Nguyễn Thị Hoàng – Màu rêu dõi bóng dấu thời gian

31

Nguyễn An Bình

Cảm nhận về tập thơ “Mây bay qua trời xưa”

(Vanchuongphuongnam.vn) – Nhắc đến Nguyễn Thị Hoàng, người ta nhớ đến một nhà văn nữ nổi tiếng trong 5 nhà văn nữ thành danh của văn chương miền Nam trước 1975: Nhã Ca, Trùng Dương, Túy Hồng, Nguyễn Thị Thụy Vũ và Nguyễn Thị Hoàng, mỗi người bằng một bút pháp khác biệt đã tạo cho mình một dấu ấn riêng, một thời “làm mưa làm gió” trên văn đàn và trong lòng người đọc thập niên 60 và giữa thập niên 70 thời bấy giờ.

Nhắc đến Nguyễn Thị Hoàng là nhắc đến một tác giả nữ viết văn xuôi tài năng, sung mãn về bút lực, sáng tạo phong phú về đề tài, văn chương đậm chất hiện sinh, lối viết quí phái sang trọng, với gần 30 tiểu thuyết và nhiều tập truyện ngắn, trong đó có tiểu thuyết “Vòng tay học trò” từng gây “chấn động”, xôn xao văn đàn miền Nam một thời.

Nguyễn Thị Hoàng đến với văn chương khá sớm, theo nhiều tài liệu phổ biến Nguyễn Thị Hoàng sinh ngày 11.12.1939 tại Huế. Nhiều trang mạng điện tử chỉ ghi quê quán là Huế, song thực thì đó là nơi sinh, nguyên quán ở thôn Quảng Điền, xã Triệu Đại, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Hồi nhỏ học Đồng Khánh, Huế. Năm 1957, chuyển vào sinh sống ở Nha Trang. Khởi viết bằng thơ, đăng bài đầu từ những năm 1960 ở Bách Khoa, Văn. Từ 1960 vào Sài Gòn học Đại học Văn khoa và Luật. Chán chương trình, không khí ở Văn khoa, Luật, bỏ học đi làm, đi dạy Việt Văn và Anh văn ở Sài Gòn, rồi giáo sư Việt văn ở Đà Lạt. Nguyễn Thị Hoàng kể: “Trường nữ dư giáo sư, trường nam thiếu nên xảy chuyện “hoa lạc giữa rừng gươm”, 1962. Năm sau bỏ Đà-Lạt. Mùa hè 1964, với một xấp pelure ố vàng, một cây bút gì đó, viết một hơi một tháng hoàn thành tác phẩm Vòng tay học trò. Bách khoa in mấy kỳ, thiên hạ xôn xao” (Trả lời phỏng vấn của Mai Ninh). Đây cũng là tác phẩm đầu tay của nhà văn in dưới bút danh Hoàng Đông Phương xuất bản năm 1966, đã đưa tên tuổi Nguyễn Thị Hoàng nổi tiếng là một trong những tác giả có sách bán chạy nhất ở Sài Gòn trong những năm 1960. Tác phẩm được tái bản 4 lần trong vòng mấy tháng, nhưng sóng gió cũng bắt đầu từ đó. Từ 1966, bà bỏ làm việc, bỏ dạy học, chỉ chuyên tâm viết tiểu thuyết cho đến 1975. Từ 1966 đến 1974 hơn 30 tác phẩm truyện dài và truyện ngắn liên tiếp được xuất bản. Sau này, chính nhà văn cho rằng đây là giai đoạn tồi tệ nhất của mình, do bức bách cuộc sống, phải viết để sống, không phải sống để viết. Chỉ để sống. Làm sao để có thể sống. Và vì bầy con gái của mình trong hoàn cảnh chiến tranh loạn lạc bất an, chồng bà liên tục phải trốn lính, bị bắt lính rồi đào ngũ và tiếp tục trốn… Gánh nặng mưu sinh như dồn cả đôi vai gầy guộc của người phụ nữ đa đoan đầy cá tính, đầy đam mê văn chương, khát khao được sống như chính mình, là mình, nhưng cũng đầy bổn phận và trách nhiệm với gia đình ấy.

