Đò xưa – Bút ký của Phương Đình

1250

(Vanchuongphuongnam.vn) – Tôi nhớ lại cả một thời xưa, sau những ngày về quê trở ra tỉnh học, tôi thường được ba tôi cho đi đò đạp. Không như chiếc đò dọc hiền lành, ngày đêm cần cù chạy suốt những quãng đường dài lăng lắc xa. Cũng chẳng giống chiếc đò ngang trong cảnh gió mưa gan góc lao mình ngang những con sông rộng mênh mông chập chùng sóng bão. Đò dọc, đò ngang di chuyển bằng máy hoặc bằng chèo người ta thường thấy. Chiếc đò đạp, mang ý nghĩa theo phương cách vận hành, dựa vào sức người và kỹ thuật thô sơ. Chỉ thế hệ những người cao tuổi, sống cách đây sáu, bảy thập niên mới biết.

Thân đò đạp không giống chiếc ghe chài nặng nề hay ghe lường dễ hay lúc lắc hoặc ghe bầu ục ịch. Trông hao hao chiếc chẹc (1), dài khoảng dưới 20 m, ngang chừng 3 m, chiếc đò đạp có mui thường dùng để di chuyển đường xa trên sông nước miệt vườn. Mui đò bằng gỗ và thiếc, phẳng phiu phủ trùm gần hết thân để chất hàng hóa nhẹ hoặc cho khách ngồi thêm trường hợp các băng trong đò hết chỗ. Trong đò, cặp sát thành mui gỗ hai bên từ mũi tới lái là hai dãy băng liền đủ cao dành cho hành khách ngồi để chân thoải mái lúc đò đi suốt quãng đường dài. Khoảng giữa hai dãy băng đó là những dãy ghế ngồi cho khách dàn ngang giống như trên xe hơi choán gần hết khoảng không gian rộng lớn bên trong mui đò Trên sạp gỗ mặt bằng còn trống phía sau, dành để hàng hóa nặng, gà vịt hay túi giõ đựng đồ lặt vặt như trái cây…; có những chiếc ghế thấp cỏn con làm chỗ ngồi súp khi hành khách quá đông như trên các ô-tô đường bộ.

Đò đạp di chuyển nhờ một bộ phận thiết kế thô sơ gồm một trục trái khế to, chắc chắn mang 4 cánh quạt thiếc rộng quay liên tục đùa nước lại phía sau, đẩy con đò đi tới trước. Trục quay này đặt tại một khoảng trống khoét lũng nơi đáy đò, nằm ở vị trí cách khoảng 1/3 thân đò tính từ lái. Bốn lực điền khỏe mạnh đứng mỗi bên đầu trục 2 người, tay họ vịn vào các thanh sắt gắn chặc ở nóc đò. Họ dùng sức mạnh của thân người và đôi chân khỏe đạp liên tục và cộng hưởng nhau vào các trục phụ nhô ra từ trục trái khế, nên gọi là đò đạp. Chủ đò, ngồi trong mui sát vách trái gần mũi đò, chỉ huy chung và thu tiền vé. Từ trước mũi và sau lái đò, hai thanh niên khác luôn túc trực với hai cây sào tre rắn chắc chống chỏi hỗ trợ, cho đò cập bến mỗi khi có hành khách gọi đò. Mũi sau lái đò là một bánh lái to có tay cầm do một người điều khiển đò qua lại hay cập bến.

Nhà tôi gần ngả ba rạch Cái Tắc – kênh Mười Thới, cách chừng 3 cây số tới chợ xã Tân Quới, nơi có chiếc đò đạp Hữu Nghĩa là sở hữu phương tiện lưu thông sông nước đặc biệt của chú Chệc Sum (2), một người Hoa Kiều từng sinh sống lâu năm tại địa phương. Đò đạp Hữu Nghĩa đã hoạt động đều đặn gần mười năm tính tới thời điểm lúc bấy giờ, với mục đích đưa khách, chở hàng mỗi ngày từ chợ Tân Quới đến thành phố Cần Thơ. Tại bến đò chợ xã quê tôi lúc bấy giờ không thấy đò đưa khách chạy bằng máy mà chỉ có toàn loại đò chèo và duy nhất một chiếc đò đạp của Chệc Sum mà thôi.

Thế là giã từ những ngày hè tự do vui hưởng nhiều thú quê hồn nhiên trong sáng, tôi sắp sửa về thành phố tiếp nối việc sách đèn. Trở lại Tây Đô lần này, tôi được ba tôi cho đi đò đạp.

Sáng hôm ấy, một sáng lành lạnh sương đêm và hắt hiu gió sớm, tôi được ba tôi đánh thức dậy ngay lúc trời đêm còn văng vẳng tiếng vạc kêu sương. Lót lòng xong chén cơm nguội hấp lại do má tôi làm, ba tôi giục giã chuẩn bị sách vở, hành trang cùng người xuống xuồng để má tôi nhân đi bán rau cải đưa ra chợ cho kịp chuyến đò khuya.

Bầu trời đêm rạng dần với vầng sao mai vừa lố dạng ở phương đoài. Bóng những tán sao cổ thụ cao vút tại góc doi đình làng nơi ngả ba sông in lờ mờ lên không gian còn tối đen như mực.

Trên bờ, cảnh chợ quê bắt đầu sinh hoạt nhộn nhịp, ồn ào với những tiệm tạp hóa bắt đầu mở cửa, đèn sáng lập lòe. Mấy chủ sạp hàng tươi sống ngoài trời bán trái cây, gà vịt đốt đèn chống bão làm bằng mo cau hoặc đèn bánh ú dầu lửa loay hoay bán hàng cho vài người khách đi chợ sớm.

