Lộc biển – Truyện ngắn của Ngô Phú Thiện

135

(Vanchuongphuongnam.vn) – Ông Lộc trầm ngâm: Đến bây giờ mình đã nhận ra “cái tình” nó nặng hơn vật chất rất nhiều. Sở dĩ mình vẫn “trụ bám” ở eo biển này, không cốt là chuyện mấy chiếc tàu cá. Mỗi tối mình cố thức để nhìn cho rõ cái sao Hôm ngoài kia. Với mình, nó mới là ngọn đèn biển đích thực, là linh hồn của sự sống giữa biển khơi. Mình sống được đây đã là “lộc” của biển mà. Luật chơi của biển sòng phẳng lắm, không giống như con người…

Tác giả Ngô Phú Thiện

1.

Tên “cúng cơm” của chú do cha mẹ đặt là Thạch. Quê hương, bản xứ trước kia là rừng đá nhảy, khô trắng răng chứ đâu phải ở đây. Lúc nhỏ ăn rau ranh, rau dớn đến xanh mặt chớ mấy khi được miếng cá… Nhưng từ ngày thất trận ở Hoàng Sa, chú trốn về hòn Cù lao và lập gia đình ở đấy. Ai dè, từ đó “chết tên” luôn với cái biệt danh của xứ này!

Ông Lộc “phi lộ” liền một hơi về nhân thân như thế. Nhiều người đứng nghe trợn mắt, không hiểu ông nói điều gì, về ai? Nhưng với tôi thì vô cùng xúc động. Không ngờ giữa cái eo biển tận cùng miền Trung này lại được nghe giọng Quảng đặc sệt của một người xa quê đã lâu. Ông đã rời Cù lao, mang cả đại gia đình vào đất liền “an toàn hạ cánh” được mấy năm nay. Nhìn cơ ngơi cuộc sống hiện tại của gia đình ông, ai cũng nghĩ ông giàu có nhờ mồ hôi, công sức của ngư dân vùng eo biển này. Bởi khác nhiều với bà con vùng gió cát, ông Lộc lúc nào cũng áo quần tươm tất, nước da bánh mật mịn màng như một đại gia thứ thiệt. Chỉ có mái tóc rễ tre rám nắng, đang chuyển màu muối tiêu phần nào chứng thực cho những gì ông kể.

Cuộc gặp của tôi với ông cũng rất tình cờ. Thấy có người ngồi trong quán cóc, tôi lân la hỏi thăm một người cùng quê xứ, nghe nói “ẩn cư” ở đây. Người ấy trước kia là lính Hải thuyền của quân đội Sài Gòn, đã lưu lạc sau trận hải chiến Hoàng Sa… Hóa ra, “Lộc Biển” khá nổi tiếng của bà con ngư dân ở đây chính lại là người tôi đang tìm gặp.

Sau mấy chén rượu “tri ngộ” ở quán cóc, ông Lộc dẫn anh em chúng tôi về nhà. Chưa kịp ngồi xuống chiếc ghế gỗ gụ cầu kì, ông ngoắt tay gọi con trai ra chào khách, rồi rôm rả giới thiệu:

– Đây là con trai đầu của chú. Thực ra Lộc là tên nó, do chú đặt khi mới sinh trên đảo cù lao. Nó chính là cái lộc đầu tiên của biển, sau khi chú chạy thoát trận hải chiến ở đảo Hoàng Sa năm ấy. Bà con ở ngoài đảo có tục kiêng kỵ, không gọi “tên tộc” khi anh đã có gia đình. Vì thế, người ta thường lấy tên con đầu lòng để gọi chung cả cha lẫn mẹ. Thế là cái tên Lộc con trở thành Lộc cha từ dạo đó. Mà gọi là “lộc” cũng hoàn toàn đúng với tình cảnh của chú từ ấy đến bây giờ. Giữa lúc trắng tay, đơn thân độc mã giữa biển trời chú lại được bà con trên đảo cưu mang. Ban đầu, họ còn nghi ngại vì thằng lính đào ngũ nhưng rồi thấy mình đói khổ quá, họ cho lên thuyền đi đánh cá để kiếm sống qua ngày. Ai dè, thấy chú chịu khó lại có sức khỏe hơn người, nên sau vài chuyến biển trúng đậm, ông chủ tàu cá gọi về nhà. Ông chỉ cô con gái út và bảo: “Nếu chú mày ưng ý, tao gả con nhỏ này cho để chúng mày cố giữ mấy chiếc thuyền mà kiếm sống”.

