Những dấu ấn lịch sử – Vần thơ tri ân

12

                                                                                                                                                        

                                                                                  Tuyết Mai 

(Vanchuongphuongnam.vn) – Tập thơ “Những dấu ấn lịch sử” của Lê Ngọc Phái ta phải đọc nhiều lần và không khéo, sự thích thú khiến ta đi tìm tư liệu tra cứu để biết rõ hơn.

Từ lâu, với tôi lịch sử là môn khô khan, những con số, niên hiệu, chiến công… không dễ kéo ai vào cuộc cùng mình. Nhưng, Lê Ngọc Phái thực sự đã làm tôi thích vì anh kể chuyện lịch sử bằng những bài thơ Đường luật. Những bài thơ 8 câu 7 chữ đang kể về những vị anh hùng dân tộc của nước Việt thân yêu thật ngọt ngào và tuyệt đẹp. Họ sinh ra ở đâu, làm gì, đã lập nên những chiến công hiển hách vào thời đại nào? Đánh đuổi ngoại xâm bằng những chiến thuật gì? Chuyện không có gì mới lạ nhưng liệu ai đã học, đã nghe, đã đọc còn nhớ hết?

Hàng ngày chúng ta đi qua bao con đường, ngõ phố mang tên các vị anh hùng dân tộc. Nào Hai Bà Trưng, Đinh Tiên Hoàng, Trần Hưng Đạo, Phạm Ngũ Lão, Nguyễn Huệ, Phan Đình Phùng, Cao Thắng… Có bao giờ chúng ta tự hỏi họ là ai? Đã đánh thắng quân Tần, quân Hán, quân Nguyên hay quân Pháp? Hay, chúng ta vô tình đi rồi lại đi. Tôi nghĩ, để giải đáp nhanh, ngắn gọn nhất thì hãy mở tập thơ “Những dấu ấn lịch sử” của tác giả Lê Ngọc Phái ra tìm hiểu.

Hãy nghe anh kể về người anh hùng đất Hoa Lư:

Đánh trận cờ lau buổi thiếu thời

Điều hành binh tướng, tưởng rằng chơi

Mổ trâu mời bạn hân hoan chén

Rước kiệu nghinh “vua” rộn rã cười.

                                    (Đánh trận cờ lau)

Với những dòng thơ vui tươi lạ lùng như thế, đố ai không muốn biết tại sao thuở bé Đinh Tiên Hoàng đã từng mổ trâu khao tiệc bạn cùng tham gia những trận đánh bằng cờ lau tưng bừng thế nào.

Bạch Đằng Giang, con sông mãi còn ghi dấu tích của bao nhiêu trận đánh oai hùng của quân dân ta, thủy triều con sông cứ vô tư lên rồi xuống nhưng với những nhà chiến lược tài ba thì đây là thời cơ chiến thắng.  Ngô Quyền đánh Nam Hán, Lê Đại Hành đuổi quân Tống rồi Trần Hưng Đạo chống Nguyên Mông, tất cả đều lập chiến tích trên sông Bạch Đằng bằng con nước trời cho:

Đốn cây, vạc gỗ dìm sông rộng

Nhử giặc, đưa thuyền đến bãi sâu

Bạch Đằng diệu kế xua tan địch

Chấm dứt đêm dài chịu khổ đau.

                            (Ngô Quyền)

 Hoặc:

Lê Hoàn dẹp hết loạn đao binh
”Thập đạo…” danh phong mở vận trình
Gióng trống trừ Chiêm phò quốc sự
Phất cờ phạt Tống trợ dân sinh
                               (Lê Đại Hành)

Hoặc:

Ba lần soái lĩnh chống Mông Nguyên

Quốc Tuấn xua tan lũ bá quyền

Hàm Tử, Lạng Sơn nghe khiếp vía

Bạch Đằng, Tây Kết thấy kinh thiên.

