Mĩ cảm hiện sinh nét đẹp truyền thống văn chương Nhật Bản

168

Nhắc đến văn hóa xứ sở Phù Tang, chúng ta không thể không nhắc đến tinh thần duy mĩ và duy cảm rất đặc trưng nơi đây. Đó vừa là điểm gặp gỡ độc đáo của các ngành nghệ thuật truyền thống nói chung và văn chương nói riêng, vừa là phẩm tính căn cước của con người Nhật Bản. Không phải chỉ đến văn chương thời hiện đại, qua những tên tuổi tiêu biểu như Ryunosuke Akutagawa (1892-1927), Kawabata Yasunari (1899-1972), Tanizaki Junichiro (1886-1965) và Yukio Mishima (1925-1970), độc giả trên khắp thế giới mới biết đến và cảm nhận được mĩ cảm hiện thực huyền ảo, mĩ cảm bi ai xao xuyến, mĩ cảm hoan lạc diễm tình hay mĩ cảm bi tráng dữ dội. Bởi tinh thần mĩ cảm trong văn hóa Nhật Bản đã bàng bạc xuyên suốt từ truyền thống cổ xưa cho đến đời sống xã hội đương đại trên nhiều góc độ: lịch sử, giáo dục, văn chương, tín ngưỡng, lối sống sinh hoạt…

Đặc biệt, khởi phát từ truyền thống biết yêu quý và tôn vinh cái đẹp, tâm thức hiện sinh bàng bạc trong văn hóa lẫn văn chương xứ sở Phù Tang như một quy luật thường hằng nhằm lưu giữ và lan tỏa các giá trị thẩm mĩ. Chính sự song hành và phát triển cùng với các vẻ đẹp, hiện sinh có thể được xem như một mĩ cảm đặc sắc. Đó là thứ mĩ cảm độc đáo thể hiện ý thức của người Nhật về lẽ tồn – vong, được- mất và sự suy tư, chiêm nghiệm về bản chất thế giới cái đẹp trong văn hóa Nhật như nó vốn có: ngắn ngủi, vô thường, vật ai và hủy diệt.

Mặc dù, xét về mặt lí thuyết, mĩ học truyền thống Nhật Bản vẫn chưa gọi tên hiện sinh như một kiểu mĩ cảm riêng biệt, nhưng nhìn tổng thể về hành trình phát triển của văn hóa và văn học Nhật, thái độ nhìn nhận và khẳng định sự tồn tại của mĩ cảm hiện sinh có ý nghĩa quan trọng trong việc vinh danh một đặc trưng, tính chất tồn tại trong hầu hết cái đẹp truyền thống Nhật Bản.

Ngay từ câu chuyện cổ xưa nhất còn sót lại – Taketori monogatari (Chuyện ông lão đốn tre) – đã góp phần dự ước và định hình về một “đất nước mặt trời mọc” thấm nhuần hương sắc ưu nhã, bàng bạc tâm thức phù du trong văn học. Hình tượng công chúa Kaguya bay về trời khi mãn hạn dương thế với tâm thức tự do, không ràng buộc là một trong những biểu hiện hiện sinh đầu tiên của văn học Nhật Bản, mang ý nghĩa cái đẹp hồi quy tự nhiên như quy luật vốn dĩ. Cuộc trải nghiệm, dấn thân ở chốn trần gian của nàng công chúa trong huyền thoại mang biểu trưng khám phá giữa những lựa chọn và dứt bỏ mọi thức cảm con người, vươn đến đời sống lí tưởng đương khi vượt khỏi những thứ phàm tục.

Tương tự với chuyến phiêu du xuống hạ giới của Kaguya, cuộc đời của chàng hoàng tử Hikaru Genji trong Genji monogatari (Truyện kể Genji) cũng là hành trình sống thấm đẫm mĩ cảm hiện sinh. Được xem là tiểu thuyết hiện đại đầu tiên của thế giới, Truyện kể Genji mang tầm cỡ đồ sộ, thu góp trong nó không biết bao nhiêu chuyến phiêu lưu chinh phục người tình, bao nhiêu cuộc hành trình tìm kiếm và tận hưởng cái đẹp chốn hồng trần.

