Trịnh Công Sơn: Huyền thoại nhạc Việt vươn tầm thế giới ra sao?

358

Sở dĩ người Nhật mê nhạc Trịnh đến vậy vì họ tìm thấy sự giao cảm từ giai điệu tới tâm hồn. Văn hóa Nhật gắn với “đạo”, tức là nhìn nhận vạn vật trong cuộc sống với sự nghiền ngẫm, suy tưởng, thiền tịnh của cái tâm an nhiên (như trà đạo, thơ Haiku, bonsai, nghệ thuật vườn cảnh…).


Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn. Tranh của họa sĩ Lê Sa Long

Ngày 1/4, giới nghệ sĩ và khán giả tưởng niệm 22 năm ngày mất nhạc sĩ Trịnh Công Sơn – huyền thoại âm nhạc Việt Nam.

Nhạc sĩ huyền thoại, vươn tầm thế giới, được người Nhật yêu thích

Trịnh Công Sơn là nhạc sĩ Việt Nam hiếm hoi có sự nổi tiếng và sức ảnh hưởng vươn tầm thế giới. Được biết, khoảng 2 triệu băng đĩa nhạc của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã được bán tại Nhật Bản – một con số kỷ lục mà chưa nhạc sĩ Việt nào đạt được.

Không những vậy, ông cũng là nhạc sĩ Việt được người Nhật yêu thích nhất. Họ viết cả lời Nhật cho những ca khúc của ông để ca sĩ của họ được biểu diễn, điển hình như ca khúc Diễm xưa. Rất nhiều ca sĩ nổi tiếng ở Nhật đã hát lại ca khúc này như Tokiko Kato, Yoshimi Tendo, Aya Shimazu…

Nhạc Trịnh Công Sơn còn thường xuyên được hát trong Kohaku Uta Gassen – chương trình Âm nhạc Đêm giao thừa thường niên của đài truyền hình quốc gia Nhật Bản NHK trước hàng triệu khán giả và hàng loạt sân khấu lớn nhỏ khác.

Bản thân ca sĩ Khánh Ly cũng là một trong số ca sĩ Việt Nam đầu tiên được hát tại Nhật nhờ nhạc Trịnh.

Các trường đại học âm nhạc, văn hóa của Nhật, Trung và Việt Nam cũng liên tục thực hiện các đề tài, luận văn cao học, luận án tiến sĩ về nhạc Trịnh.

Có thể nói, Trịnh Công Sơn là tác giả hiếm hoi được nghiên cứu đầy đủ dưới nhiều bình diện như âm nhạc, văn hóa, ngôn ngữ, văn học… Ở mảng nào, ông cũng có đóng góp và gây dựng tầm ảnh hưởng to lớn.

Sở dĩ người Nhật yêu thích Trịnh Công Sơn đến như vậy vì âm hưởng chất nhạc, nội dung, tinh thần của nhạc Trịnh rất đậm hồn Đông phương và gắn chặt với cả một thời kỳ lịch sử, văn hóa, thể hiện triết lý Á Đông đậm đặc.

Sở dĩ người Nhật mê nhạc Trịnh đến vậy vì họ tìm thấy sự giao cảm từ giai điệu tới tâm hồn. Văn hóa Nhật gắn với “đạo”, tức là nhìn nhận vạn vật trong cuộc sống với sự nghiền ngẫm, suy tưởng, thiền tịnh của cái tâm an nhiên (như trà đạo, thơ Haiku, bonsai, nghệ thuật vườn cảnh…).

Vì vậy, người Nhật muốn nghe những thứ nhạc mang giai điệu mộc mạc, bằng phẳng, giản đơn, không trúc trắc, lên xuống, phức tạp như nhạc Trịnh để thiền tịnh tâm hồn, suy ngẫm nhân sinh. Với nhạc Trịnh, chỉ cần thanh âm cất lên cũng mở ra không gian “đạo” đúng chất Nhật.

Phần ca từ sâu sắc, giàu triết lý, đặc biệt thấm nhuần tư tưởng Phật giáo nguyên thủy và tính hiện sinh chủ nghĩa trong nhạc Trịnh cũng rất hợp với tính cách, văn hóa, gu thưởng thức của người Nhật giai đoạn bấy giờ.

