Vẻ đẹp thiên nhiên, văn hóa và lịch sử trong bút ký ‘Ai đã đặt tên cho dòng sông?’

6259

Lê Xuân

(Vanchuongphuongnam.vn) – Hơn 20 năm sau khi ra đời, tới năm 2008, bút ký Ai đã đặt tên cho dòng sông? của nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường chính thức được Bộ giáo dục – Đào tạo đưa vào sách Ngữ văn lớp 12 – Tập I. Sau hai tập bút ký Ngôi sao trên đỉnh Phu Văn Lâu (1971) và Rất nhiều ánh lửa (1979), bút ký Ai đã đặt tên cho dòng sông? được in lần đầu ở Tạp chí Sông Hương năm 1981, sau đó in trong tác phẩm cùng tên năm 1984 (ông viết xong ngày 04/01/1981).

Những bài bút ký của Hoàng Phủ Ngọc Tường được viết với cảm hứng ngợi ca theo khuynh hướng sử thi để tỏ lòng tri ân với Huế, với những con người đã hi sinh cao cả cho sự nghiệp giải phóng quê hương đất nước. Hoàng Phủ Ngọc Tường viết về dòng sông quê mình với một tình cảm gắn bó sâu nặng hơn 40 năm, như ông đã tự bạch: “Lớn lên ở Huế, không lúc nào tôi không cảm thấy thành phố này như một khu vườn thân mật của mình” (Hoa trái quanh tôi). Đó cũng là tác phẩm ông tâm đắc nhất. Trong một lần trả lời phỏng vấn báo chí, ông cho biết: “Đây là bút ký dài nhất và tâm huyết nhất của tôi về Huế. Tôi đã mang cả tâm huyết vẽ nên một dòng sông y như nó vốn có. Dòng sông của văn hóa, lịch sử, huyền thoại… với vẻ đẹp thật của thiên nhiên và có tính nhân văn. Đó là một thứ tài sản tôi muốn gửi lại cho thế hệ mai sau với lời nhắn gửi: sông Hương như một viên ngọc quý mà thiên nhiên đã ban tặng cho Huế. Hãy bảo vệ vẻ đẹp ấy để nó trường tồn mãi mãi, đừng tham vọng tác động làm thay đổi nó dù điều này không phải dễ…”

Tác phẩm đã thể hiện sự uyên bác và tài hoa của ông trong cái nhìn liên tưởng đa chiều gắn với những triết luận sâu sắc về mối quan hệ giữa dòng sông với lịch sử, dòng sông với thơ ca nhạc hoạ, dòng sông với con người xứ Huế. Nếu nhạc sĩ Văn Cao để lại cho đời một trường ca Sông Lô hùng tráng, nhà văn Nguyễn Tuân vẽ nên con sông Đà dữ dội và trữ tình trong bút ký Người lái đò sông Đà, nhà thơ Hoàng Cầm với Bên kia Sông Đuống xanh xanh bãi mía bờ dâu, nhà thơ Hoài Vũ cất tiếng gọi tha thiết với Vàm Cỏ Đông thì Hoàng Phủ Ngọc Tường sau hơn nửa thế kỷ gắn bó máu thịt với sông Hương đã cho ra đời thiên bút ký “độc nhất vô nhị” về dòng sông nên thơ, nên nhạc này – Ai đã đặt tên cho dòng sông?

Nhà thơ Thu Bồn cũng đã viết về dòng sông yêu mến ấy với cảm xúc thật say đắm:

Con sông dùng dằng, con sông không chảy
Sông chảy vào lòng nên Huế rất sâu.

Nói đến Huế là nói tới Hương Giang và nói tới sông Hương là nói tới Huế – một “Huế tình yêu của tôi” như nhạc sĩ Trương Tuyết Mai đã khẳng định. Ở bút ký này, sông Hương được tác giả nhìn dưới góc độ của nhiều lăng kính trong cuộc hành trình đi tìm cội nguồn của dòng sông với những bước thăng trầm của nó: “Trước khi về đến châu thổ êm đềm nó đã là một bản trường ca của rừng già, rầm rộ giữa bóng cây đại ngàn, mãnh liệt qua những ghềnh thác, cuộn xoáy như cơn lốc vào những đáy vực bí ẩn, và cũng có lúc nó trở nên dịu dàng và say đắm giữa những dặm dài chói lọi màu đỏ của hoa đỗ quyên rừng”. Đó là một dòng sông không những mang vẻ đẹp của cảnh sắc thiên nhiên mà nó còn chứa đựng nhiều vẻ đẹp về văn hóa gắn liền với từng giai đoạn lịch sử của Huế thương, Huế mộng, Huế mơ…