Nhưng có lẽ nhiều người sẽ ngạc nhiên hơn con đường bước vào văn chương của chị trước tiên không phải là văn mà là thơ. Hãy nghe tâm sự của bà về khoảng thời gian đó:

… Từ lớp nhất (lớp 5 bây giờ) trường Đoàn Thị Điểm, Huế, những bài thơ rỉ rả đầu tiên, không vì đâu vì sao viết vào trang vở xé, nhét xuống hộc bàn, bỏ quên đâu đó, rồi những bài được gọi là thơ khởi nguồn từ lớp đệ ngũ (lớp 7) Đồng Khánh, bạn bè và cô giáo bắt gặp chuyền nhau đọc, in lên bích báo trường, chép lén chia nhau… Người viết ra không có và cũng chẳng nhớ bài nào. Chỉ một câu trong Tình vật lý cô giáo khen ngợi ngâm nga “ai bình phương cường độ của lòng đau”, toàn những chữ của bài đã học. Mười bốn tuổi chưa có lòng thì lấy gì đau, thật là… láo toét. Cũng có thể là dự báo thời tiết cho cuộc đời bất ổn mai sau. Cùng thời là bài Chi lạ rứa. Bạn bên cạnh chép, rồi truyền đi, lớp này, lớp khác. Người viết lại không có và không nhớ, trừ một vài câu nghe mãi xung quanh “chi lạ rứa chiều ni tui muốn khóc. Ngó chi tui đồ cỏ mọn hoa hèn”. Nói cho văn vẻ thôi, không là cỏ mọn, hoa hèn gì đâu. Thơ biến mất nhưng nguyên nhân thì còn lại. Ngồi tựa gốc cây phượng sân trường giờ chơi nhìn ra lối vào bên kia bãi cỏ, người đi vào lững thững đứng lại nghiêng đầu nhìn không đăm đăm nhưng lâu hơn một thoáng, mỉm cười… Có vậy thôi mà “chi lạ rứa bên ni bờ tui khóc”.

Nhà thơ Nguyễn An Bình phát biểu

…Cho đến khoảng 1960, nhóm Bách Khoa của Lê Ngộ Châu, tình cờ mà cơ duyên, tìm được và tóm gọn những bài thơ đầu tiên trong mấy tập thơ viết tay bị lấy mất. 1964 là chuyển đoạn qua cuộc trường kỳ kháng chiến phu thê, thơ biến mất nhường lời cho tiểu thuyết (Nguyễn Hiến Lê gọi Nguyễn Thị Hoàng là tiểu thuyết gia, mấy người khác còn gọi là văn hào, đại văn hào, thật hay đùa không cần biết nhưng vẫn được trả lời vui vẻ, đúng rồi, thêm giùm chữ g, là văng đại xuống hào).

Những năm 70, rồi 80, 90, thơ sống lại từ những nguồn cơn và tâm cảnh khác, thoi thóp và bất thường như hơi thở khi triền miên khi đứt nối chập chờn. Thật ra, từ 90, thơ theo dòng những biến chuyển khác, cuộc đời và cảm nghĩ, dần dần ra khỏi những ác mộng triền miên, thấy biết mà chưa thể lên đường phương hướng mới.

Dấu vết trên đường đi của một con người qua số mệnh, mỗi một có vẻ như chính là nhưng chẳng phải. Như mỗi hạt ngọc hay đá không là xâu chuỗi, mà phải liên kết bằng sợi dây ẩn khuất bên trong mới biết được là gì. Từ những than van rên rĩ vì những biến cố tội phúc đầu tiên, đến lời câm trách oán về lối rẽ bất ngờ từ nợ duyên tiền kiếp, giây phút hồi sinh xao xuyến vì vẻ đẹp tương giao thoáng qua thân ái xa vời, trở về ngõ đời phận sự tắt tiếng im hơi. Một thời dài chìm đắm viết để sống mà không bao giờ được sống để viết.

Bà như trầm mình trong những dòng suy tư khi nói về thơ. Thơ là cái bóng không thể xa rời hình dù nó lẩn khuất đâu đó không hề lộ diện:

Rồi đêm mưa khởi đầu cơn ác mộng triền miên. Thơ trở về nỉ non, tha thiết, đắm đuối, mơ say… Toàn thể tâm thức và tình thế của một thứ người nín sống từ lâu tỉnh dậy. Chỉ là tỉnh dậy trong chiêm bao để nương tựa và phóng hóa tương đối thành tuyệt đối, để tìm lại mình, để níu lại đời. Cho đến khi đêm dài dứt nẻo, ngày trở về nguyên sơ thể tính bình minh.

