Giáo sư Lê Trí Viễn – Hậu duệ của nòi văn

392

TSKH Bùi Mạnh Nhị

(Vanchuongphuongnam.vn) – Giáo sư, Nhà giáo nhân dân Lê Trí Viễn là học giả, nhà giáo, nhà văn cả nước biết tên. Ông đã có hơn nửa thế kỷ đào tạo các thế hệ học trò từ cấp phổ thông trung học đến cấp tiến sĩ, 15 năm làm chủ nhiệm khoa Ngữ văn trường Đại học Sư phạm, là tác giả của 43 tập giáo trình, giảng văn, chuyên luận… Giáo sư Lê Trí Viễn đã được Chủ tịch nước trao tặng Huân chương Lao động hạng Nhất (năm 1998) và Giải thưởng Hồ Chí Minh về khoa học, văn hóa, nghệ thuật (năm 2012)… 

Giáo sư Lê Trí Viễn

 Khu K300 đường Cộng Hòa, TP. Hồ Chí Minh bát ngát nhà cao đường rộng. Ông qui hoạch chơi khăm: trước mặt dãy A, ông gọi tên dãy K; quanh góc đi thẳng, ông đóng biển dãy C; vòng lại một chút, ông đổi thành dãy F.

Bữa nọ, có cụ già tóc bạc phơ đã non nửa buổi quẩn quanh tìm nhà Giáo sư Lê Trí Viễn. Hỏi một cô gái, cô tròn mắt ngạc nhiên:

– Ông ơi! Ông già thế này mà còn đi tìm thầy? Đường này chẳng có thầy nào cả!

Rồi cô sập cửa lại.

Đi tìm nhà Giáo sư Lê Trí Viễn ở khu đất nhà binh đặt số nhà theo kiểu lộn tùng phèo, giữa Sài Gòn bao la hơn một ngàn đường phố, cứ như rơi vào tổ nhện. Vậy mà, ông già tóc phủ trắng như sương kia cũng kiên nhẫn dò ra. Và căn nhà H19, bây giờ mới đổi lại thành số 68 đường A4, ngày nào cũng nhiều học trò từ nhiều nơi, mọi cương vị, lứa tuổi, nghề nghiệp tới.

Giáo sư Lê Trí Viễn đã vượt qua ngưỡng tuổi 90. Người thầy nhỏ, thanh, mắt và dáng đi còn rất trẻ. Năm 1980, thầy được nhà nước phong hàm Giáo sư bậc cao nhất. Năm 1988, thầy vinh dự được nhận danh hiệu Nhà giáo nhân dân. Con đường dạy học, viết văn của thầy trong sáu thập niên qua là cuộc hành trình qua bao nhiêu chặng đường đất nước, bao nhiêu mái trường, bao nhiêu cảnh ngộ, cả gian truân và hạnh phúc, vừa làm vừa tự học. Thầy bước vào nghề giáo học từ trường Trung học Khải Định (Huế). Rồi dạy ở Quảng Bình, Hà Tĩnh, Bình Định, Quảng Ngãi. Dạy văn ở bậc chuyên khoa. Hòa Bình (1954), thầy dạy ở Đại học Bắc Kinh, sau đó về xây dựng khoa Ngữ văn Đại học Sư phạm I Hà Nội. Sau ngày giải phóng miền Nam ít năm, thầy xin bà Nguyễn Thị Bình (là Bộ trưởng Bộ Giáo dục lúc ấy) về giảng ở khoa Ngữ văn Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh.

Lũ học trò chúng tôi ai cũng phục và khiếp sức làm việc của thầy. Thầy dạy chúng tôi phải biết tìm thời gian làm việc theo cách của chàng trai đang mê người yêu. Rảnh dù ít phút, là đọc, là viết. Ngồi trên xe đi công tác, tôi cũng thấy thầy chăm chú đọc. Thầy giữ sức ghê lắm, để làm việc: tập thể dục rất đều; không trà, không thuốc, không rượu; đâu như cánh chúng tôi, nghiện nhiều thứ. Hồi viết chung công trình, tôi đã thử âm thầm thi “ngồi lì” với thầy nhưng đến tiếng đồng hồ thứ bảy thì đành vái cụ, bỏ cuộc. Lần khác, vượt hàng trăm cây số đường trường, lại là đường xấu, từ Sài Gòn đến tận Rạch Giá, xuống xe mấy anh to xác, tốt mã nhất đều phờ phạc, riêng thầy phăng phăng vào phòng họp làm việc ngay.

Giáo sư Lê Trí Viễn nổi tiếng là người làm việc rất nghiêm. Hồi là Chủ nhiệm khoa, thầy “chấm bài” ngay trên đơn xin nghỉ học của sinh viên, gạch những sai sót về chính tả, câu, chữ và bắt người làm đơn viết lại. Viết sai lần hai thì không giải quyết đơn ấy nữa. Các học viên sau đại học bây giờ cũng khiếp thầy về kỷ luật học hành. Vào lớp, thầy điểm danh. Sách tham khảo chưa kịp đọc, cụ la. Đi muộn cũng vậy. Về chuyện giờ giấc, ngay bộ môn Văn học Việt Nam của khoa tôi cũng bị cụ rày mấy “vố”. Gần đây nhất là buổi liên hoan cuối năm.