Vẻ đẹp của sông Hương qua cảnh sắc thiên nhiên

Với sức tưởng tượng phong phú kết hợp giữa tư duy hình tượng và tư duy logic, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã cung cấp cho chúng ta nhiều tri thức về sự hình thành sông Hương từ thượng nguồn ra tới biển: “Giữa lòng Trường Sơn, sông Hương đã sống một nửa cuộc đời mình… ra khỏi vùng núi, sông Hương đã chuyển dòng một cách liên tục… Từ ngã ba Tuần, sông Hương theo hướng Nam Bắc qua điện Hòn Chén, vấp Ngọc Trản, nó chuyển hướng sang Tây Bắc, vòng qua thềm đất Nguyệt Biều, Lương Quán rồi đột ngột vẽ một hình vòng cung thật tròn về phía Đông Bắc, ôm lấy chân đồi Thiên Mụ, xuôi dần về Huế”. Phải có sự dày công tra cứu tỉ mỉ những thông tin khoa học địa lí, địa chất, về sự hình thành của sông Hương, cùng với những cảm xúc thăng hoa, ông mới có được những trang văn miêu tả, tường thuật vừa mang tính khoa học vừa mang tính văn chương sâu lắng và đằm thắm đến thế.

Sông Hương ở đầu nguồn với sức sống mãnh liệt, hoang dại nhưng cũng dịu dàng và mạnh mẽ: “Rừng già đã hun đúc cho nó một bản lĩnh gan dạ, một tâm hồn tự do và trong sáng”. Ông đã thổi vào dòng sông một ngọn gió tâm hồn dào dạt nhạy cảm, liên tưởng tự do để càng mạnh mẽ hơn, đắm say hơn ở địa phận thượng nguồn. Khi về đến đồng bằng, sông Hương được thay đổi về tính cách: “Sông như chế ngự được bản năng của người con gái, mang một sắc đẹp dịu dàng và trí tuệ, trở thành người mẹ phù sa của một vùng văn hóa xứ sở”. Sông Hương còn mang vẻ đẹp trầm mặc khi chảy dưới chân những rừng thông u tịch với những lăng mộ âm u của các vua chúa triều Nguyễn. Đó là vẻ đẹp mang màu sắc triết lí, cổ thi khi đi trong âm hưởng ngân nga của tiếng chuông chùa Thiên Mụ, có vẻ đẹp “vui tươi” khi đi qua những bãi bờ xanh biếc vùng ngoại ô Kim Long, có vẻ đẹp “mơ màng trong sương khói” khi nó rời xa thành phố để đi qua những bờ tre, lũy trúc và những hàng cau thôn Vĩ Dạ.

Đoạn miêu tả sông Hương chảy qua thành phố là đoạn gây được ấn tượng mãnh liệt nhất với người đọc. Đó là hình ảnh chiếc cầu bắc qua sông: “Chiếc cầu trắng in ngấn trên nền trời, nhỏ nhắn như những vành trăng non”. Cảnh vật dường như thắm đẫm hồn thơ, hồn người “Đường cong ấy làm cho dòng sông như mềm hẳn đi, như một tiếng vâng không nói của tình yêu… Tôi nhớ sông Hương, quý điệu chảy lững lờ của nó khi ngang qua thành phố”. Dường như sông Hương cũng “dùng dằng” không muốn xa thành phố: “Rồi như sực nhớ lại một điều gì đó chưa kịp nói. Nó đột ngột đổi dòng rẽ ngặt sang hướng Đông Tây để gặp lại thành phố ở góc Bao Vinh… khúc quanh này thật bất ngờ… Đấy là nỗi vương vấn, cả một chút lẳng lơ kín đáo của tình yêu”. Và sông Hương trở lại “để nói một lời thề trước khi về biển cả”. Tác giả liên tưởng tới lời thề của đôi tình nhân chung thủy: “Lời thề ấy vang vọng khắp khu vực sông Hương thành giọng hò dân gian, ấy là tấm lòng người dân Châu Hóa xưa mãi mãi chung tình với quê hương xứ sở”.