                                             (Trần Quốc Tuấn)

 Ai đã ba lần lãnh đạo quân dân đánh thắng giặc Nguyên Mông, ai là vị Tổng tư lệnh quân đội được thế giới tôn vinh là một trong mười tướng lãnh giỏi nhất trái đất? Đó là Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn. Và, tên ông luôn được đặt cho con đường lớn trong thành phố: đường Trần Hưng Đạo. Nhà thơ Lê Ngọc Phái giả vờ đố chúng ta xem có biết Trần Quốc Tuấn là ai nên đã cảm kích đặt tên bài thơ là tên khai sinh của ông, Đức Thánh Trần nổi tiếng mà nhân gian đã xưng tụng.

Tôi không điểm lại hết tất cả các chiến công của cả trăm vị anh hùng mà tác giả đã viết, nhưng tôi muốn chúng ta cùng nhau tưởng niệm  tấm lòng yêu nước của các chí sĩ thời chống Pháp, hầu hết họ là những người sẵn sàng hiến dâng thân mình cho tổ quốc: Đại thần Nguyễn Tri Phương sẵn sàng nhịn ăn chịu chết, Tổng đốc Hoàng Diệu dùng khăn bịt đầu tự vẫn sau khi vào Hành cung thảo tờ di biểu, Lâm Hoành và Trần Thúc Nhẫn nhảy xuống sông khi thành Trấn Hải (Thuận An Huế) thất thủ, Trương Định rút gươm tự sát tại Ao Dinh (Gò Công), Phạm Hồng Thái gieo mình xuống sông Châu Giang (Trung Quốc) khi thất bại trong việc ám sát Toàn quyền Đông Dương Pháp, Cô Giang dùng súng bắn vào mình ở gốc cây đề làng Thổ Tang (Vĩnh Phúc):

Nguyễn Tri Phương bậc đại công thần

Chống lũ tham tàn chẳng tiếc thân

Đã bị thương, lòng cam chịu chết

Quyết hy sinh, địch chữa đâu cần

                                (Nguyễn Tri Phương)

Hoặc:

Triều đình bão táp dậy kinh đô

Hạm đội Lang Sa chiếm cõi bờ

Lâm Hoành tuẫn tiết gương luôn sáng

Thúc Nhẫn hy sinh chí chẳng mờ

                (Bão táp kinh thành Huế)

Hoặc

Kháng lệnh thiên triều quyết đánh Tây

Nằm gai nếm mật suốt đêm ngày

Mượn gươm thiêng thoát bàn tay quỷ

Bản lĩnh phi thường đánh kính thay!

                       (Trương Định)

Hoặc:

Châu Giang cuộn nước khơi lòng nhớ

Hồng Thái gieo mình dậy sóng thương

Tiếng bom Sa Diện rền muôn thuở

Trước mộ anh hùng ngấn lệ vương!

       (Viếng mộ Phạm Hồng Thái)

Và biết bao nhiêu vị anh hùng hy sinh trên mặt trận như Lãnh Binh Thăng, Đinh Công Tráng, Phan Đình Phùng, Cao Thắng… đều đã tử thương anh dũng trong các trận quyết chiến:

Danh lừng Ông Lãnh huyện Tân An

Đánh đuổi quân Tây, diệt bạo tàn

Cùng nghĩa binh tầm vông vạc nhọn

Quyết tâm kháng chiến chẳng quy hàng.

                         (Lãnh Binh Thăng)

Hoặc:

Địch vây tứ phía không run sợ

Súng bắn liên hồi chẳng hãi kinh

Công Tráng tô hồng trang sử Việt

Đời đời rạng rỡ bậc anh linh.

                     (Đinh Công Tráng)

Hoặc:

Địch đào mồ mả, không lay chuyển

Tây bắt thân nhân, chẳng chịu về

Lâm phải trọng thương ngoài chiến tuyến

Dở dang sự nghiệp, xót câu thề!

