Sám hối muộn màng

2566

Nhà văn Phùng Chí Cường

Sám hối muộn màng

Truyện ngắn của Phùng Chí Cường      

       Trong cơn hôn mê, môi hắn cứ mấp máy nhưng không nặn ra thành tiếng. Có vật gì lành lạnh áp vào ngực rồi xê lên dịch xuống, tạo cảm giác nhồn nhột. Hắn hé mắt, một màu trắng mờ hiện dần những bóng người đứng bên cạnh. Khi cái vật lành lạnh kia không còn áp vào ngực nữa, có tiếng thì thầm nghe rất xa xăm: “Bệnh nhân đã kháng thuốc cả tuần nay, biểu hiện suy giảm miễn dịch nặng và hôn mê sâu”…Rồi hắn chìm vào cõi vô thức, bồng bềnh trôi.

Chợt từ đâu đó có làn gió mát, mát rười rượi đã kéo hắn trở lại. Hắn cố nhướng mắt lên, khẽ nhếch miệng, một dòng nước ấm từ từ chảy vào để hắn hớp lấy. Phía dưới chân có vật gì mềm mại cứ lần lên, lần lên nữa rồi dừng lại nơi bàn tay, cái vật ấy đọng rất lâu ở đó. Hắn cố gạt hai hàng mi sùm sụp đang cuốn lấy hắn, từ nơi xa mờ hiện dần khuôn mặt người mẹ, khuôn mặt đen gầy cùng những sợi tóc bạc, phủ lấy vầng trán nhăn nhúm vết chân chim. Bên kia, vợ hắn với cặp mắt thâm quầng, sâu thẳm, đăm chiêu, thỉnh thoảng lại lấy tay chùi vội giọt nước mắt. Hắn mấp máy môi, những muỗng nước từ tay vợ hắn khẽ đưa tới. Thoáng chút ân hận, hắn muốn tỏ bày nhưng sức lực đã cạn kiệt. Hắn ưỡn nhẹ thân mình rồi trôi vào miền nhớ.

 …Nơi ấy là một làng quê bên dòng sông Hồng váng đỏ phù sa, người dân quanh năm vất vả, đầu tắt mặt tối để kiếm từng quả ngô, củ khoai, mong sao qua được những ngày giáp hạt. Tuổi thơ của hắn cũng đi qua ở đấy, với chuỗi ngày kiếm củi, hái rau trên khắp đồng non bãi nổi. Chiều chiều giong trâu ra thả ngoài soi bãi, quơ vội lấy đụn lá ngô khô, đốt lên, vùi vào đó những củ khoai lang nướng thơm lừng. Những buổi trưa hè hây hẩy gió nồm nam, dưới lũy tre làng kẽo kẹt đung đưa cánh võng. Xa tít bên kia  làng Thượng, có ngôi đình cổ dưới gốc cây gạo già bạnh gốc sù xì, nở hoa vào mỗi độ tháng ba, tháng của những chú chuồn chuồn cánh đỏ, cùng những cánh diều vời vợi cao bay trên sân đình lộng gió.

Hắn cũng nhớ mỗi năm vào độ tết đến xuân về, được mẹ mua cho bộ quần áo mới. Mẹ già tất bật lo sắm nồi bánh trưng để kịp đun vào chiều 29 tết. Bếp lửa của mẹ bập bùng, thơm thơm hương nếp đồng nhà. Còn vợ hắn, cái cô gái tóc đuôi gà xóm giữa ngày nào học cùng trường sau hai lớp, đã từng bị hắn nhát ma trên đường về mỗi khi đi ngang qua ngôi miếu cổ đầu làng, cô đã phải khóc thét lên vì sợ, trong lúc đó hắn cùng đám bạn phá lên cười hô hố. Rồi từ đấy cô bé thường dấm dúi cho hắn từng trái ồi hoặc quả cam mỗi khi đến trường, để khỏi bị nhát ma. Chính cái sự dấm dúi ấy mà sau này cô thôn nữ mảnh mai xinh xắn kia đã trở thành vợ hắn, một người vợ chân quê chịu thương chịu khó, lo toan mọi công việc gia đình. Cứ mỗi buổi chợ phiên, cô lại làm bạn cùng đôi quang gánh, buôn đầu chợ bán cuối chợ, kiếm tiền nuôi hắn ăn học…