Từ Phần chính cho đến Uji thập thiếp, thế giới mà tác phẩm gợi đến trong lòng độc giả ngập tràn hương sắc mĩ cảm của hoa đạo, hương đạo, các sắc phục truyền thống cùng sự hiện diện của hàng trăm mĩ nữ và mĩ nam. Đặc biệt, hòa trong phong vị mĩ cảm của tiểu thuyết là không khí u buồn, nỗi cô đơn và niềm nuối tiếc. Ý thức về tình yêu cái đẹp, Genji cùng tất cả nam nhân khác đều có ham muốn khẳng định, ưa thích chứng tỏ bản thân trong công việc chinh phục người tình.

Cả Genji và sau đó là Kaoru đã trực tiếp dấn thân như một niềm đam mê với tâm thức tự do, bất chấp đạo đức. Dưới sự che chở và biện hộ của văn hóa mĩ cảm, các nhân vật dù sống một cuộc đời ong bướm, thậm chí có lúc loạn luân, nhưng tất cả chỉ dừng lại ở sự hổ thẹn, lo lắng chứ không hề mang mặc cảm tội lỗi như trong tư duy văn hóa phương Tây. Bởi vậy, không gian xuyên suốt của truyện kể bàng bạc phức cảm Genji, niềm bi cảm aware và yếu tố huyền ảo yugen.

Không chỉ trong văn xuôi, thơ ca Nhật Bản từ khởi thủy đã thấm đượm tinh thần mĩ cảm hiện sinh một cách kì lạ. Lấy tình yêu làm chủ đề trung tâm, ngay từ những bài thơ đầu tiên được kể lại trong Kojiki về cuộc chinh phục công chúa Nunakawa của thần Yachihoko đã cho thấy ý thức về sự tự do và quyết tâm của kẻ đi chinh phục lẫn sự dâng hiến cho tình yêu, hướng đến tận hưởng khoái lạc của kẻ bị chinh phục: Em bây giờ vẫn/ Là chim bơ vơ/ Một mai em sẽ/ Bay về với ai/ Cuộc đời còn dài/ Xin đừng vội vã/…/ Cánh tay anh quấn quýt/ Bờ ngực em như tuyết/ Đang tan vào trong anh/ Dịu dàng ôm ấp/ Đến bao nhiêu lần/ Cánh tay ngà đan kết/ Với nhau không rời/ Và những đôi chân duỗi/ Khi ta nằm thành đôi/ Nhưng xin đừng vội/ Tình yêu đầu đời(1).

Bài thơ giúp chúng ta nhận ra sự ý thức về kiếp sống hiện tồn đã xuất hiện từ rất sớm trong văn học Nhật Bản. Không chỉ vậy, sự ý thức ấy còn được đúc kết thành một trong những cảm thức xuyên suốt của văn chương những thời kì sau đó: nỗi sầu bi ai xuất phát từ tâm hồn đa cảm của nghệ sĩ. Hãy đến với một trong những bài tanka nổi tiếng của nữ sĩ Izumi Shikibu: Thời gian trôi/ Nỗi đau dài dặc/ Theo tôi mỗi bước đời/ Và hôm nay mưa mãi/ Dâng nước ngập hồn tôi(2).

Với thủ pháp kakekotoba (quải từ) tinh tế, bài thơ đã thể hiện nỗi lòng sâu kín của chủ thể trữ tình: nỗi đau trải dài theo sự trôi chảy của dòng thời gian vô tình. Đó cũng là nỗi niềm riêng thầm kín, là cái tình cô đơn khắc khoải đến ám ảnh trước thời gian của nữ sĩ. Tuy nhiên, nếu như nỗi cô đơn của chủ thể trữ tình trong bài thơ trên chỉ mới bàng bạc trong nỗi đau thì sự ý thức về nỗi cô đơn trong bài thơ sau của Jakuren in trong Shinkokinshu (Tân cổ kim tập) đã được gọi tên một cách rõ ràng: Trong niềm cô đơn/ Sắc thu mờ ảo/ Cỏ cây âm thầm/ Hoàng hôn buông phủ/ Núi đồi xa xăm(3).