                         (Phan Đình Phùng)

Thủ Khoa Huân bị hành quyết tại Mỹ Tịnh An (Tiền Giang), Nguyễn Trung Trực bị hành hình tại Rạch Giá, Trần Cao Vân và Thái Phiên bị chém tại An Hòa (Huế), Trần Quý Cáp bị chặt ngang lưng bên cầu Phước Thạnh ở sông Cạn (Khánh Hòa), Nguyễn Thái Học, Ký Con và hàng trăm người khác trong cuộc Khởi nghĩa Yên Bái đã bị giặc Pháp bắn chém:

 Ngọt lời dụ dỗ đâu nao núng

 Khổ chốn lao lung chẳng ngại ngần

 Thà chết không theo loài ác quỷ

 Nghìn đời ngưỡng mộ Thủ Khoa Huân.

                         (Thủ Khoa Huân) 

Hoặc:

Đốt tàu Hy Vọng rền sông núi

Đánh bốt Kiên Giang dậy đất trời

Cửa Cạn, Hòn Chông nêu dũng khí

Ngọn cờ chống Pháp lộng trùng khơi.

                  (Nguyễn Trung Trực)

Hoặc:

Tòa Khâm độc ác đầy mưu hiểm

Quan lại gian tham lắm ý tà

Sông Cạn thấm sâu dòng máu đỏ

Than ôi! Đau đớn nước non nhà!

                    (Trần Quý Cáp)

Hoặc:

Mối thù giặc Pháp lớn tày non

Yên Bái hưng binh quyết sống còn

Sông núi dâng trào niềm uất hận

Lệ nhòa mắt mẹ xót đàn con.

          (Khởi nghĩa Yên Bái)

 

Yêu lịch sử cũng là yêu đất nước. Vì không giỏi lịch sử nên tôi đã từng vô tình khi đi qua kênh Vĩnh Tế, thăm lăng Thoại Ngọc Hầu trong lần du lịch miền Tây với bạn bè. Giờ đọc thơ anh, tôi mới tự chê mình vô tâm. Một danh tướng của triều vua Minh Mạng suốt đời chỉ lo bảo vệ biên cương, mở mang bờ cõi, đào kênh lập ấp… và bây giờ mỗi lần đi qua vùng Châu Đốc – Hà Tiên ta đều vui sướng khi thấy con kênh Vĩnh Tế thật dài chạy dọc theo biên giới Campuchia – Việt Nam mang tên vợ của ông vì bà đã giúp ông rất nhiều trong việc xây dựng và được vua đặt tên bà cho con kênh lịch sử. Đây là niềm tự hào của gia đình ông và nhân dân miền sông Hậu:

Trấn thủ riêng phương tướng Ngọc Hầu

Xây làng mở cõi đẹp nghìn sau

Đào kênh Vĩnh Tế thông vùng mới

Khai rạch Thoại Hà nối ấp sâu.

                                 (Thoại Ngọc Hầu)

Trong lịch sử Việt Nam, các đấng nữ nhi đã để lại trong lòng mọi người sự cảm phục khôn cùng. Đầu tiên là cuộc khởi nghĩa chống quân Đông Hán của hai chị em đất Mê Linh, Trưng Trắc – Trưng Nhị, vào năm 40 với sự tham gia của nữ tướng văn võ song toàn Lê Chân người Quảng Ninh rồi đến cuộc tấn công quân Đông Ngô của người con gái xinh đẹp đất Thanh Hóa Triệu Thị Trinh vào năm 248. Tất cả họ đều từ bỏ giàu sang hạnh phúc, tham gia chiến đấu chống quân thù. Khi thất bại, các bà đều chọn cách tự kết liễu đời mình để giữ tròn khí tiết. Ngòi bút của nhà thơ làm ta khâm phục tính cương quyết oai hùng của các bà vô biên:

Hai Bà Trưng hội kiến Lê Chân

Chiến thắng Mê Linh đã tới gần

Giặc Hán lâm nguy đành tháo chạy

Rạng ngời nữ tướng của toàn dân!

                      (Nữ tướng Lê Chân)

Hoặc:

“Đạp cơn sóng dữ chém tràng kình”

Nữ tướng danh lừng Triệu Thị Trinh

Dũng mãnh giương cờ xua chiến tượng

Oai hùng tuốt kiếm giục tinh binh.