Qua những khúc đời lưu chuyển ấy, thơ đến rồi đi, không giữ gìn không ước hẹn. Đến, từ một xúc động bất chợt mong manh vẻ thoáng hiện sáng ngời của bóng dáng, sợi nắng, giọt mưa, cơn gió, bông hoa, bờ rêu, vệt cỏ … Trên tất cả thường là một hình tượng mơ hồ ảo giác không bao giờ có thật trên đời, hoặc có thì cũng chỉ là lầm tưởng. Những lúc ấy thơ như con dã tràng trên bãi cát, chụp bắt nhanh hoặc biến mất vào những lỗ sóng xoi mòn. Nên vớ phải bất cứ thứ bút gì, mảnh giấy vụn nào, tờ lịch xé, mẩu hóa đơn… ghi nhanh có khi trong đêm chưa kịp bật sáng đèn, ngoài đường đi, trên xe tàu, bãi bờ, bất cứ lúc nào và bất cứ nơi đâu, hứng đón lấy khi nó ứa ra, như giọt máu từ vết thương, nước mắt khi hoài niệm, mồ hôi thời bửa củi trên rừng… Chỉ cần thở ra được hơi thở lửa nén vào lúc ấy. Sau đó, những mảnh rời vất bỏ, mất mát, lẫn lộn vào đâu trong mớ bản thảo cùng chôn vùi rách nát mấy mươi năm”.

Như vậy, truyện ngắn và tiểu thuyết không phải là hai thể loại mở đầu sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Thị Hoàng mà chính là thơ. Có thể nói “Thơ là người tình đầu tiên của bà”. Năm 1960 với tập Sầu riêng, năm 1961 tập thơ thứ hai Kiếp đam mê. Nhiều anh chị em văn nghệ sĩ và thân hữu của tôi, khi nhắc đến Nguyễn Thị Hoàng vẫn đọc ngay bài Chi lạ rứa mà nửa thế kỷ trước các anh chị từng yêu mến:

Chi lạ rứa, chiều ni tui muốn khóc,
Ngó chi tui đồ cỏ mọn, hoa hèn.
Nhìn chi tui hình đom đóm đêm đen,
Cho tui tủi bên ni bờ cô tịch.

Tui ao ước có bao giờ tuyệt đích,
Tui van xin răng mà cứ làm ngơ.
Rồi ngó tui, chi lạ rứa hững hờ,
Ghét, yêu, mến, vô duyên và trơ trẽn!

Bà trở lại với thơ qua tập “Mây bay qua trời xưa” năm 2020 sau nhiều năm vắng bóng. Đây là tập thơ thứ ba của bà sau tập Sầu riêng(1960), Kiếp đam mê(1961), tập hợp tuyển chọn những bài thơ Nguyễn Thị Hoàng viết từ 1960 đến 2018. Mây bay qua trời xưa, tập thơ mới nhất với 137 bài thơ ngắn dài viết trong 58 năm, đối với chúng ta đó là một khoảng thời gian quá dài cho sự hình thành ra đời một tập thơ. Trong 58 năm đó, từ một phụ nữ thanh xuân tràn đầy nhựa sống với bao khát vọng mộng mơ trải qua bao biến thiên dữ dội của thời cuộc tâm hồn ấy đã ít nhiều chai sạn, hững hờ thậm chí cằn cỗi của một người đàn đà tuổi xế chiều đang men theo bờ vực về nơi vĩnh hằng, 58 năm cả một đời người lăn trầm trong vòng xoáy định mệnh có thể làm thay đổi bất cứ điều gì thì không dễ gì chúng ta nắm bắt hay theo kịp khúc dã cầm trong từng nốt thơ trải dài trong cuộc dâu bể đó, cho nên những cảm nhận suy nghĩ của chúng ta viết về thơ bà cũng chỉ dựng lại ở sự đồng cảm về số phận người đàn bà luôn ẩn chứa hoài nghi trong lòng và luôn muốn vượt thoát như dòng suối nhỏ chảy về sông và sông xuôi về biển lớn mà thôi.

Nhà thơ Nguyễn An Bình và Nhà thơ Nguyễn Thị Hoàng

Bà đã từng tâm sự:

 “Thơ là tiếng im thoát ra từ niềm đau, như giọt máu ứa từ vết thương lặng lẽ. Là tiếng vọng thiết tha của yêu thương, bâng khuâng của tưởng tiếc những vẻ đẹp, nguồn vui đã đến rồi đi mất hút suốt đời. Đôi khi cũng là tiếng gào la thống hận, hay tiếng vang lừng ca ngợi hân hoan. Là tiếp điểm của cảm ứng giữa con người và thiên nhiên, mối nối êm đềm giữa nội tâm cùng ngoại giới. Là nguồn xúc động ngắn ngủi hay dài lâu của chủ thể và tha nhân, khi tình cờ bắt gặp hay tìm kiếm được đáp số trên hành trình thao thức chờ mong.