Bài thơ man mác một nỗi buồn tịch liêu của sabi lẫn không khí thâm u của yugen, tạo nên chiều sâu tâm linh trong thức nhận của thi nhân: sự hòa điệu giữa sắc thu, dáng thu, hồn thu và tình thu. Chính ý thức về sự hiện hữu của cái đẹp nơi trần thế cùng khát vọng tận hưởng cuộc sống của tác giả đã cho thấy sự lan tỏa của mĩ cảm hiện sinh trên khắp bài thơ một cách mềm mại như cảnh “hoàng hôn buông phủ”.

Ở khía cạnh khác của mĩ cảm hiện sinh, độc giả còn có thể nhận thấy niềm xót thương về cõi phù thế cùng sự ý thức về tính chất hư vô của cuộc đời và danh vọng qua văn chương hai thời kì binh đao Kamamura cùng Muromachi. Dòng văn chương chiến kí đặc trưng của hai chặng đường này với sự xuất hiện của kiệt tác Heike monogatari (Truyện kể dòng họ Heike) cùng tập tùy bút Tsurezuregusa (Nhàn tư) đã viết về sự biệt li của con người như cảm hứng chủ đạo của văn học Nhật thời kì trung thế. Trong khi Bình gia vật ngữ viết về sự hư hao, phù du của quyền bính lẫn chiến công và nỗi cô đơn thường trực từ người chiến thắng đến kẻ chiến bại, thì Nhàn tư của thiền sư Yoshida Kenko lại thấm đượm tinh thần vô thường (mujo) của Phật giáo và những thú vui, những rung cảm ưu nhã nơi trần thế.

Tiếp đó, từ nửa sau thế kỉ XVII, cùng với sự phục hưng của văn học dưới thời Edo, tinh thần mĩ cảm hiện sinh bộc lộ rõ qua một số hiện tượng tiêu biểu như thơ haiku của Matsuo Basho, Yosa Buson và Kobayashi Issa hay tiểu thuyết bình dân của Ihara Saikaku… Trước hết, khi nhắc đến thơ ca Nhật Bản không thể không nhắc đến những vần thơ haiku bé nhỏ mà tinh tế, tiết chữ, kiệm lời, cô đọng mà giàu giá trị mĩ cảm.

Tâm thức hiện sinh trong haiku thể hiện rất rõ qua sự dụng tâm và chú trọng một cách kĩ lưỡng trong quá trình tận thưởng thiên nhiên và lĩnh hội các sự vật, hiện tượng. Nhờ vậy, các vần thơ hiện lên vô cùng sinh động, được tạo tác bằng cả tâm hồn và sự rung cảm trước cái đẹp của mỗi thi sĩ. Một trong những bài thơ nổi tiếng và đặc biệt nhất gắn liền với khoảng thời gian cuối đời của Basho: “Nằm bệnh giữa cuộc lãng du/ mộng hồn còn phiêu bạt/ những cánh đồng hoang vu” – cho thấy khát khao được sống, được trải nghiệm hương sắc nơi cõi phù thế, thấm đẫm niềm bi cảm.

Đó cũng là ý thức chung về một kiếp người ngắn ngủi nhưng tuyệt đẹp: “Ta bà một nỗi đau/ cho dù mùa xuân đó/ đang nở những anh đào”. Issa – nhà thơ của những niềm đau – đã triết lí như vậy về bản chất đầy mong manh mà khổ ải của sinh mệnh. Cả Basho và Issa đều sống theo tiếng gọi sâu thẳm của tâm hồn: Sống để yêu và theo đuổi cái đẹp trần thế. Cùng với hai nhà thơ này, Buson – một trong “haiku tứ trụ” – cũng đã sống và yêu hết mình với mùa xuân của đất trời lẫn mùa xuân của kiếp người. Để rồi khi bước sang ngưỡng kia cuộc đời, ông vẫn thường nghĩ về hoa anh đào: “Xuân đang qua/ anh đào giấc cuối/ lá đẩy dần hoa”. Mùa hoa sắp trôi qua, những cây anh đào thay áo bằng lớp lá xanh. Nhưng kìa, Buson đang suy tư về một cõi người đẹp như hoa (hana) và mong manh, vô thường như mộng (yume).

