“Từ một vùng văn hóa” hiện lên những gương mặt văn chương

74

Lâu nay tác giả Nguyễn Phương Hà (tên thật là Nguyễn Văn Rèn) chủ yếu được giáo viên, học sinh trong tỉnh biết tới với tư cách thầy giáo dạy văn giỏi, không chỉ ở trường Cao đẳng Sư phạm Đắk Lắk mà còn ở một số trường THPT trong tỉnh, nơi tác giả được mời bồi dưỡng học sinh giỏi của trường. Ít ai biết sau những giờ say mê trên bục giảng thầy giáo Nguyễn Văn Rèn còn say mê đọc sách, viết truyện, viết tiểu luận – phê bình. Đến nay tác giả Nguyễn Phương Hà đã cho xuất bản ba tác phẩm: Vượt qua nghèo khó (truyện ký, NXB. Hội Nhà văn, 2019), Văn học- một miền phù sa (chuyên đề văn học trong nhà trường, NXB. Giáo dục Việt Nam, 2020) và mới nhất là Từ một vùng văn hóa (tiểu luận, phê bình, NXB. Văn hóa dân tộc, 2022). Cuốn sách mới này gồm 16 bài viết, trong đó có 13 bài phê bình tác phẩm của các tác giả trong tỉnh, hai bài phê bình tác phẩm của tác giả ngoài tỉnh và một bài tiểu luận về thơ.

Có thể nói, Từ một vùng văn hóa đã giúp người đọc biết tới hầu hết các gương mặt văn chương Đắk Lắk trong khoảng ba chục năm trở lại đây, như Hữu Chỉnh, Trúc Hoài, Phạm Doanh, Văn Thảnh, Đặng Bá Tiến, Niê Thanh Mai, Nguyễn Anh Đào, Lê Thành Văn, Nguyễn Văn Thiện, Hồng Chiến, Bích Thiêm, Bùi Minh Vũ, Hồ Hồng Lĩnh…

Với cuốn sách này Nguyễn Phương Hà không chỉ giúp người đọc hiểu sâu sắc thêm nội dung tác phẩm của các tác giả kể trên mà anh còn làm tốt việc “giải mã” tác phẩm (đúng chức năng của một nhà phê bình văn học), giúp bạn đọc hiểu thêm cái hay cái đẹp của tác phẩm bằng nhiều thao tác phê bình và bằng cả vốn sống, sự từng trải của chính anh . Ví dụ viết về tập thơ Mưa gió Ay ray của Văn Thảnh, Nguyễn Phương Hà đã chỉ ra nét đặc trưng nổi bật làm nên cái riêng của tác giả này, ấy là chất liệu văn hóa dân gian, “bầu không khí dân gian Tây Nguyên đậm đặc”  đã tạo nên giá trị thẩm mỹ của tác phẩm. Về tiểu thuyết Nước mắt màu xanh thẫm của Nguyễn Văn Thiện, Nguyễn Phương Hà viết: Nguyễn Văn Thiện đã vận dụng phép lạ hóa, huyền thoại hóa của chủ nghĩa hiện đại, hậu hiện đại để xây dựng hình tượng nhân vật với các tình tiết mang màu sắc tâm linh, hoang đường, kỳ ảo, dùng cái phi lý hòa trộn với cái thực đến mức khó phân biệt được ranh giới thực – ảo để tạo ra những hình tượng nghệ thuật sống động, hấp dẫn đa nghĩa. Bằng các thủ pháp đó, tác giả đã thể hiện khá sâu sắc những vấn đề về tự nhiên, xã hội hiện thời, nổi bật là tình trạng phá rừng, văn hóa lai căng, học đòi, khiến cho bản sắc văn hóa độc đáo của các dân tộc Tây Nguyên bị phai nhạt, biến dạng.

Hẳn là trước khi đặt bút viết các bài phê bình trong cuốn sách này Nguyễn Phương Hà đã đọc rất kỹ, suy ngẫm nhiều, nên anh có những phát hiện sâu sắc, tinh tế về xử lý cốt truyện, tạo tình huống truyện, khai thác tâm lý nhân vật… của các tác giả. Nhận xét về tập truyện Những hạt gạo xoay tròn của Nguyễn Anh Đào, anh viết: “Nguyễn Anh Đào chủ yếu dùng hình thức tự sự ngôi thứ ba (16/22 truyện, chiếm khoảng 77%), nhưng đã nhìn theo tiêu cự bên trong của nhân vật”. Cũng vì vậy anh phát hiện ra không gian nghệ thuật trong tập truyện là “không gian bối cảnh và không gian tâm lý”; phát hiện ra Nguyễn Anh Đào thường “thu gọn cốt truyện đến mức dồn nén vào những tình huống căng thẳng, tình tiết lạ hóa bất ngờ”, có ý nghĩa nhất để thể hiện nhân vật với thế giới nội tâm đầy ẩn mật… Tất cả để làm nổi bật nội dung phản ánh của tập truyện: Ấy là thân phận con người với nỗi cô đơn bản thể, với những niềm trăn trở, đau đáu về kiếp người, về bất bình đẳng giới, về nạn bạo hành gia đình, xâm hại trẻ em… Qua đó, Nguyễn Anh Đào đã lên tiếng mạnh mẽ quyết liệt để bảo vệ quyền sống, quyền phát triển lành mạnh của mọi người nhất là trẻ em và phụ nữ…