Nên, thơ là nguồn xúc động, phản chấn bên trong từ một hiện tượng, sự kiện, tình thế bên ngoài, hoặc một bất ngờ hiện tại vang dội từ đáy thẳm hồi ức và hoài niệm. Cuộc bốc thoát và trôi lướt hồn nhiên của ý trên dòng êm vô thức ấy, dẫu lặng mà không tịnh vì huyên náo âm vang khắp thần trí và tâm can người cảm niệm.

Nếu tiểu thuyết giới hạn trong mô hình của chủ đề thì thơ mông lung vô tận như mây trời, vì là cuộc vỡ tràn của uẩn thức nương theo vay mượn ngôn từ của ý thức bốc thoát ra cõi hữu hình xa lạ và đôi khi đối nghịch. Vì thế thơ phải hoàn toàn được tự do về ý tứ diễn tả, trừ những thể loại tất yếu chìu theo âm luật của thơ. Và cũng không thể uốn ép thơ như tóc đàn bà theo kiểu mẫu của người nhìn ngắm. Cũng đừng thắc mắc dò hỏi từ đâu và tại sao. Vì, nó như thế là như thế. Vấn đề là cảm hay không cảm. Có thể cảm mà không nhận. Có thể cảm và nhận thì cảm nhận ấy sắc phong thơ thành hòa điệu vô thanh của những tâm hồn cách trở mà vẫn có thể cùng nhau.

  Khi đọc tập thơ, điều đầu tiên tôi chú ý đến 4 câu thơ trong bài Lời Rêu của chị nằm ở tai bìa sau tác phẩm:

Ai đi qua xa vắng

Bỏ chiều run một mình

Giọt cà phê máu mặn

Nỗi nhớ này quyên sinh

(Lời Rêu)

Chị đã chọn 4 câu thơ trong số 36 câu thơ của bài thơ để trút lấynỗi niềm và suy tư nghiền ngẫm về sự cô đơn, thân phận nhỏ nhoi của một kiếp người thì chỉ có tác giả mới lý giải cho điều nầy được mà thôi. Có lẽ nhận ra tính cách khác lạ trong luồng tư tưởng của bài thơ mà nhạc sĩ Phú Quang đã chọn để phổ nhạc bài nầy chăng? Qua tiếng hát ngọt ngào sâu lắng của nhiều ca sĩ như Ngọc Anh, Trần Thu Hà… đã lột tả phần nào cái uẩn khúc trong lòng người đàn bà đa đoan đầy trắc ẩn. Câu chuyện được kể như thế nầy:

Sau năm 1975, nữ tác giả Nguyễn Thị Hoàng gần như ở ẩn và không đi lại với giới cầm bút. Tuy nhiên, đầu thập niên 1990, có một nhân vật thường xuyên tiếp xúc với nữ tác giả Nguyễn Thị Hoàng là nhạc sĩ Phú Quang.

Không chỉ là một người hâm mộ tiểu thuyết Nguyễn Thị Hoàng, nhạc sĩ Phú Quang còn được nữ tác giả chia sẻ những bài thơ mới sáng tác. Cách đây 30 năm, tại quán cà phê do ái nữ của Nguyễn Thị Hoàng làm chủ, nhạc sĩ Phú Quang đã được Nguyễn Thị Hoàng đọc cho nghe bài thơ “Lời rêu”. Những tâm tư cồn cào trong “Lời rêu” đã khiến nhạc sĩ Phú Quang lập tức phổ nhạc thành ca khúc cùng tên.

Những câu thơ khi đọc lên làm ray rứt khôn nguôi, nỗi đắng cay nhọc nhằn, niềm cô độc lẻ loi trở thành những giọt sầu rơi đọng trên trang bản thảo đong đầy nước mắt:

Uống cùng nhau một giọt

Đắng cay nào chia đôi

Chung một niềm đơn độc

Riêng mỗi đời pha phôi

Ngày mai ta bỏ đi

Trần gian xin trả lại

Đá tảng nào vô tri

Chết một đời rêu ai.

Trong Mây bay qua trời xưa ta thấy đa số là những bài thơ ngắn viết theo thể thơ lục bát, năm chữ hay bốn chữ chiếm đại đa số, đối với bà có lẽ chỉ cần vài câu thơ ngắn cũng diễn tả được nỗi lòng chất chứa đầy tâm sự cần gì phải viết chi  dông dài?