Tiếng chim líu lô bên ngoài cửa sổ đã kéo hắn trở về thực tại. Hắn lại he hé mắt nhìn, căn phòng giờ đã sáng hơn, đã non trưa rồi, đâu đó có tiềng người đi lại cười nói văng vẳng. Hắn mấp máy môi, chợt cảm giác dưới tay mình lại có vật gì thô ráp nắm nhẹ, rung lắc, hắn cố nhìn rồi nhận ra một khuôn mặt gầy gò khắc khổ, thoáng tiếng thở dài. Đó là cha hắn. Người đã quanh năm cùng chiếc thuyền nan cũ kĩ, chở đò đưa khách qua lại đôi bờ sông Cái, suốt ngày dầm dãi nắng mưa trong bộ quần áo nâu sòng bạc thếch, không thể che hết thịt da mổi khi gió bấc lùa về, để dành dụm từng đồng xu cắc bạc nuôi con ăn học. Rồi hắn cũng đáp lại cha mình bằng việc học hành cần mẫn. Hắn học như điên, học quên ăn quên ngủ, quên cả tháng ngày, chỉ momg sao thoát khỏi cảnh lam lũ đói nghèo của cái miền quê đã sinh ra hắn. Môn nào hắn cũng học giỏi, bạn bè gọi hắn với cái tên của những nhà bác học nổi tiếng. Người hắn gầy xọm như Einstein, tóc xoăn lại như Mendeleep. Lúc nào cũng ngơ ngác như Acsimét bởi vạn vật hấp dẫn xung quanh mà chẳng quan tâm gì cả.

Đến khi hắn nhận tấm bằng đỏ trên bục danh dự thì được bạn bè tung hô khen ngợi hết lời. Ngày hắn thi đỗ trở về làng, mọi người nghênh đón chúc mừng hắn, chẳng khác nào Columbuts tìm ra châu Mỹ khi về nước được nữ hoàng đón tiếp trọng thể…Giữa thời điểm đó cơn lạm phát phi mã trong nước vừa được đẩy lùi, bước vào thời kỳ đổi mới cơ chế thoáng hơn, sinh viên ra trường lúc này chưa phải chạy đôn chạy đáo, gõ cửa từng cơ quan doanh nghiệp để năn nỉ xin việc làm. Thời vận đã đến, hắn được trọng dụng từ tấm bằng tốt nghiêp đại học loại giỏi…Nhưng với hắn, như vậy vẫn là chưa đủ. Hắn lại học thêm một môn mà chẳng có trong danh mục đào tạo từ cổ chí kim, đó là trường đời với khoa thủ đoạn và cơ hội.

Bước vào trường đời, thiết tưởng hắn không thể theo kịp các khoa đặc biệt này, bởi hắn xuất thân là một cậu tẩm nhà quê chân đất. Nhưng không! Hắn là một trường hợp ngoại lệ. Với bản chất ma lanh từ nhỏ nên không lâu sau, hắn đã trở thành thủ khoa cơ hội và thủ đoạn. Hắn biết nói những điều nên nói và biết làm những việc không ai nên làm, Hắn tự nhủ mình là phải kiên nhẫn để mưu cầu việc lớn, chứ không thể nóng vội như Erostrate vì muốn nổi tiếng nhanh, nên đã cả gan đốt đền thờ nữ thần Artémis của người La Mã, mà cần phải mềm mại, uyển chuyển như đường cong parabol với tất cả mọi người, cuối cùng hắn cũng đã thành công, hắn rất được tin cậy và trở thành một kẻ tham mưu đắc lực trong các dự án kinh doanh, giúp công ty nơi hắn làm việc thu về những khoản lợi nhuận khổng lồ.

 Khi đã công thành danh toại, hắn cũng từng một lần về thăm làng cũ. Cha mẹ thì  già mà cảnh vật xung quanh chả mấy thay đổi. Hắn giật thột khi gặp lại cô bé tóc đuôi gà năm xưa, giờ là vợ hắn. Vẫn cặp ba lá trên mái tóc lưa thưa không dày như thuở trước, chiếc quần vải đen xắn lên đến khuỷu gối, lộ ra đôi chân đen đủi vương vết bùn lầy, giờ không còn là cô thôn nữ một thời mà hắn từng say mê đắm đuối. Chỉ một ngày ở quê mà hắn cảm thấy dài hơn cả quãng thời gian xa nhà sống trên phố thị. Hắn  mong sớm được trở lại công ty, nơi ấy có căn phòng sang trọng ngào ngạt hương hoa, máy điều hòa nhiệt độ mát rượi và…thấp thoáng những “bóng hồng”.

 Sáng hôm sau, khi trời còn mờ sương thì hắn đã vội ra đi, cô thôn nữ ngày nào tiễn hắn đoạn đường trong im lặng, hắn cũng lặng im không hề nhìn lại. Qua một quãng đê, khi tới con đường lớn, hắn buột miệng: “Về đi, có cần gì thì cứ nhắn, tôi sẽ gửi!”. Rồi hắn quay lại, nhưng hắn quay lại lần này chỉ là để mong sao cô ấy khuất nhanh vào sau lũy tre làng…Từ phía xa xa, chiếc xe con bóng loáng đang vùn vụt lao tới để đón hắn trở về thành phố.