Trong tiểu luận Mấy vấn đề về thơ , bàn về đổi mới thơ hiện nay anh có một số ý kiến theo tôi là xác đáng: Đổi mới thơ là xu thế tất yếu trong thời đại toàn cầu hóa hiện nay, góp phần làm cho văn học Việt Nam phát triển phong phú, đa dạng. Nhưng vấn đề đặt ra là đổi mới như thế nào? và anh nêu ba vấn đề cần quan tâm. Thứ nhất, là đổi mới phải trên cơ sở lấy thơ ca truyền thống của dân tộc làm nền tảng, để thơ Việt ngày càng phát triển hiện đại, có giá trị thẩm mỹ cao, trở thành một “dòng riêng giữa nguồn chung” của thơ ca nhân loại. Thứ hai, dù đổi mới đến mức nào đi chăng nữa cũng phải thể hiện được bản chất đặc trưng của thơ (thơ phải có tứ , nhịp điệu, ngôn ngữ giàu thi ảnh); trên cơ sở đó làm phong phú tứ thơ, hình ảnh thơ… bằng ngôn ngữ mới mẻ, tinh tế, hàm chứa nhiều tầng ý nghĩa, chuyển tải được chiều sâu cảm xúc. Thứ ba, đổi mới thơ cần gắn với yêu cầu của cuộc sống, với trình độ thưởng thức của người đọc, góp phần nâng cao dần năng lực tiếp nhận, cảm thụ thơ của người đọc, chứ không phải “tung hỏa mù” để thách đố…

Qua cuốn sách, người đọc thấy rõ: Nguyễn Phương Hà không viết phê bình theo lối quan phương, “ép” tác phẩm phải thế này thế nọ, theo những khuôn mẫu đã định hình, hoặc phê bình theo kiểu “cánh hẩu”, “vuốt ve” để làm đẹp lòng các tác giả. Bên cạnh chỉ ra cái hay, cái đáng ca ngợi, anh cũng thẳng thắn chỉ rõ những hạn chế của tác phẩm. Ví dụ viết về tiểu thuyết Từ sông Krông Bông của Trúc Hoài, anh ca ngợi “Trúc Hoài đã dựng lên một tượng đài bi tráng về cuộc chiến đấu kiên cường anh dũng của quân và dân ta trên chiến trường Đắk Lắk”. Nhưng anh cũng không ngần ngại chỉ rõ: Tác phẩm còn nhiều chi tiết vụn vặt, rườm rà; bức tranh hiện thực rộng lớn nhưng thiếu những điểm nhấn; là tiểu thuyết nhưng “già truyện non ký”… Viết về trường ca Nước mắt Trường Sơn của Hữu Chỉnh anh ca ngợi: Đó là ký ức sinh động về một thời hoa lửa không thể nào quên trong cuộc trường chinh vĩ đại vì độc lập tự do của dân tộc. Nhưng đồng thời anh cũng chỉ ra hạn chế của một số chương trong trường ca, ấy là: Tác giả quá chú trọng đến yêu cầu tư tưởng và mục đích giáo dục, nên chất lượng thơ giảm, có những câu thơ khô khan thiếu cảm xúc và sức sống.

Qua cuốn sách này, có thể nói nhà phê bình Nguyễn Phương Hà đã nhập hồn, lắng nghe được nhịp tim, chìm được vào cảm xúc của người viết và từ vốn sống, từ trải nghiệm của bản thân, anh đã góp phần “quẫy sóng” làm hiện lên diện mạo của vùng văn chương Đắk Lắk. Đấy cũng là cơ sở để người đọc dễ dàng đồng tình với nhận định của anh, rằng: Đắk Lắk không phải là một “vùng trũng văn chương” như nhiều người từng nghĩ.

Theo tôi, đây là cuốn sách thuộc thể loại tiểu luận phê bình rất “đáng kể” của văn học Đắk Lắk kể từ sau năm 1975 đến nay.

Theo VCTPHCM