Hòa trong ý vị Thiền tông cùng tín ngưỡng Thần đạo, thế giới chân không mà haiku mở ra chan chứa mĩ cảm hiện sinh trong lòng người lẫn lòng vật. Rõ hơn, đó là ý thức về sự hiện diện những đặc tính cơ bản nhất của vạn vật mà các chủ thể trữ tình có thể cảm nhận được: hữu thể, hữu linh, sự sinh sôi bất diệt hay sự giao hoán chuyển vị… Đây chính là hành trình của cặp đôi: cái đẹp và người tự do đam mê đi khám phá, tận hưởng cái đẹp.

Sang thời kì cận đại (từ Minh Trị đến Đại Chính), văn học Nhật Bản có cú chuyển mình hết sức mới mẻ. Dưới sự cải cách, mở cửa và chào đón rầm rộ văn hóa phương Tây, văn chương thời này chịu ảnh hưởng không ít từ các nền văn học Âu châu. Nhiều nhà văn, nhà thơ đã có công lớn trong việc dịch thuật và sáng tác theo những phong cách văn học hiện đại. Năm nhà văn lớn của thời kì này là Mori Ogai (1862-1922), Futabatei Simei (1864-1909), Natsume Soseki (1867-1916), Toson Simazaki (1872-1943) và Kafu Nagai (1879-1959) đều chịu ảnh hưởng rất lớn từ các nền văn học ngoại quốc lần lượt là Nga, Đức, Anh, Pháp và Hoa Kì.

Chính những ảnh hưởng này đã khiến cho văn chương của họ mang màu sắc mới lạ, đa dạng hơn, hướng sự quan tâm chủ yếu đến trải nghiệm con người cùng ý thức về nỗi bất mãn, hoang mang trước thời cuộc, sự mâu thuẫn và xung đột giữa các hệ giá trị xã hội. Đồng thời, tự mỗi nhà văn luôn cố gắng tìm hướng đi mới trong việc tổ chức cốt truyện, xây dựng nhân vật cũng như thể nghiệm các chủ đề là những mối quan tâm lớn của xã hội đương thời. Bởi vậy, tiểu thuyết của Futabatei Simei thường mang đặc tính tự thuật, đong đầy nỗi lo âu, yếm thế trước xã hội biến động.

Trong khi đó, văn chương của Mori Ogai lại tỏ rõ khuynh hướng muốn đấu tranh cho tự do cá nhân, ý thức về thân phận của “kẻ bên lề” hay cam chịu. Còn với Natsume Soseki, tiểu thuyết của ông ngập ngụa nỗi cô đơn, sự va vấp và tinh thần tự nhiệm của kiếp người. Hay với Toson Simazaki, văn chương của ông mơn man nỗi bi quan cùng vẻ u sầu trước những xung đột của thời đại.

Nhất là từ cuối chặng đường Minh Trị trở đi, cùng với truyền thống duy tình, duy mĩ trong văn hóa Nhật, mĩ cảm hiện sinh đã trở nên sống động hơn rất nhiều khi các nhà văn lớn như Tanizaki Yunichiro (1886-1965), Akutagawa Ryunosuke (1892-1927), Shiga Naoya (1883-1971), Yokomitsu Riichi (1898-1947) hay Kawabata Yasunari (1899-1972) đều thể hiện rõ ý thức miêu tả, phân tích tâm lí con người, chú ý khắc họa những cuộc trải nghiệm, ca ngợi việc tận hưởng những cảm giác mới và thường xoáy sâu vào xung đột nội tâm của nhân vật về các vấn đề đông tây kim cổ…