Hoàng Phủ Ngọc Tường đã viết về dòng sông với tấm lòng ưu ái, với tình yêu sâu sắc, thuỷ chung… Trong mối quan hệ với con người, dòng sông ấy là dòng sông – đời người. Với xứ sở đã sinh thành và cưu mang nó. Sông Hương đã tri ân bằng dòng nước mát lành và phù sa màu mỡ để hoa trái của những khu vườn An Hiên ngọt lành, cho những ngôi làng ven sông trở thành ngôi làng thơm tho của xứ Huế.

Vẻ đẹp của sông Hương dưới góc nhìn văn hóa

Sông Hương không chỉ mang vẻ đẹp của thiên nhiên, của lịch sử mà dòng sông ấy còn mang vẻ đẹp văn hóa, văn chương theo chiều dài lịch sử trong cảm hứng của nhiều thi sĩ, họa sĩ, nhạc sĩ. Từ trong thơ Nguyễn Du, Bà Huyện Thanh Quan, Cao Bá Quát, Tản Đà, Đoàn Phú Tứ, Tố Hữu… dòng sông hiện lên với những hình dáng và màu sắc khác nhau trong mọi cung bậc của cảm xúc. Với Cao bá Quát thì Hương Giang “như kiếm dựng trời xanh” (Trường giang như kiếm lập thanh thiên). Nhà thơ Tản Đà trong bài Chơi xuân đã viết về sông Hương “Dòng sông trắng – lá cây xanh”. Với đại thi hào Nguyễn Du những năm tháng “đã lênh đênh trên quãng sông này với một phiến trăng sầu và từ tiếng nước rơi bán âm của những mái chèo khuya”. Với bà Huyện Thanh Quan dòng sông là “bóng chiều bảng lãng”. Với Tố Hữu thì “dòng sông gắn liền với sức mạnh tâm hồn”, gắn với hình ảnh “Cô gái thẩn thờ vê áo mỏng/ Nghiêng nghiêng vành nón dáng chờ ai/ Ven bờ sông phẳng con đò mộng/ Lả lướt đi về trong gió mai” .

Một đặc sắc nữa trong cảm quan nghệ thuật của tác giả là đã gắn sông Hương với âm nhạc cổ điển Huế qua liên tưởng đa chiều: “Sông Hương đã trở thành một người tài nữ đánh đàn lúc đêm khuya… Quả đúng vậy, toàn bộ nền âm nhạc cổ điển Huế đã được hình thành trên mặt nước của dòng sông này”. Ông đã tưởng tượng: “Trong một khoang thuyền nào đó, giữa tiếng nước rơi bán âm của những mái chèo khuya”. Phải có độ nhạy cảm về thẩm âm, hiểu biết về âm nhạc cung đình Huế, tác giả mới có được những liên tưởng độc đáo như vậy. Hình tượng dòng sông được diễn đạt bằng những hình ảnh so sánh tài tình, mới lạ “Sông Hương đã sống một nửa cuộc đời của mình như một cô gái di-gan phóng khoáng và man dạ, dòng sông mềm như tấm lụa, sông Hương đã trở thành một người tài nữ đánh đàn lúc đêm khuya…”

Sông Hương còn đẹp bởi một huyền thoại chứa đựng chiều sâu của tâm linh khi dân làng Thành Chung lý giải về cách gọi tên: “Vì yêu quý con sông xinh đẹp của quê hương con người ở hai bên bờ sông đã nấu nước trăm loài hoa đổ xuống sông để làn nước thơm tho mãi”. Ông xem “Sông Hương như nỗi hoài vọng về một cái đẹp nào đó chưa đạt tới ở đời” (Sử thi buồn), nó là “Dòng sông của thời gian ngân vang, của sử thi viết giữa màu cỏ lá xanh biếc, vẻ đẹp của dòng sông đổi sắc không ngừng dưới ánh nắng và trong mùi hương trốn tìm của hoa trái trong vườn” (Hoa trái quanh tôi). Và qua cách nhìn, cách cảm của một thi nhân, một nhạc sĩ, một họa sĩ, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã đem đến cho người đọc nhận thức về chiều sâu văn hoá và vẻ đẹp tâm hồn của con người xứ sở nơi dòng sông đi qua.