Lúc ấy… xấu hổ đến đỏ mặt. Bụng thì mừng mà cứ đứng lóng ngóng, chẳng mở miệng được. Không hiểu thế nào lúc ấy, chú… gật đầu đại! Thế là nhờ ”sự kiện sắt đánh” hôm đó, chú trở thành con rể trong nhà và quản luôn chiếc thuyền gỗ 30 sức ngựa với tám bạn chài.

Tôi sốt ruột hỏi: Vậy, vợ chú sinh con đầu năm nào?

– Đúng cái thời điểm đất nước được giải phóng! Nói thật, lúc ấy ruột gan chú rối bời, vợ lại sinh được thằng cu… Nếu “mấy ông cách mạng” biết thân phận mình, liệu tương lai thằng con thế nào? Chỉ còn cách cứ lâm râm cầu trời, khẩn Phật. Chú bàn với vợ đặt tên cho con trai là Lộc – Trần Thân Lộc. Vì cuộc đời “Trần thân” của chú, lạy trời cho được hưởng lộc ngoài biển, nên mới có tổ ấm nơi hòn đảo hẻo lánh này!

Nhưng hoàn cảnh thúc bách của gia đình không cho chú ngồi yên để nghĩ ngợi. Trong thời điểm ấy, cuộc sống của bà con trên hòn Cù lao khó khăn đủ mọi thứ. Muốn tồn tại, thằng đàn ông phải biết nhìn qua con sóng ngoài khơi kia. Lúc khó, bỗng “ló cái khôn”, chú vốn quen đường, thuộc lối ngoài đảo Hoàng Sa nên cố sức thử vận may. Chú cùng người anh vợ mày mò sửa chữa hai con tàu già, để vượt sóng ra ngoài bãi Cát Vàng đánh bắt. Gặp mùa mực thì câu mực, thời vụ cá thu thì đánh cá thu… Không ngờ, vụ nào cũng thu hoạch khá.

Chú biết tàu buôn các nước thường qua lại đường biển Quốc tế này. Khi thuyền mình đầy cá, mực chú tìm cách liên lạc với họ và đem bán tất để đổi lấy dầu, lấy hàng hóa thiết yếu đem về cho gia đình và cả bà con xóm chài. Nhờ đó, cuộc sống trên hòn đảo bé nhỏ ấy, cũng từng bước được cải thiện. Đến lúc này, chẳng còn ai biết thằng lính đào ngũ, mọi người cứ gọi với cái tên thân thiết là “Lộc Biển”, nôm na là người luôn có lộc trên biển! Cũng lạ, nhờ biển nuôi thế nào mà chú chẳng biết ốm đau là gì? Cứ thế, trần lưng mười mấy năm liền với biển khơi để làm nên cơ nghiệp. Qua thời “tao đoạn” ấy, chú từng bước nâng cấp tàu cá lên 100, rồi hơn 200 mã lực… Bây giờ già rồi, không giỡn với sóng gió nữa nhưng vẫn làm chủ một đội tàu lớn, chuyên đánh bắt cá ngừ đại dương ở ngoài đó…

Năm nay “Lộc Biển” đã tuổi ngoài 70, vẫn rắn rỏi nhưng cứ tin vào vận số ngẫu nhiên. Như giờ đây cũng ngẫu nhiên, ông đổi giọng triết lý và thay cách xưng hô: “Đời người như đôi dép, nó có số má cả đấy”! Ngày xưa quê mình nghèo, nhà khổ cực lắm. Mình có biết sông nước gì đâu, thế mà liều mạng đăng lính Hải thuyền, họ lại điều sang đơn vị Hải quân. Chưa biết mô tê gì, lại bị đưa ra chốt đóng tận đảo Hoàng Sa suốt ba năm. Ban đầu nhìn thấy sóng biển mình đã nôn đến mật xanh, mật vàng nhưng ít lâu sau lên bờ lại thấy ngợp. Bọn hải quân thời ấy luyện tập dữ lắm, “Thao trường đổ mồ hôi, chiến trường bớt đổ máu” mà! Làm lính biển không chỉ biết bơi, biết lặn mà còn phải biết qui luật thất thường của sóng, gió và các loại sinh vật biển… để tồn tại; phải thuộc từng tọa độ trên các đảo nổi, đảo chìm ở Hoàng Sa.