Đặc biệt, từ sau năm 1945, chính bối cảnh hậu chiến cùng những mất mát và đau thương quá lớn trong đời sống xã hội đã khiến văn học Nhật Bản càng thấm đẫm tinh thần mĩ cảm hiện sinh. Nhiều nhà văn nổi tiếng đương thời đã trở thành những hiện thân cho thế hệ sống, trải nghiệm và viết qua cuộc Thế chiến thứ hai như Masuji Ibuse (1898-1993), Fumiko Hayashi (1904-1951), Yasushi Inoue (1907-1991), Dazai Osamu (1909-1948), Kobo Abe (1924-1993), Mishima Yukio (1925-1970) hay Oe Kenzaburo (1935)…

Ý thức về một thực tại đổ vỡ niềm tin, con người dần trở nên hỗn loạn, hoang mang, lo sợ, bi quan và bất tín trước sự rạn nứt của các lí tưởng truyền thống và giá trị đạo đức xã hội. Đó vừa là hoàn cảnh chung vừa là cảm hứng xuyên suốt của văn học giai đoạn này. Bởi vậy, độc giả thường bắt gặp trong tiểu thuyết của Yasushi Inoue nỗi cô đơn và sự ý thức về kiếp sống hư vô của con người. Trong khi đó, kiểu nhân vật mà Dazai Osamu miêu tả lại có nhiều hành vi nổi loạn và thái độ chống chế, cuối cùng cái chết được đề cập như một sự giải thoát những bế tắc.

Còn với Mishima Yukio và Kawabata Yasunari, truyền thống đã trở thành niềm hứng thú bất tuyệt, là tiếng gọi những trái tim đa sầu đa cảm. Tuy nhiên, những giá trị vang bóng được họ khơi lại luôn mang một sắc diện mới mẻ, đánh dấu sự thay đổi nhanh chóng của xã hội thực tại trên tinh thần ý thức kiếp sống hiện sinh. Đặc biệt, cả Kobo Abe và Oe Kenzaburo đều chịu ảnh hưởng bởi các tư tưởng của triết học hiện sinh nên những chủ đề họ thường đề cập là sự tha hóa, phi lí và sự cố gắng tự thể hiện mình của con người trong xã hội Nhật Bản hiện đại.

Bước sang nền văn học Nhật Bản đương đại, tinh thần hiện sinh đã vơi bớt phần nào yếu tố mĩ cảm, bởi cái đẹp giờ đây không còn là cảm hứng chính của các tác giả. Thay vào đó, cảm thức hiện sinh được thể hiện trong các tác phẩm một cách rộng rãi và gần gũi với những đặc trưng của chủ nghĩa hiện sinh. Tiếp cận và thể nghiệm lối sống hiện đại, chịu ảnh hưởng khá lớn từ các trào lưu, khuynh hướng sáng tác của phương Tây trong khi vẫn ý thức giữ gìn cốt cách dân tộc, nhiều tên tuổi lớn như Murakami Haruki (1949), Natsuo Kirino (1951), Murakami Ryu (1952), Keigo Higashino (1958), Banana Yoshimoto (1964)… vẫn không ngừng khẳng định tên tuổi và để lại dấu ấn đặc sắc trong dòng chảy văn chương hiện sinh Nhật Bản.

Có thể nói, mĩ cảm hiện sinh đã trở thành vẻ đẹp đặc trưng của văn hóa lẫn văn chương Nhật Bản. Khó có nền văn học nào thể hiện tinh thần hiện sinh mạnh mẽ và xuyên suốt trong chiều dài lịch sử như “xứ sở hoa anh đào”. Tuy nhiên, không giống như tinh thần hiện sinh được các nhà hiện sinh chủ nghĩa phương Tây phát triển thành học thuyết chủ nghĩa hiện sinh (existentialism) vào cuối thế kỉ XIX và đầu thế kỉ XX, cảm quan hiện sinh của nền văn học Nhật Bản có sự kế thừa và truyền lưu bởi nền văn hóa bản địa lâu đời.