Vẻ đẹp sông Hương gắn với những sự kiện lịch sử

Từ góc nhìn văn hóa và những triết lý về dòng sông trong mối quan hệ với lịch sử, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã đưa người đọc lật tìm những tư liệu, những sự kiện có liên hệ với dòng sông. Tên của sông Hương được ghi trong Dư địa chí của Nguyễn Trãi là “Linh Giang” (dòng sông mang yếu tố tâm linh của vùng đất địa linh nhân kiệt). Những giai thoại, huyền thoại về dòng sông đã góp phần trả lời câu hỏi: Ai đã đặt tên cho dòng sông?

Dòng sông ấy là điểm tựa để quân dân Đại Việt bảo vệ biên cương. Ở thế kỉ XVIII, nó vẻ vang soi bóng kinh thành Phú Xuân, gắn liền với tên tuổi người anh hùng áo vải Nguyễn Huệ – Quang Trung: “Sông Hương đã sống những thế kỷ vinh quang với nhiệm vụ lịch sử của nó”. Dòng sông như “người dũng sĩ trấn giữ biên thuỳ đã nhiều lần chiến đấu oanh liệt bảo vệ biên giới phía Nam của Tổ quốc Đại Việt rồi vẻ vang soi bóng kinh thành Phú Xuân của người anh hùng Nguyễn Huệ… Trong những ngày Cách mạng tháng Tám với những chiến công rung chuyển, những ngày nổi dậy tổng tiến công thần tốc tết Mậu Thân 1968, và qua hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ đầy thử thách và vinh quang của dân tộc, sông Hương đã “Cùng sống những giây phút hào hùng của hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ để cuối cùng trở về sống cuộc sống bình thường, làm người con gái dịu dàng của đất nước”. Với lịch sử sông Hương đã là một chứng nhân, điều đó đã khiến thành phố Huế mang một sức hấp dẫn lớn về vẻ đẹp văn hoá mang tầm quốc gia và quốc tế.

Hoàng Phủ Ngọc Tường đã đưa người đọc xuôi theo dòng sông thơm mát để trở về lịch sử còn khuất nẻo, để khám phá vị trí âu đời của thành Châu Hoá đứng uy nghiêm soi bóng trên sông Hương. Nó chính là một ải Chi Lăng ở phía Nam Tổ quốc đã bao lần làm quân thù khiếp sợ. Lịch sử đã gọi nó là “Vạn lý trường thành của phương Nam”.

Vĩ thanh

Ai đã đặt tên cho dòng sông? đã và đang chảy trong tâm thức, trong hoài vọng về quá khứ, hiện tại và tương lai của mỗi chúng ta. Bằng những cách nhìn ở nhiều góc độ của cảm quan nghệ thuật, Hoàng Phủ Ngọc Tường thể hiện cái tôi rất hiện thực và rất trữ tình của một người luôn nâng niu trân trọng quá khứ, luôn khơi dậy để làm đẹp thêm những giá trị tinh thần hôm nay và mai sau. Từ hình tượng dòng sông, ông đã làm nổi bật vẻ đẹp thiên nhiên, văn hoá, lịch sử và tâm hồn con người ở một vùng đất cổ kính của đất nước. Tác giả đã soi tâm hồn mình vào tình yêu quê hương xứ sở, vào sông Hương khiến hình tượng văn học của bài ký trở nên lung linh, đa dạng như chính đời sống tâm hồn của con người xứ Huế. Và cùng với trí tưởng tượng và sự uyên bác về các phương diện địa lí, lịch sử, văn hóa, nghệ thuật tác giả đã tạo nên áng văn đặc sắc về dòng sông ở miền Trung này.

Với vốn ngôn ngữ phong phú, luôn biến ảo, giàu hình ảnh và cảm xúc cùng với việc sử dụng nhiều biện pháp tu từ đắt địa, như so sánh, ẩn dụ, hoán dụ, nhân hóa, tượng trưng… Hoàng Phủ Ngọc tường đã nâng bút ký Ai đã đặt tên cho dòng sông? thành một bài “thơ văn xuôi” giàu tính họa, tính nhạc và nhiều giá trị khảo cứu khác.

L.X