“Về với dòng sông quê” – Khúc ân tình dào dạt yêu thương

745

Ngã Du Tử

(Vanchuongphuongnam.vn) – “Đạo đức cao thượng nhất của nhân loại là gì? Đó chính là lòng yêu quê hương và đất nước” (Napoleon  – Pháp). Cô giáo Hoàng Lan Quyên sinh ra và lớn lên tại làng Mỹ Huệ, Bình Dương, Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi.

Vùng đất Quảng Ngãi này được cụ Cử nhân Nguyễn Cư Trinh (1714 – 1767) đặt tên 10 thắng cảnh lúc làm Trấn phủ ở đây. Một vùng đất có ba dòng sông lớn mang chữ đầu là Trà: Trà Bồng, Trà Khúc và Trà Câu (tính từ Bắc vào Nam). Tác giả Hoàng Lan Quyên cũng bắt đầu từ dòng sông thi ca Trà Bồng. Dòng sông ấy đã từng có một người cùng quê của cô giáo – nhà thơ Tế Hanh, ông nổi tiếng với tập thơ đầu tay khi tham gia văn nghệ: Thi phẩm “Nghẹn ngào” (1939) được giải Khuyến khích của nhóm Tự Lực Văn Đoàn lẫy lừng thời bấy giờ.

Tế Hanh (1921 – 2009), tên khai sinh là Trần Tế Hanh, một nhà thơ Việt Nam thời tiền chiến. Sinh ra tại làng Đông Yên, xã Bình Dương, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi, quê hương chính là nguồn cảm hứng lớn nhất của Tế Hanh. Ông xuất hiện ở chặng cuối của Phong trào Thơ Mới với những bài thơ mang theo nỗi buồn và tình yêu quê hương khi ông mới 18 tuổi. Có lẽ vì quý mến và thần tượng Tế Hanh, nên dù làm nghề dạy học nhưng Hoàng Lan Quyên cũng làm thơ, viết văn; đặc biệt là viết về quê hương của chị và khi có dịp đi đến các vùng của Bình Sơn, rộng hơn là Quảng Ngãi. Chị viết những đề tài gần gụi, thực tế ngay trên chính quê nhà. Có lẽ chỉ có lòng yêu quê hương thực sự mới được vậy! Như một văn hào châu Âu đã viết: “Tình yêu Quê hương, Tổ quốc là bẩm tính của mỗi người” (Van del Vodel).

Vô cùng cảm kích chị, bởi chị muốn giới thiệu hình ảnh quê hương mình cùng độc giả thông qua ngôn ngữ. Ngày nay, “Xã Bình Dương – một miền quê hiền hòa ven sông Trà Bồng thơ mộng. Đây là nơi có lịch sử văn hóa lâu đời. Vừa qua, người dân tưng bừng phấn khởi đón nhận hai Bằng xếp hạng di tích lịch sử cấp Tỉnh. Trong đó có Lăng Vạn Đông Yên”. (Trích đoạn mở đầu “Lăng Vạn Đông Yên – một di tích văn hóa cấp Tỉnh). Với 29 bài viết dạng thể ký, lời văn giản dị, mộc mạc nhưng tha thiết chân thành, ai đọc cũng cảm nhận được mục đích của nhà văn. Chỉ là giới thiệu những nơi mình đi qua, ghi lại cảm xúc bằng ngôn ngữ chân phương của người con được sinh ra và lớn lên trên quê hương nghèo khó, thiên nhiên không ưu đãi nhưng nỗ lực xây dựng mãi cho đến hôm nay. Dường như chị muốn đóng góp một phần công sức nhỏ bé của kẻ hậu bối để tri ân đến tiền nhân. Quê hương có thể nghèo, nhưng người con quê hương không thể nghèo ý thức yêu quê, đó là cốt lõi của thông điệp qua từng bài ký, chỉ đơn giản vậy thôi nhưng người đọc sẽ thấy được giá trị hiện thực, ý nghĩa nhân văn mà chị gửi gắm.

Với bài ký “Nơi miền sóng vỗ”, chị viết: “Đến với Lý Sơn chúng tôi không chỉ chiêm ngưỡng những danh thắng hoang sơ mà còn được khắc sâu dấu ấn lịch sử về Hải đội Hoàng Sa. Đứng dưới chân tượng đài uy nghiêm, tôi chợt nghe lòng mình thảng thốt. Xúc động vô cùng khi hồi tưởng về những đội Hùng binh dong thuyền vượt biển, không ngần ngại sóng to, gió lớn đi cắm mốc chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa ngày nào”.