Qua thơ bà, ta cảm nhận làm người sao khó thế, bao giờ như đứng trước một ngã tư, sự chao đảo phân rẽ trước các lối đi làm cho “Không còn nước mắt chiều nay” chăng?:

 Đèn xanh đèn đỏ rồi đây

Bơ vơ tôi đứng trông ngày tàn vơi

Bao nhiêu xác lá lìa đời

Trầm luân rõ dấu trên mười ngón tay

Không còn nước mắt chiều nay

Cho tôi khóc những tháng ngày âm u.

(Ngã tư)

Thời gian có thể làm cho người ta xa mặt cách lòng, cũng có thể gần lắm trước mắt mà lại không thấy nhau, linh hồn lãng du nơi xa xôi ngàn dặm:

Thôi tôi dừng bước lãng du

Bốn phương dằng dặc sương mù về đâu

Nhớ em đêm tủi ngày sầu

Ơi con đường sắt chuyến tàu về không

(Xa nhau)

Không hiếm những bài thơ 4 chữ, ý lại lắng đọng gợi cho người đọc nhiều cảm xúc những gì phía sau những dòng thơ ngắn ngủi đó:

Xa nhau từ đây

Mùa tàn trên tay

Trông nhau lần cuối

Khói hoàng hôn bay

(Quán)

Hay:

Gió còn thổi mãi

Lời ta ru người

Ngân trong đêm dài

Niềm yêu đời đời

(Gió xưa)

Làm tôi nhớ đến thơ của Tuệ Mai cũng thế:

Một lần khép nép

Chào biệt mẹ cha

Phận con là gái

Như hạt mưa sa…

(Bài thơ vu qui)

Cũng có những bài thơ rất ngắn chỉ có 4 câu như Xót xa, Mất, Lưới, Đừng, Chôn, Hận, Biểu tưởng, Tiếng chiều, Dỗ dành, Tự thuật… trải dài suốt tập thơ cho thấy bà trong một lúc hứng khởi nào đó viết ngay rồi lại vứt bút như muốn quên đi tất cả:

Sáng nay trên bản thảo

Đường cong một đôi môi

Giữa làn hương hư ảo

Lung linh một dáng ngồi

(Biểu tượng)

Đôi khi xen vào đó là một bài thơ rất dài viết theo thể tự do trường thiên trên 100 câu tạo cho ta có ý nghĩ bài thơ nhiều lớp sóng chồng lên nhau vỗ vào bờ không bao giờ dứt, có cảm giác giữa thời gian và không gian không còn có sự cách biệt nào khác:

…Hỡi em

Vầng mặt trời vĩnh biệt

Ta chẳng còn gì hơn màu xanh trú ẩn

Nơi bóng hình vô ưu

Nơi cuộc tình mưa ngâu

Ta chẳng còn đường đi và chẳng còn nơi đến

Chuyến tàu qua thâu đêm

Em đầy trời sao sáng…

(Cổ tích)

Cái cô độc khi bỏ phố lên rừng, phải chăng lúc ấy con người mới thấu cảm  và hòa đồng cùng trời đất, trăng sao, mây gió, con người sao quá nhỏ nhoi đến thế:

Năm năm vác cuốc lên rừng

Ngày vui khoai sắc đêm mừng trăng sao

Kêu gì đất thấp trời cao

Thương gì thân đã gầy hao hết đời

(Lên rừng)

Một cái nhìn lạ lẫm cho một cuộc phục sinh, hai tâm hồn như quyện vào nhau, tình yêu trong lòng người đàn bà trổi dậy sao mà ngọt ngào dễ thương mà gắn bó chân tình đến thế:

Em sẽ rửa chân anh

Bằng môi và tóc em

Buổi chiều nào gió im lời gió

Để bờ cây lặng im

Cõi chúng mình

Em sẽ rửa chân anh

Với ngàn hoa hồng xanh

Ngày lễ mừng thức dậy

Trên sắc bóng long lanh

Vũ trụ mình

(Phục sinh)

Và đời người phải chăng chỉ là một đám mây, một dòng nước trôi đi:

Nầy tôi còn lại gì không

Xót xa cát bụi tần ngần ước mơ

Bên nhau mãi mãi đôi bờ

Cuối khe chiều lạnh bơ phờ gió đông

Nầy em còn lại gị không

Hai ta là cõi mù sương cuối cùng

(Còn lại)

Mỗi lần đọc lại thơ Nguyễn Thị Hoàng là ta khám phá ra thêm những điều mới mẻ khác, có người nhận xét thơ Nguyễn Thị Hoàng đề cập nhiều cung bậc nhân sinh, nhưng cũng như bao nhiêu nhà thơ khác, Nguyễn Thị Hoàng viết nhiều thơ tình và phải nói suối nguồn cảm hứng này ở bà tuôn trào dạt dào, lai láng.

