“Hành trình gian lao” của bài thơ Quê hương

824

Phùng Hiệu

(Vanchuongphuongnam.vn) – Bài thơ “Quê hương” của nhà thơ Giang Nam được đưa vào sách giáo khoa giảng dạy gần 30 năm qua. Mọi “bí mật” về nó tưởng như đã được “bật mí” nhưng không mấy ai biết, bài thơ ra đời từ năm 1960 và có cả một hành trình gian lao từ Nam ra Bắc, qua nhiều vòng kiểm duyệt mới thật sự đến tay bạn đọc và ghi mãi dấu ấn cho đến ngày nay…

Nhà thơ Giang Nam (áo sọc trắng) cùng các văn sĩ TPHCM

Bí mật về một hành trình dài…

Chúng tôi đến thăm ông vào một buổi chiều khi nắng xuân còn vương trên mái phố. Nha Trang vẫn còn nhộn nhịp không khí ngày xuân, trên các ngả đường, trên các công viên vẫn còn nguyên những băng rôn chúc mừng năm mới với cờ hoa rực rỡ. Trước số nhà 46 Yesin, một ông lão dáng người thấp đậm, mái tóc bạc trắng nhưng đôi mắt sáng ngời, lộ vẽ vui mừng khi gặp chúng tôi. Nhà thơ Giang Nam đấy! Vừa giới thiệu, tôi vừa ôm chặt lấy ông như vừa gặp lại một người thân từ lâu xa cách.

Trong căn phòng khách nhỏ gọn nhưng đầy những bằng khen, huân chương và sách vở, chúng tôi lắng nghe ông kể chuyện. Những câu chuyện từ thời chống Pháp, chống Mỹ lần lượt được ông khơi lại với sự ly kì, pha lẫn hiểm nguy và cảm động làm cho chúng tôi vừa hồi hộp, vừa hứng thú lắng nghe quên cả thời gian.

Trong các câu chuyện ông kể, chúng tôi chú ý lắng nghe và xoay quanh về mối tình vợ chồng ông và hoàn cảnh ra đời của bài thơ “Quê hương” mà ông sáng tác vào năm 1960 trong vòng 30 phút, giữa chiến trường gian khổ.

“Ngày ấy, chúng tôi yêu nhau trong thời buổi chiến tranh khóc liệt. Lý tưởng cách mạng lúc nào cũng nung nấu trong tâm hồn của 2 chúng tôi. Cùng sống và hoạt động trong một cơ quan nhưng chúng tôi ít khi được ngồi bên nhau trọn vẹn. Cho đến ngày được cơ quan tác hợp nên duyên vợ chồng, được vài hôm thì tôi nhận nhiệm vụ nơi xa. Ngày chia tay, vợ tôi đã tặng cho tôi một chiếc khăn với lời nhắn nhủ: “Anh giữ gìn sức khỏe, tình yêu của em luôn trọn vẹn cho anh mãi mãi. Anh hãy sống cho lý tưởng cách mạng trước chứ đừng lo nghĩ cho em nhiều. Dù có bất cứ điều gì xảy ra, em cũng một lòng đợi anh…” Tình yêu thời chiến tranh là thế, vừa tương phùng đã phải biệt ly” – ông nhớ lại.

Tuy hoạt động trong lòng địch, nhưng các bài viết bài thơ tuyên truyền kháng chiến, những bài báo của ông luôn làm cho quân địch hoang mang, lo sợ. Chúng điên cuồng ra quân càn quét, tiến hành các chiến dịch “tố cộng”, “diệt cộng”…Để giữ bí mật, ông được cấp trên chuyển vùng hoạt động, cũng trong thời gian này, vợ ông bị địch bắt và bị tra tấn dã man khi đứa con nhỏ vừa mới chào đời.

“Năm 1960, trong một đêm mưa giữa núi rừng trùng điệp, tôi được cấp trên gọi lên động viên và trấn an tư tưởng, rồi thông báo cho tôi một tin sét đánh: “Vợ con đồng chí có thể bị địch sát hại vì các hoạt động bí mật và nhất định không khai ra tổ chức”. Nghe tin, tôi như không còn đứng vững, nỗi đau nhói buốt cả con tim, tôi đã phải bật khóc trong vòng tay an ủi của đồng đội, để rồi ngay đêm hôm đó tôi đã viết nên bài thơ Quê hương bằng tất cả nỗi đau, tình yêu thiêng liêng và sự căm thù quân giặc. Trong bài có 2 câu thơ thể hiện nỗi đau đến tột cùng mà tôi nhớ mãi “ Giặc giết em rồi quăng mất xác/ bởi vì em là du kích em ơi…” – nhà thơ Giang Nam kể lại.

Sau khi bài thơ ra đời ông đưa cho cấp trên đọc và nhận được sự đồng cảm của mọi người. Vài ngày sau ông nhờ người gửi bài thơ ra Hà Nội với hy vọng được đăng báo Văn Nghệ. Và hành trình của bài thơ này cũng gian lao không khác gì số phận của một con người.

“Thời ấy, muốn gửi một bài thơ ra Hà Nội phải mất gần 6 tháng. Giao liên phải đi bộ vượt hơn nghìn km, qua các núi đồi, đèo dốc hiểm nguy của dãy Trường Sơn cao ngút. Đã vậy còn phải đối phó với bom đạn, thú rừng. Bài thơ đã được gửi đi nhưng tôi cũng không dám hy vọng là nó sẽ đến nơi mình gửi. Hơn một năm sau, khi đang trên đường công tác, tôi bất chợt nghe Đài Tiếng nói Việt Nam đọc bài thơ “Quê hương” của mình và thông báo được giải nhì báo Văn Nghệ. Trong giây phút vui mừng đó, tất cả hình ảnh người vợ thân yêu cùng đứa con nhỏ của mình lại ùa về. Một lần nữa, tôi bật khóc suốt cả buổi chiều. khóc vì nỗi đau, khóc vì hạnh phúc” – Nhà thơ Giang Nam tâm sự.