Vì vậy, trong tương quan so sánh với thuyết hiện sinh của phương Tây, ở một chừng mực nhất định, tinh thần hiện sinh của Nhật Bản được biểu hiện một cách rất phương Đông như một thứ dân tộc tính: ý thức và khẳng định về sự tồn tại của cá nhân, cá thể nhưng vẫn không quên trách nhiệm tập thể, cộng đồng; khắc họa và nhấn mạnh về sự phi lí của thế giới và cuộc đời nhưng chỉ bàng bạc một cách nhẹ nhàng và luôn ý thức về sự tuần hoàn chứ chưa đến mức tàn khốc, nhìn nhận mọi giá trị đều tan vỡ; tinh thần tự do, nổi loạn tự thân và ý thức tự nhiệm luôn tồn tại nhưng không phải lúc nào cũng được đẩy đến mức mất phương hướng đến hỗn loạn…

Trước khi chủ nghĩa hiện sinh ra đời và được gọi tên ở phương Tây thì ở Nhật Bản, từ các tác phẩm văn học đến ý thức văn hóa xã hội của người Nhật nói chung đã mang cảm thức hiện sinh rõ nét và được thể hiện trong nội hàm của một số thuật ngữ như aware, yugen, sabi, wabi, horobi… Tư tưởng hiện sinh ở Nhật cũng không có một hoàn cảnh ra đời cụ thể mà được nhìn nhận như một phẩm tính truyền thống trong cốt cách dân tộc, luôn dung hòa với các phạm trù văn hóa khác như diễm tình và ưu nhã.

Theo tiến trình phát triển của lịch sử mĩ cảm hiện sinh Nhật Bản, đặc biệt kể từ sau sự kiện mở cửa rộng rãi của đất nước với thế giới phương Tây dưới thời Minh Trị, các giá trị tư tưởng của chủ nghĩa hiện sinh phương Tây bắt đầu du nhập vào Nhật Bản trong thế kỉ XX và dần được các nhà văn sau này đón nhận trên tinh thần đổi mới có kế thừa. Vì vậy, so với trước thời kì Minh Trị, mĩ cảm hiện sinh Nhật Bản từ thời hiện đại trở đi dần thay đổi một cách rõ rệt nhằm phản ánh xã hội và con người dưới thời đại mới.

Nhìn chung, xuất phát từ tình yêu và sự tôn thờ cái đẹp, tinh thần mĩ cảm được ánh xạ vào văn chương và hòa trong tâm thức hiện sinh đã dần trở thành một trong những phạm trù triết học liên ngành độc đáo, đặc trưng của riêng nền văn học Nhật Bản. Dù hành trình của thứ mĩ cảm lạ mà quen ấy có lúc hưng thịnh, đậm đà phong vị truyền thống (từ thời kì Edo trở về trước), có lúc được hồi cố, dung hòa giữa yếu tố Đông – Tây (thời kì Minh Trị đến Đại Chính), cũng có lúc nhẹ nhàng mà hư hao trong thời kì đương đại, nhưng tựu trung, tinh thần này luôn tồn tại và không ngừng phát tiết.

Dù mĩ cảm hiện sinh không phải là thuật ngữ chính thức trong hệ thống lí thuyết mĩ học Nhật Bản nhưng nhìn nhận một cách tương đối thì đó là sự giao thoa liên ngành giữa triết học hiện sinh Nhật Bản và mĩ học truyền thống. Việc nghiên cứu mĩ cảm hiện sinh từ văn hóa đến văn học Nhật không chỉ giúp người đọc giải mã các tầng lớp ý nghĩa tiềm ẩn của những hình tượng, biểu tượng để từ đó thấy được vẻ đẹp hiện sinh của mỗi tác phẩm, mà còn giúp người đọc hiểu rõ phong cách tác giả nói riêng và phong cách văn chương – văn hóa Nhật nói chung. Đặc biệt, khám phá mĩ cảm hiện sinh còn giúp chúng ta nhìn nhận một cách sâu sắc về việc cảm thụ cái đẹp Nhật Bản trong sự dung hòa nhất thể với vạn vật, ngay trong kiếp sống ưu buồn này.

Theo Nguyễn Hữu Minh/VNQĐ