Chị Hoàng Kim Oanh, nhà phê bình văn học có nhận xét: “Nguyễn Thị Hoàng vẫn là Nguyễn Thị Hoàng. Dù trong Mây bay qua trời xưa tập thơ mới nhất với 137 bài thơ ngắn dài viết từ 1960 đến 2018 đã không ít câu thấp thoáng bóng hình hai chữ hư vô…

“Này tôi còn lại gì không

xót xa cát bụi tần ngần ước mơ”

                                (Còn lại, tr.133)

“Cuối chiều mây đã vắng

trên đầu tóc đã thay

trong ly men đã đắng

bên người hương đã phai”

                              (Hoang vu, tr.168)

“Ai đi qua xa vắng

Bỏ chiều run một mình

Giọt cà phê máu mặn

Nỗi nhớ này quyên sinh”

Ngày mai ta bỏ đi

Trần gian xin trả lại

Đá tảng nào vô tri

Chết một đời rêu ai”

                 (Lời rêu, 107-9)

 Bùi Giáng lúc sinh thời đã dành những lời ngợi khen: “Thơ Nguyễn Thị Hoàng trang nhã như thơ Bà huyện Thanh Quan, mà lại cũng cay đắng như thơ Hồ Xuân Hương, nhiều lúc nghe thống thiết như thơ bà Đoàn Thị Điểm”. Không biết có đúng không nên tôi xin dành cho mọi người thẩm định vậy.

Nguyễn Thị Hoàng đã từng có nhận xét về cách phê bình nhận định của các nhà lý luận văn học:

 Giữa những người viết và những người phê bình luôn là khoảng cách mênh mông, tôi không thể nào đọc và hiểu họ cũng như họ không đọc và hiểu tôi.

     Bà còn có những suy tư rất khác về cách viết, cách phê bình của họ: Phê bình là phải hiểu, phải tương thông với nhau, không cần lý thuyết hay triết lý nào, là cảm nhận được chút gì đó, do tiếp xúc, do gần gũi, do nhìn ngắm được nhau. Gọi là quan niệm về phê bình hay cũng là mơ ước, mong muốn những đồng cảm khách quan  khi nhìn nhận đánh giá bất kỳ tác phẩm, tác giả nào, thân hay sơ, không phải tiếng nói một chiều mà đa chiều kích. Và người viết có thể vượt qua những định kiến khen chê có thể có, không chờ đợi cũng không hy vọng hay thất vọng. Viết như mình cảm nhận và mong muốn nhắn gửi với cuộc đời.

Tôi cũng rất đồng tình với bà về nhận định nầy nên khi viết cảm nhận về thơ bà tôi chỉ muốn ghi lại những cảm xúc rung động chân thật còn muốn hiểu rõ tâm trạng người đàn bà làm thơ “như giọt máu ứa từ vết thương lặng lẽ” thì thật khó thay. Tôi là người làm thơ, yêu thơ và thích đọc thơ của người khác dù người đó nổi tiếng hay không nổi tiếng miễn là chạm tới trái tim mình thì những cung bậc văn chương lại rung lên. Thơ Nguyễn Thị Hoàng là cả một trời riêng của bà, là lời rêu trên mái ngói rêu phong, là tiếng chim đêm buồn thảm bay qua vườn xưa, là khúc hát dành cho người tình cũ, là sự thao thức trầm luân của một kiếp người đi qua dâu bể. Thôi thì xin dừng lại bằng mấy câu thơ:

           Mây bay qua trời xưa

           Bóng thời gian chìm khuất

          Người về đã về chưa

         Mùi rêu còn vương vất.

Bên bở Kênh Tẻ, tháng 3-2022

Nguyễn An Bình

_______________________________

Tham khảo:

1- Nguyễn Thị Hoàng – Người yêu muôn thuở của Phạm Thị Hoài

2- Nguyễn Thị Hoàng “Đâu biết đời kia vẫn đợi chờ”… của Hoàng Kim Oanh

3- Thơ Như Giọt Máu Ứa của Nguyễn Hoàn