                   (Nữ tướng Triệu Thị Trinh)

 

Đau buồn và cảm động hơn cả là cái chết của Đô đốc Bùi Thị Xuân. Bà là một nữ tướng văn võ kiệt xuất. Bà và chồng, tướng quân Trần Quang Diệu, là những tướng lĩnh trụ cột của nhà Tây Sơn. Sự khẳng khái của bà khi bà và con gái bị hành hình bằng cách cho voi giày dã man làm mọi người phải cúi đầu khâm phục. Liệu ai không rơi nước mắt, lúc đứa con gái 15 tuổi sợ quá kêu gào mẹ. Thế mà nữ tướng nén đau thương và nghiêm mặt hét lên với con: “Con phải chết anh dũng để xứng đáng là con của ta”. Qua những dòng thơ của tác giả, ta thấy dũng khí của nữ tướng đã vượt lên tất cả:

Địch chém chồng, tang thương đất nước

Voi giày con, nhức nhối tim gan

“Phân thây” – nào sợ uy hoàng đế

“Xẻo thịt” – đâu sờn chí nữ quan

                   (Nữ tướng Bùi Thị Xuân)

 Nhà Nguyễn với mười ba đời vua nối tiếp, là triều đại vua cuối cùng trong lịch sử nước nhà. Trong đó có ba vị vua yêu nước, bỏ ngai vàng chống Pháp, vẫn mãi còn trong lòng dân bao nỗi yêu thương kính mến:

Hàm Nghi, Thành Thái với Duy Tân

Cung điện nguy nga cũng chẳng cần

Ba vị anh quân ôm hận nước

Bị cầm biệt xứ lúc còn xuân.

                (Vua chống Pháp)

Thơ anh còn làm ta ngậm ngùi tiếc nuối khi phải nghe những chuyện tình đầy nước mắt và đau thương của Mỵ Châu – Trọng Thủy, Chế Mân – Huyền Trân Công chúa, vua Quang Trung – Hoàng hậu Ngọc Hân và thấm đẫm xót xa nhất là số phận của công chúa An Tư, con vua Trần Thái Tông, một người con gái xinh đẹp phải chịu dâng thân xác cho tướng Tàu, Thoát Hoan, để giúp cho các vua Trần thoát nạn và quân ta chiến thắng giặc Nguyên, An Tư sau đó sống hay chết trong đám loạn quân, cho đến giờ vẫn chưa ai biết. Ôi! Lịch sử không bao giờ quên sự hiến thân cứu nước của các mỹ nhân đất Việt:

Tiền đồ xán lạn thành mây khói

Cơ nghiệp tan hoang đẫm bụi đường

Máu đổ vì yêu nào có tiếc?

Thân về với nghĩa há kêu thương?

              (Mỵ Châu – Trọng Thủy)

Hoặc:

Cuộc đời công chúa đức Nhân Tông

Vì nước đành cam phận má hồng

Chiêm, Việt đôi đường xa xứ sở

Chế, Trần hai họ cách non sông

                (Huyền Trân Công chúa)

Hoặc:

Buốt lòng Hoàng hậu tuổi đương xuân

Đột ngột vua băng mới tứ tuần

Biệt khúc “Ai Tư” lời não nuột

Trang tình bất hủ khóc phu quân.

               (Hoàng hậu Lê Ngọc Hân)

 Hoặc:

Tấm lòng trung liệt rạng nghìn thu

Công chúa Trần gia hiến giặc thù

Nạn nước cam đeo vòng áo não

Nợ nhà đành gạt mối sầu tư.