Dưới sông, từng đoàn ghe xuồng chở đầy ắp trái cây, rau cải, gà vịt từ các ngả sông quê lũ lượt đổ ra chợ, lần lượt cập bến dưới màn đêm lù mù. Tiếng nói xì xào của người đi ra chợ quyện lẫn tiếng mái chèo khua lạch cạch, tiếng mái dầm chặt nước lách chách, tạo nên những âm thanh vui tai quen thuộc của bến nước chợ khuya.

Không đợi khách ngồi đầy băng ghế, Chệt Sum nhoài người ra trước mũi đò lên tiếng:

– Khởi hành được rồi các chú em!

Tiếng nói hồ hởi dõng dạc của chủ đò như mệnh lệnh thủ trưởng, anh thanh niên vóc dáng to lớn đằng mũi răm rắp thi hành. Anh nhanh nhẹn tháo chiếc lòi tói buộc ở cột gỗ cạnh bến đò gần bờ, cuốn gọn gàng lên mũi đò, tiếng xích sắt tạo nên một âm thanh rổn rảng trong đêm khuya. Rồi anh vội vàng giữ lấy thế như một võ sĩ đứng tấn, vói tay rút chiếc sào tre từ trên mui đò. Đợi người nữ hành khách cuối cùng trọng tuổi, tay dẫn một em bé tay xách giỏ hàng hấp tấp chân vừa bước hẳn xuống đò với đứa nhỏ, anh ta cầm sào, gồng lấy sức chõi mũi đò rời bến. Chiếc đò bớt loi choi, trở nên đằm thắm do một phần trọng lượng hàng hóa và hành khách đã có trên đò.

Chiếc đò đạp lầm lì rời bến, từ từ chuyển hướng ra gần giữa sông theo tác động đều đặn của những cặp chân gân guốc, cuồn cuộn bắp thịt như lực sĩ thể hình của mấy anh lực điền. Tiếng cánh quạt chặt nước lỏm bỏm quyện lẫn tiếng nước rỏ róc rách từ cánh quạt, tiếng nói chuyện lào xào của con người xen lẫn tiếng kêu gà vịt quang quác, tạo thành một âm thanh quen thuộc với thính quan hành khách đi đò. Dưới trời đêm xám xịt, sông Trà Mơn rộng mênh mông càng thêm trầm mặc, lấp lánh ánh sao khuya trên mặt nước lăn tăn gợn sóng, cắt một vạch dài ẻo lả giữa hai bờ sông san sát bóng dừa, bóng xoài hiền lành đứng lặng trong đêm. Bỗng có tiếng gọi đò í ới văng vẳng từ trên bờ, Chệc Sum chăm chú lắng nghe, rảo mắt nhìn:

– Bên phải có người đi đó các chú! Chệc Sum lên tiếng. Giọng nói lanh lảnh của người chủ đò vọng lên trong đêm khuya thanh vắng.

Trên một bờ sông lố nhố ngọn cây chìm trong biển đêm, ánh đuốc lá dừa khô lập lòe huyền ảo như bóng ma trơi, soi rõ bóng mấy chị hành khách thường ra vào thành phố vốn là bạn hàng quen của Chệc Sum. Sau đuôi đò, anh lái giật mình từ cơn ngủ gà ngủ gật, vội lấy hết sức bẽ lái lách mình tránh đống chà loi ngoi cành khô trên mặt sông gần bờ, điều khiển cho đò đi về hướng bờ sông nơi có tiếng gọi của hành khách. Các lực điền bên trong mui đò có dịp lơi chân đạp, với sự hỗ trợ của hai thanh niên trách nhiệm cầm sào ở trước mũi và sau lái, chiếc đò nặng nề, ngoan ngoãn cập bờ đón khách…

Chiếc đò lại hì hục tiếp nối cuộc hành trình đêm trên quãng đường xa, thỉnh thoảng ghé lại đón khách từ hai bờ sông. Đến vàm sông Trà Mơn mở rộng như miệng con sấu há to, bình minh rạng hồng một phía bầu trời bên trái sông Hậu, chiếc đò chạy cặp bờ sông đến chợ Mới gần bến phà mới bắt đầu vượt sông. Đò đến bến Ninh Kiều – Cần Thơ thường vào lúc trời đã sáng tỏ, thành phố bắt đầu thức dậy với buổi sinh hoạt chợ sáng nhộn nhịp ồn ào như thường ngày. Khoảng 1 giờ chiều, đò Hữu Nghĩa chuẩn bị trở về chợ Tân Quới.

Ngày nay, sự phát triển thần tốc của công nghệ cơ khí trong thời đại kỹ thuật số với phương tiện ưu việt như tàu cao tốc, phi cơ siêu thanh, phi thuyền hiện đại giúp con người không mất nhiều thời gian đi lại một cách diệu kỳ. Mọi người trên thế giới có đủ điều kiện để hưởng lấy sự thoải mái trong các kiểu du lịch thượng thặng với muôn vàn tiện nghi. Nhưng làm sao tôi có thể quên được lần đi lại bằng phương tiện thô sơ, ngập tràn kỷ niệm thơ mộng êm đềm trên chuyến đò đạp năm xưa, gắn liền với hình ảnh thân yêu của ba mẹ,anh chị suốt cả cuộc đời hy sinh tận tụy vì tôi!

Phương Đình

(1) Chẹc : một loại ghe giống như chiếc phà, không mui, lòng phẳng, rộng dùng để đưa ô tô, xe máy, vật nặng lẫn hành khách qua sông.

(2) Chệc: tiếng lóng như Ba Tàu, chỉ người Trung Quốc sống lâu năm tại Việt Nam