ Tới để làm gì?/ Ta sẽ về đâu?(Nàng). Cái tôi bản thể trong thơ Nguyễn Quang Thiều lại được khai thác ở một dạng khác. Trong Cây ánh sáng, nhà thơ băn khoăn truy tìm bản thể mình: Chàng là ai? Chàng sinh ra trên thế gian này với sứ mệnh gì? Trong hành trình đi tìm câu trả lời cho những câu hỏi đầy tính hiện sinh ấy, Nguyễn Quang Thiều hình dung thi sĩ như một hỗn thân với bao đối cực kiểu cái tôi đa ngã: con côn trùng, con lạc đà, con đại bàng, con sói, con đỉa khổng lồ, ngôi sao cô độc. Rồi cuối cùng, theo lối quy nạp, các mảnh ẩn dụ ấy được quy tập về trong cặp đối cực gốc là phần sáng và phần tối: Mi là ta bóng tối và ta là mi ánh sáng. Cả hai phần sáng tối ấy hợp lại làm nên cái tôi bản thể của thi sĩ với những đối lập: Một kẻ là chàng ánh sáng và một kẻ là chàng bóng tối/ Một kẻ ngập tràn ánh sáng và miệng chứa đầy ngôn ngữ minh tuệ/ Một kẻ ngồi trên chiếc ghế hành hình ngập bóng tối tự trừng phạt mình, chỉ trái tim không ngơi nghỉ dội vang. Xét cho cùng, có lẽ không chỉ riêng thi sĩ mới có cái tôi đa ngã, mà trong mỗi con người chúng ta đều có một cái tôi khác bị ẩn giấu, cho nên đôi khi không hiểu rõ chính mình.

Đi tìm cái tôi bản thể là một bước tiến của ý thức cá nhân, ở đó con người đã khám phá mình đến tận cùng và đưa thơ đến một chiều kích khác của tính nhân bản. Đi sâu vào thế giới nội tâm của con người, tất yếu đến một lúc nào đó thơ sẽ chạm đến thế giới tâm linh. Sang đầu thế kỉ XXI, đời sống tâm linh xuất hiện đậm đặc trong các tác phẩm của Tuyết Nga, Phạm Thị Ngọc Liên, Mai Văn Phấn…

Thơ Mai Văn Phấn ngập tràn yếu tố tâm linh. Đó là một thế giới đầy bí ẩn được tạo nên chủ yếu bởi những linh giác, trực giác với cảm quan tôn giáo đậm nét. Đọc thơ Mai Văn Phấn, đôi khi ta bắt gặp một không khí đậm chất liêu trai. Nhà thơ đã mang đến cho người đọc trạng thái rùng rợn khi kể về một ông khách xuất hiện trong ngôi nhà của mình, trò chuyện với mình thực chất là một bóng ma: Pha xong ấm trà/ Quay ra/ Ông khách không còn ở đó/ Gọi điện thoại/ Người nhà bảo ông ấy mất đã bảy năm. Chủ nhà tưởng mình nhầm lẫn, nhưng không phải, sau khi anh ta ra ngoài và về lại nhà thì: Trong nhà/ Trà vẫn nóng/ Đẩy chén nước về phía ông khách đã ngồi/ Luồng tử khí cao chừng một mét sáu dựng đứng trước mặt/ Chốc lại cúi gập (Vẫn trấn tĩnh tiễn khách ra ngõ). Nhà thơ có một niềm tin mãnh liệt vào sự tồn tại của thế giới linh hồn – một thế giới tồn tại vô hình, song hành cùng thế giới người sống và người sống có thể giao cảm với linh hồn bằng linh giác: Theo ngọn gió mở cánh đồng buổi sớm, ùa vào những căn phòng lẫn bụi và ánh sáng, lau mồ hôi vừa tắm gội giấc mơ/ Và như thế, cội nguồn trong gang tấc, lúc quay về là đi hết đời mình, hay chờ luân hồi trở lại kiếp sau/ Những linh hồn kia chưa kịp đầu thai, đang ngưng lại nơi không gian thờ phụng, bay lửng lơ rồi nấp vào bái vật giáo bất động… (Bức ảnh, trái cây và giấc mơ). Cảm quan Phật giáo cũng thể hiện rõ trong Những ngôi chùa trong đêm của Nguyễn Việt Chiến. Triết lí nhà Phật hòa quyện cùng những giá trị tinh thần cao quý của dân tộc – sự nhẫn nại, bao dung và lạc quan: Tiếng hát đều đều và chậm rãi của người/ Như nước chảy trong đá/ Như trăng soi trong đá/ Như máu thức trong đá/ Tiếng hát mệt mỏi và tha thiết của người/ Đưa bàn tay lại gần một bàn tay/ Đưa ánh mắt lại gần một ánh mắt/ Đưa con người lại gần một con người. Giọng thơ trầm đều, da diết, lắng sâu triết lí. Đây không chỉ là thơ mà còn như một khúc kinh cầu.