Nhà thơ Ngã Du Tử

Nếu ai chưa biết đảo Lý Sơn của Quảng Ngãi thì cũng mong một lần đến để biết nỗi nhọc nhằn của các Hùng binh Hải đội Hoàng Sa kiêm quản Bắc Hải như thế nào, thời giữ nước của tiền nhân ra sao? Và cũng muốn đến Lý Sơn để hiểu thêm lòng yêu nước của con dân đất Việt nói chung và của người Quảng Ngãi nói riêng. Thật hào hùng và đáng quý biết bao!

Với cô giáo Thảo – người Bình Sơn đồng nghiệp tác giả, một người tận tụy với nghề giáo, thích cống hiến, dù nhọc nhằn nhưng ngọn lửa đam mê vẫn cháy bỏng cùng đàn em nhỏ. Cô Thảo không ngần ngại khó nhọc trong lúc dịch Covid hoành hành và muốn thế hệ sau viết tiếp ước mơ như cô đã từng, chị viết:

“Do mẹ mất sớm nên ngay từ nhỏ Thảo rất yêu thương cha và bao bọc chở che cho em. Ước mơ làm cô giáo của Thảo cũng tác động đến hai cô em gái. Thủy và Trang sau khi tốt nghiệp trung học phổ thông cũng chọn nghề “gõ đầu trẻ” nối gót chị mình. Họ cùng nhau cống hiến cho sự nghiệp giáo dục nơi vùng đất sơn cước nghèo nàn cằn cỗi.” (Trích “Vì đàn em thơ”). Cuộc đời vợ chồng cô Thảo gắn liền với vùng cao huyện Tây Trà (nay là Trà Bồng) trong sự tự nguyện đã dệt nên cảm hứng cho tác giả. Trân trọng tấm lòng cống hiến vì đàn em thân yêu, tác giả viết:

“Tự nguyện gắn bó cả cuộc đời mình với sự nghiệp giáo dục ở vùng cao là quyết định dứt khoát của hai vợ chồng cô Thảo. Họ cảm thấy vui vì mang lại hạnh phúc cho trẻ thơ và cũng là thực hiện những ước mơ ôm ấp từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường”.

Còn với Làng Đông Yên của tác giả thì sao? Một nhà thơ ở Bình Dương – Miền Đông Nam Bộ viết:

“Ánh mắt yêu thương nhìn lặng lẽ

Nghe đời bát ngát một dòng sông”

(Thạch Thảo)

Ai cũng có dòng sông để yêu thương, để nhớ về. Câu thơ này giống với ý niệm của Hoàng Lan Quyên chăng? Và từ đó tác giả cảm thấu được nên đã viết quê hương mình cũng có một dòng sông với ánh nhìn lặng lẽ, và muốn thực hiện điều gì với quê hương. Cô giáo trải lòng bằng giọng văn nhẹ nhàng, dễ hiểu, bình dị nhưng êm đềm mà tha thiết, dạt dào như sóng nước vỗ về bờ sông quê mẹ, nên thơ như lời thơ của người tài hoa, của thi sĩ Tế Hanh thuở nào.

Những “Tiếng gà thao thức, Mái trường làng và nhà thơ quê hương, Mạch nguồn giếng cổ, Nghĩa trủng ở quê tôi, Làng cá Đông Yên, Chem chép quê tôi, Nhịp cầu nối những niềm vui”… là những bài ký nói về quê nhà rất gần gũi và thân thiết, sát sườn với đời sống của người dân quê Bình Dương, tác giả ghi lại những dấu ấn cảm xúc để ít nhất lưu giữ trong tâm hồn đứa con thân yêu quê hương từ độ biết yêu quê.

Ngoài ra, chị còn tìm hiểu để lưu lại dấu ấn lịch sử của ngôi trường, sau này chị cũng được dự phần vào mái ấm học đường một thời cha ông, anh chị đã từng tìm kiếm con chữ, kiến thức ở nơi này. Chị viết:

“Trường Sơ đẳng Đông Yên được Chính phủ bổ nhiệm Hiệu trưởng và đưa giáo viên có trình độ kinh nghiệm, lương tâm nghề nghiệp đến dạy. Trường tiếp tục phát triển và mở thêm lớp Nhì Đệ nhất, lớp Nhì Đệ nhị, lớp Nhất. Đến năm 1937 hình thành một trường Tiểu học hoàn chỉnh. Cổng trường treo cao tấm biển với dòng chữ: “Ecole Primaire cfficiel Đông Yên” (Trường Tiểu học Công lập Đông Yên). Học trò hứng khởi thi đua học tập và hăng hái lao động trồng cỏ, trồng hoa và trồng cây bóng mát như: cây bàng, cây phượng, cây dầu lai… tạo nên cảnh quang thật đẹp đẽ và mát mẻ.