Nhưng tai họa không đến từ biển, mà do bọn Tàu đến từ đảo Hải Nam. Chỉ trong một ngày đêm của năm 1974 ấy, tàu chiến của chúng bao vây hết cụm đảo chính. Thực ra bọn Tàu.. “đông như quân Minh”, chỉ biết “lấy thịt đè người” chứ chẳng có kinh nghiệm gì khi tác chiến trên biển. Thấy tàu chúng lớn, lại tập trung dày đặc, nên Sở Chỉ huy lệnh phải “án binh bất động” để đợi pháo hạm của Mỹ khai hỏa vòng ngoài trước. Ai dè, thượng cấp Trung – Mỹ đã bắt tay nhau, để quân Tàu thỏa sức làm cỏ vùng đảo lớn, đảo bé Hoàng Sa. Hải quân Cộng hòa biết sự việc ấy đã quá muộn, nên chỉ còn cách vừa đánh vừa mở đường máu thoát thân…

Tôi hỏi: Vậy “cái số” của chú lúc ấy là gì?

– Thì đấy! Giọng ông trầm xuống. Họ sắp đặt để cho bọn mình chết, nhưng nhờ lòng biển mênh mông mình mới sống được. Nói thật nhé! Mình chẳng giác ngộ được cái quái gì đâu, chỉ thấy trò chơi của mấy “ông lớn” khủng khiếp quá. Lúc chiếc tàu sắt của quân đội mình bị dính quả đạn, nó vừa cháy vừa cố chạy. Mình liền nhảy ùm xuống biển, vứt hết quân trang, súng đạn để bơi vào một bãi đá chìm. Chịu đói khát hơn một ngày đêm, thì bỗng dưng có một chiếc thuyền câu xuất hiện! Chú em thử nghĩ, ai lại đi cứu giúp mình lúc này? Hóa ra, chiếc thuyền câu tí tẹo ấy cũng bị sóng đánh giạt, chẳng biết từ đâu lại tấp vào bãi đá đó. Để rồi hai cái rủi trở thành cái may ngẫu nhiên cho cả ba người – một thằng lính đào tẩu và hai ngư dân ở Cù lao.

– Chứ sau đó đơn vị không tìm kiếm hay truy cứu chú về tội đào ngũ à? Tôi cố gặng hỏi cho ra lẽ. Ông Lộc khoát tay:

– Thì đồng đội trên tàu thấy mình rơi xuống biển, thế là tiêu đời rồi! Hơn nữa, quân lính Việt Nam Cộng Hòa từ dạo ấy đã bắt đầu tan tác, còn hơi sức đâu mà cất công truy tìm? Thế là mình chẳng còn đường nào khác, vào xóm chài thú thật tình cảnh với bà con trên đảo và xin được “ăn nhờ, ở đậu”.

4.

Hai cô con dâu ông Lộc bày biện xong bàn nhậu phía trước sảnh lộng gió. Ông đứng dậy ra hiệu và có lời mời theo cách người Quảng: “Thôi, ta giữ sức mà nhậu cho sướng, chớ he?”.

Trong khi cả bàn đang rôm rả “chén chú, chén anh”, bỗng ông Lộc cầm ly bia thẫn thờ một lúc, rồi nói:

– Hôm nay gặp được “đồng hương” thế này, mình mừng quá. Vì ngoài quê… mình chẳng còn ai! Chỉ đúng một lần về thăm quê, mới biết: Cha và thằng em chết vì trúng bom; mẹ chết bệnh. Mình ở lại quê nửa tháng, làm xong mồ mã rồi thỉnh luôn bàn thờ vào trong này…

Tôi vụng về an ủi: Sông có khúc, người có lúc phải không chú? Thôi, xin mừng chú đã qua cơn vận hạn!

Ông Lộc trầm ngâm: Đến bây giờ mình đã nhận ra “cái tình” nó nặng hơn vật chất rất nhiều. Sở dĩ mình vẫn “trụ bám” ở eo biển này, không cốt là chuyện mấy chiếc tàu cá. Mỗi tối mình cố thức để nhìn cho rõ cái sao Hôm ngoài kia. Với mình, nó mới là ngọn đèn biển đích thực, là linh hồn của sự sống giữa biển khơi. Mình sống được đây đã là “lộc” của biển mà. Luật chơi của biển sòng phẳng lắm, không giống như con người…

– Thế nhưng biển Đông hiện nay cũng đang bị bọn Tàu Ô lừa đấy, chú không còn sợ à? Ông bạn tôi cà khịa.

– Kẻ nào “gieo gió rồi sẽ gặt bão”- ông Lộc nói chắc nịch. Còn mình đang tập trung vốn để đóng thêm tàu mới, trước hết là để trả nghĩa với bà con ngư dân ở ngoài Cù lao kia.

N.P.T