Công ty nơi hắn làm việc mỗi ngày một phình to ra để trở thành công ty mẹ, vốn đầu tư tăng đến chóng mặt, cùng với đó là những chuyến đi nước ngoài như cơm bữa, hắn tận dụng tối đa thủ đoạn cạnh tranh, để giúp những ông chủ thuê hắn làm việc thu về bộn tiền, và hắn cũng nhận được những khoản thù lao hậu hĩnh. Tiền nhiều vô số kể, hắn mặc sức tiêu xài để bù đắp sự thiếu thốn trong quá khứ. Hàng đêm, hắn say bí tỷ trong vòng tay của các gái bao, gái gọi, gái nội, gái ngoại đến chán chường. Khi tỉnh táo, hắn thoát ra ngoài, nhìn lên bầu trời thấy muôn vàn vì sao sáng lung linh mà…thoáng chạnh lòng nhớ tới vùng quê nghèo nơi chôn rau cắt dốn của hắn. Hắn cũng đã từng vài lần gửi tiền về nhà, nhưng đều bị trả lại. Thế là từ đó hắn quay lưng hẳn.

Đùng cái, công ty mẹ vỡ nợ, kéo theo các công ty con bị xóa sổ, liên đới hàng loạt các khoản nợ chồng chéo. Thân phận hắn lúc này chỉ như con kiến bò quanh miêng chén. Chính hắn cũng từng nhận biết những việc hắn làm trước đây: Tất cả chỉ là mánh lới, là những thủ đoạn làm ăn gian dối, là những phi vụ hợp đồng liên doanh ma quỷ để bòn rút tiền của nhà nước, ngoài ra không có gì hết! Giờ thì hắn mất tất cả, đứng trơ trước vành móng ngựa, không một người thân, không giọt nước mắt, những người từng là đồng bọn, thường cùng hắn chén tạc chén thù thì bây giờ trở thành kẻ thù của nhau. Cuối cùng hắn đã phải cúi đầu nhận tội, với mười năm cải tạo cho những thủ đoạn “làm nghèo đất nước” của mình.

 Từ trong miền xa thẳm, những ảo giác chập chờn, chợt nghe có tiếng người vọng lại như chắt lọc trong màn sương mờ mịt…Lại có vật gì lành lạnh dịch chuyển trên ngực, cảm giác trong người như có những cơn sóng cuồn cuộn, cuốn siết lấy hắn, hắn cố đẩy hai hàng mi, he hé mắt nhìn và nhận ra từng khuôn mặt của người thân. Kia nữa, người quản giáo của trại cải tạo. Một con người nghiêm khắc nhưng đầy lòng nhân ái bao dung, đã từng khuyên bảo, chở che mỗi khi hắn cảm thấy tuyệt vọng. Trong chiến tranh ông ta đã mất đi tất cả người thân bởi bom đạn của quân thù, còn trong thời bình thì hắn lại mất tất cả bởi những “viên đạn bọc đường” cùng lòng tham vô đáy. Một người vì nghĩa lớn. Một kẻ vì cơ hội và thủ đoạn, mà khi nhận ra thì đã quá muộn .Từ con người ông, từ nghĩa cử của ông, đã tác động để hắn muốn trở thành người lương thiện khi mãn hạn tù.

Nhưng bây giờ thì không thể, cho dù hắn có thèm sống đến mấy, thì cái chết vẫn cứ dần siết lại, siết lại từ từ. Thần chết cứ hả hê gặm nhấm tâm hồn hắn một cách thỏa mãn, thỏa mãn như khi hắn ngồi trên ghế danh vọng, gặm nhấm những đồng tiền bất chính. Hắn thèm được về bên vòng tay mẹ như thuở nào, thèm được ăn củ khoai lang nướng đậm đà hương đất quê nhà. Nhưng giờ đây điều đó đã quá xa vời, mà chỉ còn lại những giây phút hiếm hoi trong miền nhớ, cùng với sự sám hối muộn màng…Hắn ấm ức, oằn mình, mọi bàn tay đều nắm lấy hắn như muốn truyền thêm hơi ấm, rồi hắn lại trôi vào hôn mê bất tỉnh…

 Sáng sớm hôm sau, bác sĩ trực ban đến khám bệnh. Ông ái ngại nhìn người phụ nữ là vợ của bệnh nhân bị nhiễm HIV giai doạn cuối này, chị ta đang ngồi bó gối, gục đầu dưới chân giường bệnh. Bác sĩ đến bên hắn và cảm thấy ngạc nhiên, khi nơi khóe mắt hắn còn đọng lại hai giọt nước long lanh. Ông đặt ống nghe…rồi khẽ lay người phụ nữ kia trước khi quay về phòng thường trực, ký giấy xác nhận tử vong !

                                                                                                               P.C.C