Bài thơ được giải thưởng, làm ông được tăng thêm động lực viết lách và chiến đấu. Từ đó, ông lao vào sáng tác thơ, làm báo như một nhiệm vụ cao cả phục vụ cho cách mạng, khơi dậy phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc.

Ông kể tiếp: “Sau này tôi mới biết bài thơ chuyển qua nhiều tay giao liên vượt núi, băng rừng, lội qua những con suối hiểm nguy, những cơn mưa nguồn không dứt mất thời gian đến gần 6 tháng mới đến nơi. Vì vậy nên có nhiều tài liệu bị ẩm ướt và rách nát. Nhưng rất may là bài thơ không bị thất lạc và cuối cùng cũng đến đúng địa chỉ của nó.

Tuy phong bì và bài thơ đã gần như nhàu nát, ố màu vì thời gian, nhưng nhà thơ Bảo Định Giang (Trưởng Ban Văn nghệ) vẫn cố đọc và lần ra từng chữ rồi cho đăng trên báo Thống Nhất ( báo Văn Nghệ ngày nay). Khi bài thơ được đăng báo, nhiều anh em còn nói vui, đây là bài thơ “chim bướm”. Vài tháng sau, bài thơ được đưa ra xét thưởng vào năm 1961. Có rất nhiều ý kiến xoay quanh việc xét thưởng cho bài thơ này. Hội đồng chấm thưởng ngày ấy gồm có các nhà thơ, nhà lý luận phê bình như: Chế Lan Viên, Hoàng Trung Thông, Hoài Thanh…Vài ý kiến cho rằng, trong bối cảnh đất nước đang đang vào giai đoạn chiến tranh khóc liệt, liệu chấm giải thưởng cao cho bài thơ này có làm ảnh hưởng đến tinh thần chiến đấu của các anh em chiến sĩ? Người thì cho rằng, bài thơ mang vẻ đẹp tình yêu quê hương, đất nước, khơi dậy lòng tự hào dân tộc và sự căm thù quân giặc, cần có giải thưởng cao.

Mọi người đang bàn luận thì bất ngờ nhà lý luận phê bình Hoài Thanh chấm giải nhất cho bài thơ. Rồi có người chấm giải nhì, người chấm giải ba. Cuối cùng Hội đồng thống nhất bài thơ đoạt giải nhì. Tuy đã được giải nhì nhưng nhà lý luận phê bình Hoài Thanh vẫn thốt lên “Bài thơ tuy chỉ được giải nhì nhưng tôi tin rằng nó sẽ có tầm ảnh hưởng lớn với bạn đọc và nó sẽ sống mãi với thời gian”.

Ngày ông ra Hà Nội nhận giải, nhà thơ Chế Lan Viên đã gọi ông lại và nhận xét: “Cả bài thơ “Quê hương” của Giang Nam và “Núi đôi” của Vũ Cao đều nói về sự hy sinh của người con gái, của tình yêu và nỗi cách xa. Nhưng, bài “Quê hương” của Giang Nam đau quá, quằn quại quá”.

Sau khi bài thơ “Quê hương” được công bố, rất nhiều cuộc mít tinh chớp nhoáng đã lấy bài thơ này ra đọc lên như một sự cổ vũ. “Lúc đó, tôi vô cùng sung sướng, thấy mình như được tiếp thêm niềm đam mê, viết không ngưng nghỉ. Sau ngày đất nước thống nhất, bài thơ đã được đưa vào sách giáo khoa giảng dạy cho đến ngày hôm nay” – ông chia sẻ.

Nhà thơ Giang Nam trò chuyện cùng tác giả

Ngày đoàn tụ

Hạnh phúc cũng trở về với ông khi một ngày ông nhận được thông báo của tổ chức cho biết, sau khi bắt biệt giam gần 3 năm trời nhưng không tìm ra chứng cứ kết tội, lại được một luật sư bào chữa miễn phí nên quân địch bắt buộc phải trả tự do cho vợ con ông. Ngày đoàn tụ vợ chồng ông ôm đứa con nhỏ vào lòng mà khóc hết nước mắt, khóc trong bất ngờ, khóc trong hạnh phúc…

Cả đời làm cách mạng, nhà thơ Giang Nam lúc nào cũng nghĩ đến chữ tâm, chữ đức. Ông nói: “ Thi ca cũng cần phải có đạo đức, ngày xưa chúng tôi làm thơ cũng chỉ để phục vụ cho cái chân – thiện – mỹ. Ngày nay cũng thế, còn viết được tôi còn phục vụ cho thi ca với một cái tâm, cái đức của mình. Tôi quan niệm làm văn nghệ, lãnh đạo văn nghệ là phải phát hiện ra cái mới, phải đi tìm, nuôi dưỡng và bảo vệ những người sáng tạo đích thực, chứ không phải đến ngồi tán gẫu nhau cho sung sướng rồi hưởng lương, rồi đấu đá, thế thì buồn lắm…”.

Chia tay ông, chúng tôi trở về với tâm trạng quyến luyến, cảm thấy mình yêu quý, kính phục một nhà thơ suốt cuộc đời cống hiến cho nền văn học nước nhà với cái tâm sáng ngời đạo đức.

P.H