Sẽ ‘khai quật’ bài thơ cổ ở núi Bài Thơ bị vùi sâu dưới đất

199

Quảng Ninh – Sở Văn hóa – Thể thao tỉnh Quảng Ninh và TP.Hạ Long sẽ khảo sát hiện trường, khai quật để xác minh hiện trạng bài thơ bị vùi sâu dưới đất ngay dưới chân núi Bài Thơ ở TP.Hạ Long.

Chiều 25/10, ông Nguyễn Mạnh Hà – Giám đốc Sở Văn hóa – Thể thao Quảng Ninh – cho biết, sở này đã có công văn gửi UBND TP.Hạ Long, đề nghị phối hợp với các phòng, ban liên quan của Sở Văn hóa – Thể thao Quảng Ninh để khảo sát hiện trường – nơi được cho là bài thơ bị vùi sâu dưới đất.

Theo ông Hà, về mặt nguyên tắc vẫn phải khai quật để xem đó có phải là bài thơ hay không và là bài thơ của ai, sáng tác vào thời điểm nào, để từ đó mới có phương án chính thức.


Núi Bài Thơ phía mặt vịnh Hạ Long – nơi có những bài thơ cổ được các bậc tiền nhân sáng tác và khắc lên vách đá từ xa xưa. 

Nhà thơ Trần Nhuận Minh – người đầu tiên có ý kiến với các cơ quan chức năng về việc bài thơ cổ của Nguyễn Cẩn bị vùi lấp dưới đất – khẳng định đó là bài thơ của Nguyễn Cẩn.

“Tôi tiếp cận với bài thơ này từ khoảng năm 1971. Ngày đó chúng tôi vẫn ra đây bằng thuyền, sau này mới có cái cầu tạm men theo vách núi và giờ mới có đường rộng chạy qua. Sao có thể nhầm vị trí, nhầm thơ của ai được?” – ông Minh cho biết.

Bài thơ của nhà thơ Nguyễn Cẩn, được khắc trên vách đá núi Bài Thơ vào năm 1910, là một trong 3 thi phẩm kiệt xuất trong chùm thơ 12 bài, hiện còn trên vách đá núi Bài Thơ, được bảo tồn theo luật Di sản.

Bài thơ của Nguyễn Cẩn trước đây nằm trên vách núi, thấp hơn so với các bài thơ của vua Lê Thánh Tông và chúa Trịnh Cương. Sau vài năm việc xây dựng Đền bài thơ cổ núi Bài Thơ hoàn thành, mới đây, người dân và những người yêu thơ phát hiện bài thơ này đã bị vùi sâu dưới đất do khu vực có bài thơ này được đổ đất tôn cao nền – khoảng 2m.

Nhà thơ Trần Nhuận Minh và một số người khác phải tìm dọc vách núi đá mới tìm thấy vị trí của bài thơ, bởi phía trên là vườn cây và hoa. Sau khi dùng dao phạt bớt các cây lá mềm, cao khoảng 40 – 50 phân, và dùng bay gạt hết lớp đất một đoạn khá dài sát với vách đá, mới nhìn thấy đỉnh bia khắc bài thơ.

Theo nhà thơ Trần Nhuận Minh – người nghiên cứu sâu và có những bài viết, dịch các bài thơ cổ trên vách núi Bài Thơ – hiện trên vách núi Bài Thơ có 12 bài thơ, nhưng chỉ có 3 bài  (của vua Lê Thánh Tông 1468), chúa An Đô vương Trịnh Cương (1729) và Nguyễn Cẩn (1910) là có giá trị văn hóa và lịch sử, với tính chuyên nghiệp cao.


Bài thơ của vua Lê Thánh Tông khắc trên vách núi hiện đã mất nhiều chữ, các chữ còn lại đều mờ, muốn xem phải lau sạch.

Nguyễn Cẩn có tên trong sách Lược truyện các tác gia Việt Nam do nhà thư mục học lớn là Trần Văn Giáp biên soạn, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, ấn hành năm 1971. Ông người làng Du Lâm, huyện Đông Ngàn, nay là huyện Tiên Sơn, tỉnh Bắc Ninh, có tên hiệu là Hương Khuê, tác giả nhiều bài thơ chữ Hán, được coi là một trong những nhà thơ xuất sắc cuối thời Nguyễn, đầu thế kỉ XX. Ông làm quan Án sát triều Nguyễn, được vua Nguyễn bổ nhiệm làm Tuần phủ Quảng Yên, tức tỉnh Quảng Ninh ngày nay.

Bài thơ của Nguyễn Cẩn có 8 câu, 4 câu đầu toàn vần trắc, 4 câu sau toàn vần bằng, cấu trúc chặt chẽ, hơi thơ liền một mạch, bút pháp phóng khoáng, ngôn ngữ điêu luyện, rất hiện đại, đầy khí thế. Đặc biệt trong bài thơ, tác giả cũng bày tỏ sự phẫn nộ với chúa An Đô vương Trịnh Cương khi vị chúa này cho khắc bài thơ họa bài thơ của vua Lê Thánh Tông của mình trên vách núi nhưng ở vị trí cao hơn bài thơ của vua Lê Thánh Tông. Với ông, đây là điều không chấp nhận được.

Xin giới thiệu bài thơ được Nguyễn Cẩn đề trên vách đá, ngày mùng 3 tháng Chạp năm Canh Tuất (1910).

Bài thơ chữ Hán nguyên văn như sau:

Thánh Tôn hoàng đế đề thi thạch, 

Đông minh chi sơn cao bách xích. 

Thiên phong, hải đảo nhật dạ kích, 

Ngũ bách niên dư, tự do xích 

Họa xưng ngự bút ế hà nhân? 

Trịnh Vương vọng ý đồng bất dân. 

Ngã lai bạt kiếm, nộ thả sân, 

Hu ta hậu Lê chi quân thần! 

Canh Tuất, lạp nguyệt, sơ tam nhật, Nguyễn Cẩn

Dịch thơ của nhà thơ Trần Nhuận Minh:

Hoàng đế Thánh Tông đề thơ lên đá 

Núi ở bể Đông cao hàng trăm thước 

Gió trời, sóng biển ngày đêm vỗ vào 

Thế mà hơn 500 năm rồi, chữ còn chưa mất 

Họa lại, dám xưng là ngự bút; hừ, ai đấy nhỉ? 

Ý xấu của Trịnh Vương là muốn cùng trường tồn 

Ta đến, rút kiếm phẫn nộ và căm tức 

Than thay cho vua tôi nhà hậu Lê !

Nguyễn Cẩn đề, ngày mùng 3 tháng Chạp năm Canh Tuất, 1910

Nguyễn Hùng/LĐO