Thuở ấy, học hết bậc Tiểu học được xem là người có trình độ học thức cao vì đã thông thạo tiếng Pháp và chữ Quốc ngữ. Thi đậu tốt nghiệp Tiểu học được cấp bằng Primaire (Còn gọi là Bằng Tốt nghiệp Tiểu học Đông Dương). Những năm tháng ấy thi cử rất nghiêm minh nhưng học sinh của trường luôn nằm trong tốp dẫn đầu của tỉnh Quảng Ngãi, có một số kỳ thi còn dành được vị trí thủ khoa, á khoa”… (Mái trường làng và nhà thơ quê hương). Sau những đổi thay của thời gian, bây giờ là Trường Trung học cơ sở Bình Dương (vẫn nằm trên nền đất cũ của Trường Đông Yên); dấu ấn của ngôi trường làng có bề dày lịch sử luôn là niềm tự hào của người dân địa phương.

Còn với ký ức của làng mạc thì sao? “Quê hương nếu ai không nhớ/ sẽ không lớn nổi thành người”, nó mãi bàng bạc với con người sinh ra và lớn lên trên mảnh đất quê hiền hòa. Dù thế nào thì quê hương – nơi chôn nhau cắt rốn ấy làm sao quên được? Ai mà không yêu, khi tuổi đời chồng chất người ta càng da diết hơn. Cô giáo Hoàng Lan Quyên đã viết thật nhiều cho làng quê mình rất tự nhiên như một sự biết ơn chân thành; không cầu kỳ, chỉ đơn giản như tỏ bày tình cảm của mình với quê, nhất là từ ngày chị xong trách nhiệm phụng sự của một công dân chân chính. Chị viết: “Lăng Vạn Đông Yên có tên dân gian là Vạn Cồn Mành, nằm bên tả ngạn hạ lưu sông Trà Bồng hiền hòa thơ mộng. Từ xa xưa, người dân nơi đây sống chủ yếu vào nghề chài lưới trên những con thuyền buồm, thuyền câu nhỏ bé với phương tiện đánh bắt thô sơ. Vì thế mà nhiều lần ra biển, họ thường gặp sóng to gió lớn giữa đại dương mênh mông. Trong tâm thức của ngư dân, Cá Ông là Thần Nam Hải – vị phúc thần độ mạng, luôn xuất hiện, cứu giúp ngư dân vượt qua cơn hiểm nguy, bất trắc một cách kịp thời”. (Lăng Vạn Đông Yên…).

Hoặc: “Theo lời kể của các chủ lò hấp thì trước hết phải chọn nguồn cá thật tươi nguyên. Đó là khi ghe đi biển vừa về cập bến, con cá nục, cá trích còn óng ánh sáng bạc là các bà mua về đổ vào thúng nước có hòa muối hạt vừa đủ mặn dầm cho cá thấm. Khoảng một tiếng đồng hồ sau vớt ra, đem sắp lớp đều đặn vào những chiếc rổ tre đan thưa, lòng cạn. Sau đó xếp chồng vài ba rổ vào chiếc gióng có quai bằng mây hoặc lạt cứng rồi đem nhúng vào chảo nước muối pha loãng đang sôi sùng sục trên bếp lò hừng hực lửa. Hơi nước bốc lên ngùn ngụt, canh chừng 15 – 20 phút khi cá vừa chín tới là họ xách chiếc gióng lên, mang cá ra ngoài lấy gáo dội (tạt) nước lạnh có pha muối nhạt. Rổ cá bốc hơi, dậy mùi thơm lừng. Sau đó họ mang ra chỗ thoáng sắp hàng ngay ngắn, kê nghiêng nối đuôi để cho cá bốc hơi ráo nước. Chờ cho cá nguội họ xếp chồng lên xe chở đi bán ở các chợ xa”. (Làng cá Đông Yên)

Thưa các bạn văn và độc giả thân mến! Bài viết cũng khá dài, những dẫn chứng trên cho thấy sự yêu quê hương của chị thật chân phương bình yên làm sao. Còn nhiều, nhiều nữa tình cảm chị trải dài trong cả tác phẩm ký. Chúng tôi để cho độc giả khám phá thêm mới thấy hết những nồng mặn từ tác giả Hoàng Lan Quyên viết về làng quê mình như lời thì thầm tự tình với quê nhà vọng về từ thuở biết suy nghĩ hai tiếng quê hương của chị. Nơi “cách biển nửa ngày sông”.

Hân hoan giới thiệu tập truyện ký “VỀ VỚI DÒNG SÔNG QUÊ” của Hoàng Lan Quyên cùng độc giả khắp mọi miền.

N.D.T

Hạ 2023