Để thể hiện sự mơ hồ, huyễn hoặc của thế giới tâm linh, các tác giả thường xây dựng không gian giấc mơ. Mai Văn Phấn thể hiện niềm tin đặc biệt vào sự ban phát của giấc mơ như một vị cứu tinh: Như bao muông thú/ Tôi lớn bằng giấc mơ/ Của ánh bình minh/ Của cơn mưa/ Bầy sao sa/ Trái đất/…/ Bình minh vắt ngang ngực/ lúc tôi bắt đầu hành thiền (Tĩnh lặng). Không gian giấc mơ được nhà thơ phát huy một cách cao độ trong tưởng tượng, giả định. Đó là những câu chuyện phi logic, hoang tưởng từ Chỉ là giấc mơ, Kể lại giấc mơ đến Giấc mơ vô tận. Dương Kiều Minh thì xây dựng không gian chập chờn giữa thực và ảo, ở đó những hình ảnh, mảng màu được gọi về từ cõi tâm linh. Trong không gian giấc mơ huyền ảo ấy “anh” thấy mình nhảy nhót như con thú hoang: Trong giấc mơ có anh/ Bên em không hề biết/ Anh xoài mình khắp những tán cây/ Con dốc ven hồ/ Vạt hoa trinh nữ/ Con thú hoang nhảy nhót trong mơ (Em đừng thức giấc). Trong thơ Dương Kiều Minh ranh giới giữa quá khứ và hiện tại, giữa mơ và thực rất mong manh, là sự hòa trộn hiện thực và kí ức. Kết cấu đồng hiện, liên tưởng đa tuyến là kết cấu chủ đạo. Trí tưởng tượng và những giấc mơ cũng tràn ngập trong thơ Nguyễn Quang Thiều (Trong giấc ngủ muộn, Nhịp điệu châu thổ mới, Âm nhạc...), trong thơ Phạm Thị Ngọc Liên (Giấc mơ, Giữa khuya có một giấc mơ, Ngủ mơ)…

Miền tâm linh, vô thức trong thơ hiện nay là sự tiếp nối mạch thơ mở ra từ sau Đổi mới nhưng thể hiện một cách sâu sắc hơn. Có thể nói, khi đi vào thế giới tâm linh thơ càng có giá trị nhân bản.

Trên đây là những “nét lớn”, cơ bản nhất của diện mạo thơ Việt đầu thế kỉ XXI. Bên cạnh những nét lớn, việc đi sâu tìm hiểu những “nét nhỏ” nhằm cụ thể hóa, tường minh hóa diện mạo thơ Việt trong khoảng hai mươi năm đầu thế kỉ XXI cũng là điều rất cần thiết vì đây là quãng thời gian đủ dài cho công việc tổng kết. Tuy nhiên đó sẽ là nội dung của nhiều bài viết khác.

Theo Văn nghệ Quân đội