Bữa đó, thầy trò hẹn nhau lúc 17 giờ. Thầy đến rất đúng hẹn. Đợi mươi phút, vẫn còn phải chờ, thầy đùng đùng nổi giận bỏ về. Bậc tiên chỉ ngày giáp tết mà giận thế, phiền lắm. Mấy người thuộc cỡ “lì đòn”, mặt cũng tái nhợt, luống cuống như gà mắc tóc. Hãi. Dù rằng ai cũng biết tuổi già… hay dỗi và chỉ lát thôi, thế nào cụ cũng làm lành, thế nào cụ cũng ngân ngấn nước mắt theo giọng ngâm nga của các cụ đồ trong đêm “cầu tiên” vùng Gò Nổi.

Để có thời gian làm việc nhiều, thầy tổ chức, điều hành công việc rất khoa học, rất giỏi, không tài tử như thói tật của nhiều người trong giới văn chương. Cứ xem cung cách thầy quản lý khoa thì rõ, nhất là vào thời chiến tranh. Thuở ấy, khoa Ngữ văn như một trung đoàn lớn, có tới 1.200 sinh viên, 160 cán bộ, nhân viên, đi sơ tán ở Đại Từ (Thái Nguyên) rồi Văn Giang (Hưng Yên). Tất cả chuyện ăn ở, giảng dạy, học tập của ngần ấy con người đều do khoa trực tiếp quản lý. Thế mà mọi việc răm rắp, chu đáo, tỉ mỉ, nghiêm túc. Ngày khai giảng cũng rất long trọng. Năm giờ rưỡi khai mạc, hùng tráng như cuộc ra quân. Sáu giờ rưỡi giải tán. Bảy giờ sáng, đâu đã về đấy, trước giờ máy bay địch bắt đầu bắn phá. Cũng nhân ngày ấy, thầy có bài thơ “Khai giảng năm nay có bắn súng…”, Nhà thơ Phạm Tiến Duật và nhiều người khác còn nhớ đến giờ. Đam mê lớn nhất của thầy là chuyện dạy học, chuyện văn chương. Học trò nào có năng lực văn chương, làm khoa học, thầy đều khuyên nên từ quan. Sau 15 năm làm Chủ nhiệm khoa, được tổ chức tín nhiệm mời làm Hiệu trưởng trường Đại học Sư phạm I Hà Nội, thầy viết thư gửi đi 7 nơi xin thoái thác.

Lắm người chỉ đi dạy mà không chịu viết (anh em nói vui là chỉ làm văn tế). Thầy vừa dạy vừa viết, làm cả văn tế lẫn văn bia. Tất cả các công trình của thầy đều từ bài giảng, bài báo mà thành. Viết cái trước mắt, thầy đã nhắm cho việc lâu dài, không làm qua loa, ăn xổi. Một đời với văn, đến giờ, thầy đã có 43 tập giáo trình, giảng văn, khảo cứu, chuyên luận, dịch thuật, sáng tác. Mấy năm trước, các tập sách ấy đã được tập hợp thành bộ “Một đời dạy văn, viết văn” gồm bảy tập sách, hơn 6.000 trang. Công trình này đã được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh.

Cái mạnh nhất của thầy là giảng văn. Những lúc ấy thơ văn như bắt mất hồn vía của thầy. Thầy hay dặn chúng tôi đọc vỡ được một câu, một chữ thăm thẳm chiều sâu nhọc nhằn lắm. Là nghẹt thở. Là vã hết mồ hôi trán. Hiểu một áng văn hay, đâu phải chỉ biết đi vào, còn phải biết đi ra, biết cảm nhận được cái chung, biết bóc tách dần các lớp cảm xúc, tư tưởng, nghệ thuật, biết nói, viết về tác phẩm. Phải thật sự làm thân, nhập hồn với tác phẩm bằng tri thức, vốn liếng cuộc đời. Phải thấm, hiểu được cái hay của nó và truyền được cái hay ấy cho người đọc, người nghe. Bằng không, đừng giảng, đừng bình nữa, thậm chí nên bẻ bút, bỏ nghề đi.

Mấy anh “nhất quỷ nhì ma” đã có lúc xem trộm thầy ngồi viết. Một người đang nhập đồng. Đọc. Ngâm nga. Khóc. Đập bàn. Vò nát sách… Rõ ràng là một nghệ sĩ đích thực. Rõ là hậu duệ của “nòi văn”. Nhiều trang văn thầy viết, đúng như thán phục của nhà văn Nguyễn Khải, là “nửa người nửa thần”.

Trong sáng tác, có giọng văn riêng đã khó. Trong nghiên cứu, có giọng văn riêng càng khó hơn. Giọng văn của thầy tài hoa và rất riêng. Vì vậy mà có lúc thầy định giấu mình, chúng tôi đọc cứ cười tủm tỉm, biết ngay.

Chiếc xe Chaly tàng tàng màu xanh, mỗi lần nổ máy khởi động cả hàng phố phải giật mình ngó ra xem, hàng ngày vẫn bon bon trên đường. Thầy vẫn đi dạy, đi thăm trường, đi họp, rồi vội vã về nhà ngồi viết… Nhiều lần thầy bảo tôi:

– Nợ văn chương, nợ đời càng trả càng thêm nặng. Viết xong cuốn sách này, việc này, thầy nghỉ.

Mà có thấy cụ nghỉ đâu! Tháng sau vẫn thấy thầy đến tặng trò sách mới. Vẫn thấy thầy mở trường, thêm lớp. Vẫn thấy thầy làm thơ… Phục thầy, thương thầy, những lúc ấy tôi cứ nghĩ: không biết trời đang bắt tội hay đang ban tặng hạnh phúc cho thầy?

Có lẽ cả hai…

B.M.N