                      (Công chúa An Tư)

 Mải miết say theo lịch sử mà tôi quên mất tác giả và tôi đều là người Quảng Trị và đều là cựu học sinh trường Trung học Nguyễn Hoàng, ngôi trường mang tên vị chúa Nguyễn đầu tiên, sáng lập vương triều các chúa Nguyễn ở Đàng Trong, có công khai phá mở mang bờ cõi phương Nam. Hôm nay chúng ta sống trên mảnh đất miền Nam màu mỡ rộng lớn đến tận Mũi Cà Mau là đang hưởng phúc lợi từ sự nghiệp Nam tiến của các chúa. Trong đó chúng ta không quên nhắc đến Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh, một danh tướng thời chúa Nguyễn Phúc Chu, là người đầu tiên đã vượt hàng trăm cây số vào Đồng Nai – Gia Định – Sài Gòn để chiêu dân lập ấp, lãnh đạo dân quân khai phá và mở mang vùng đất này. Lịch sử ghi công và nhân dân luôn nhớ ơn các chúa, đặc biệt là con dân Quảng Trị chúng tôi, rất hãnh diện là nơi được chúa Nguyễn Hoàng dựng cơ nghiệp trong những năm tháng đầu tiên ngài xa miền Bắc:

Trí, chí, nhân, kiên, dũng vẹn toàn

Nguyễn Hoàng phụng chỉ vượt đèo Ngang

Theo dòng Thạch Hãn tìm phương đỗ

Lên bãi Cồn Cờ hưởng phúc ban.

                           (Công ơn chúa Nguyễn)

Hoặc:

Thấu hiểu di ngôn thật rõ ràng

Theo đường tiên đế mở quan san

Trung phần lập ấp khai rừng núi

Nam bộ gom dân dựng xóm làng.

           (Công ơn chúa Nguyễn)

Hoặc:

Hữu Cảnh quê hương ở Quảng Bình

Đã từng trận mạc bậc tài danh

Phước Long, Đông Phố xây thôn xã

Gia Định, Biên Hòa mở trấn dinh.

                                 (Nguyễn Hữu Cảnh)

Lịch sử Việt Nam dài lắm, kể mãi không hết, nếu cứ mải mê theo những gì anh viết và những cảm xúc dâng trào theo từng tên tuổi của các bậc vĩ nhân thì có lẽ trang giấy dành cho tôi sẽ nhiều hơn. Cho tôi xin lỗi các bậc anh hùng tôi còn đam mê theo từng chân bước, như một Trần Quốc Toản mới 15 tuổi đã xin vua vào dự hội nghị Bình Than bàn việc nước, một Phạm Ngũ Lão ngồi đan sọt mà tâm trí mải nghĩ đến non sông, một Lê Lai liều thân cứu chúa, một Nguyễn Trãi nhà chính trị, quân sự, ngoại giao xuất sắc nhưng lại bị án oan tru di tam tộc, một Cao Thắng nhìn súng địch tạo được súng cho ta, một Trần Bình Trọng khẳng khái trả lời giặc: “Ta thà làm quỷ nước Nam, chứ không thèm làm vương đất Bắc”, một Trần Thủ Độ hiên ngang tâu với vua “Đầu tôi chưa rơi xuống đất, xin bệ hạ đừng lo”, một Phan Bội Châu – Phan Chu Trinh còn sống mãi trong lòng sinh viên học sinh thời đó và bây giờ… Ôi! Những danh nhân của tổ quốc Việt Nam.

Tôi không biết viết gì thêm mà chỉ biết cám ơn anh – nhà thơ Lê Ngọc Phái – đã yêu nước thầm lặng bằng cách ngày đêm sưu tầm tư liệu để viết thành tập thơ tri ân những danh nhân lịch sử của đất nước. Nếu không có anh, tôi và có lẽ nhiều người có chút lãng mạn ướt át, không hiểu được rằng thơ lịch sử còn làm say đắm lòng người hơn cả thơ tình nữa. Vì thơ tình của ai đó tặng, ta chỉ đọc một lần rồi có thể quên bẵng mất, còn tập thơ “Những dấu ấn lịch sử” của anh Lê Ngọc Phái, ta phải đọc nhiều lần và không khéo, sự thích thú khiến ta đi tìm tư liệu tra cứu để biết rõ hơn. Đó là thành công to lớn nhất mà nhà thơ Đường luật của tôi đã làm được. Chúc mừng anh và xin mời tất cả độc giả cùng đọc để cảm nhận.

  T.M