Trịnh Công Sơn cũng được báo chí và cộng đồng quốc tế nhắc đến như “Bob Dylan của Việt Nam” (BBC), “Nhạc sĩ được yêu mến nhất tại Việt Nam” (The Washington Post)…

Tại Việt Nam, hiếm có nhạc sĩ nào sáng tác nhiều như Trịnh Công Sơn, với 600 ca khúc. Trong đó, có tới 236 ca khúc được phổ biến rộng rãi. Người dân Việt Nam không ai là không biết nhạc Trịnh vì nó len lỏi vào từng ngõ ngách, tầng lớp dân chúng.

Ca sĩ Việt hầu như đều từng hát nhạc Trịnh. Nhạc Trịnh năm nào cũng được hoặc mở lên ở mọi sân khấu, dưới nhiều hình thức khác nhau. Đây là loại nhạc duy nhất dung hòa được từ bác học tới bình dân, khiến ca sĩ mọi thế hệ, dòng nhạc đều hát được.

Nghệ thuật ngôn từ và tư tưởng lớn vượt ngoài âm nhạc

Khác với nhiều nhạc sĩ khác, ngoài giai điệu đẹp, nhạc Trịnh Công Sơn nổi bật hơn hẳn ở phần ca từ. Ca từ trong nhạc của ông đậm chất thơ, đa dạng về từ vựng, độc đáo về ngữ pháp, phong phú về thanh điệu và ẩn chứa nhiều mã nghệ thuật khác nhau.

Nói cách khác, nếu tách bỏ phần nhạc, thì phần lời của nhạc Trịnh thực sự đã làm nên những bài thơ xuất sắc, có đóng góp không nhỏ vào nền thi ca Việt Nam và làm giàu đẹp tiếng Việt.

Nhạc sĩ Văn Cao từng nói: “Tôi gọi Trịnh Công Sơn là người của thơ ca (Chantre) bởi ở Sơn, nhạc và thơ quyện vào nhau đến độ khó phân định cái nào là chính, cái nào là phụ…

Trong âm nhạc của Sơn, ta không thấy dấu vết của âm nhạc theo cấu trúc bác học phương Tây. Sơn viết hồn nhiên như thể cảm xúc nhạc thơ tự nó trào ra”. (Nguồn: Nguoilaodong).

Trong ca từ nhạc Trịnh thể hiện đầy đủ mọi nghệ thuật ngôn ngữ tiếng Việt, từ việc sử dụng từ láy, từ tượng thanh, tượng hình, từ lạ hóa tới điệp ngữ, điệp vần, hài thanh, câu hỏi tu từ, câu đặc biệt, ẩn dụ, hoán dụ… Tất cả đều đạt tới trình độ cao.

Chẳng hạn, có một nghiên cứu từng chỉ ra trong 139 ca khúc nhạc Trịnh thì có 210 câu hỏi tu từ, mỗi câu là một hình thức tu từ khác nhau với dụng ý nghệ thuật riêng.

Trịnh Công Sơn sử dụng rất nhiều ẩn dụ lạ hóa, độc đáo. Trong ca khúc Diễm xưa, đoạn “mưa vẫn mưa bay trên tầng tháp cổ” vừa chỉ chiếc tháp cổ kính, lại vừa ẩn ý về tháp cổ trắng ngần  của người con gái vướng phải bụi trần.

Hay, trong ca khúc “Chiều một mình qua phố”, từ “nắng khuya” dùng để chỉ ánh trăng, hoặc ánh đèn đường.

Ở nước ngoài, người ta gọi Trịnh Công Sơn là Bob Dylan của Việt Nam.

Tại Việt Nam, Trịnh Công Sơn là nhạc sĩ hiếm hoi tiếp thu và thể hiện tinh thần hiện sinh chủ nghĩa một cách sớm nhất qua các sáng tác của mình như Để gió cuốn đi, Ngẫu nhiên

Trong nhạc của ông còn tiếp thu sâu sắc triết học Phật giáo nguyên thủy, từ vô thường, sự sống, cái chết tới an nhiên, tự tại. Tinh thần Phật giáo được thể hiện rõ nhất qua Cát bụi, Một cõi đi về

Đây đều là những thứ tư tưởng lớn, mang tầm vóc nhân loại. Bởi vậy, người ta mới nói, nhạc Trịnh là cả một mã văn hóa.

Theo Long Phạm/Thể Thao & Văn Hóa