Con người Phùng Cung và  những bài thơ hay trong tập Xem Đêm (phần 1)  

111

Nguyễn Hữu Đang

(Vanchuongphuongnam.vn) – Cách đây ba năm, khi tôi còn ở quê (Thái Bình) và Phùng Quán còn sống bên Hồ Tây, ông khoe với tôi tập thơ hãy còn là bản thảo của Phùng Cung mà ông khen hết lời. Tôi nửa tin nửa ngờ: văn xuôi thì qua truyện ngắn Con ngựa già của Chúa Trịnh nổi tiếng, Phùng Cung đã tỏ ra có nghệ thuật vững, còn Phùng Cung làm thơ thì chưa chắc đã hay. Nhưng khi được đọc bản thảo, dù khó tính, tôi cũng rất thích thú. Nhiều bài hay, có những bài đáng coi là tuyệt tác. Và tôi cùng ông Quán cố gắng tạo điều kiện cho tác phẩm ra đời.

Nhà thơ Phùng Cung

Nhà xuất bản Văn Hóa Thông Tin đã sốt sắng nhận làm bà mụ đỡ đẻ cho đứa con tinh thần này của Phùng Cung. Khi đón nhận nó với cái tên ngộ nghĩnh Xem Đêm, tôi nghĩ ngay đến một câu của thi hào cổ đại Horace như đã “ứng” vào trường hợp này: “Tôi sẽ không chết tất cả” (ngụ ý sau khi thi sĩ qua đời, tác phẩm của ông là một phần con người ông sẽ còn sống mãi), Phùng Cung cũng hoàn toàn tin tưởng lạc quan ở sức sống lâu dài của thơ ông như Horace nghĩ về thơ mình. Và cố nhiên bấy lâu ông hằng mong thơ ông chóng thoát ly bản thảo để sức sống kia được thử thách và cống hiến.

Thơ Phùng Cung tích lũy trong thầm lặng khắc kỷ đã phải nằm chờ hơn hai mươi năm dưới lớp bụi thờ ơ, như Hằng Nga ngủ trong rừng, chưa có Hoàng tử đẹp trai đến đánh thức, nay một phần được in là tín hiệu việc quản lý văn nghệ có khả năng mở ra một thời kỳ đổi mới – một thời kỳ mà Ehrenbourg gọi là “đợt tan băng giá” – chí ít cũng hứa hẹn sẽ phóng khoáng hơn trước. Hứa hẹn chung với mọi người thì chưa chắc đã thực hiện được, nhưng riêng với Phùng Cung thì rõ ràng ông là một cây bút vốn bị hoàn cảnh không bình thường kìm hãm, đang giành lại chỗ đứng dưới mặt trời. Nếu không, sẽ chẳng bao giờ chúng ta biết đến một tập thơ đáng trân trọng.

Tập Xem Đêm đem lại cho chúng ta những vẻ đẹp bất ngờ trong môi trường nông thôn cũ (chưa cơ khí hóa, điện khí hóa, tập thể hóa), nơi có hai nét đặc trưng cổ truyền là quang cảnh thanh bình và tinh thần thuần phác mà văn học thường phản ánh như sự đền bù cho tình trạng nghèo khổ, lạc hậu, hai nét đặc trưng mà những đồng bào đi sinh sống ở nước ngoài thường nhớ tới như diện mạo quê hương. Nói cho đúng, đó là hình ảnh tổng hợp những nét chung của nông thôn miền châu thổ sông Hồng trong một quãng dài lịch sử ngàn năm, một hình ảnh mà tác giả tha thiết giữ trong ký ức vì ông đã quyến luyến nó từ “thời mũi rãi”. Cái nôi yêu quý ngày xưa đã trở thành nguồn cảm hứng phong phú ngày nay cho một tâm hồn bén nhậy.

Hiện thực ở đây đã được chắt lọc qua rung động thẩm mỹ nên thơ mộng, nhưng cũng rất thật. Thân quen biết mấy, những cánh đồng bát ngát, ruộng lúa, bãi ngô, vườn dâu, nương vừng, xóm trại, khúc sông, bến đò, quán chợ, giếng đình, giàn trầu, giàn bí, lũy tre, ao bèo, củ khoai, nải chuối, quả ổi, trái ớt, hoa bưởi, hoa cau… và cả một thế giới động vật nhộn nhịp những trâu, bò, gà, chó, chim, cò, giun, dế, chuồn chuồn, đom đóm… xung quanh những con người lam lũ, hiền lành, có cô con gái “ý tứ soi gương đáy nón”, có truyện cũ chàng trai si tình “đề thơ vạt áo”, có người mẹ trẻ “sữa con so ướt yếm”, có người vợ đảm về chợ tối “bước sấp ngửa”… Bấy nhiêu hình ảnh tràn ngập không gian vang vọng tiếng gọi đò, tiếng sáo diều, tiếng tù và, tiếng chó sủa, tiếng ru con… Tất cả chung đúc lại thành bức tranh quê quen thuộc mà một Anh Thơ hay một Đoàn Văn Cừ đã có lần ghi chép thật thà, mộc mạc, hoặc kết thành một khúc nông ca (bucolique) mà Virgile đã để lại mẫu mực.

Nhưng Xem Đêm không chỉ có thế. Do tự nhiên thuận lợi hay sáng suốt lựa chọn, Phùng Cung đã tìm được cho thói quen tằn tiện lời nói của mình một địa hạt đắc dụng là địa hạt thơ, nó đòi hỏi phong cách diễn đạt hàm súc. Thơ hai-ku của Nhật Bản mà thế giới đánh giá cao đã chứng tỏ khả năng truyền cảm, gợi ý tối đa của lời văn tối thiểu.

Tuy vậy, Phùng Cung cũng chưa yên tâm mà vẫn đầu tư biết bao công sức để tìm những lời thơ “xuất thần”, tìm không mệt mỏi như dân hải đảo mò ngọc trai. Ôi công sức của Phùng Cung, có lẽ bậc thầy Đỗ Phủ cũng phải bằng lòng vì đã mặc nhiên thực hiện câu thề nguyền của nhà đại thi hào đối với thơ: “Lời không làm cho người ta kinh hãi thì chết cũng chưa thôi” (Ngữ bất kinh nhân, tử bất hưu).

Bằng một thứ ngôn ngữ cô đọng như tinh chất, tế nhị như hương thơm, ông mời bạn đọc làm quen với một Nàng Thơ đẹp kín đáo duyên lặn vào trong và khó tính, để tìm hiểu đến trở thành tri kỷ. Tôi tin rằng với nhiệt tình yêu thơ, vào cuộc họ sẽ nhận ra tác giả gắn bó với tình người và sự thanh cao. Có điều là vào cuộc ở đây cần đến cảm quan trực giác nhiều hơn là trí tuệ thông minh.

Mặt khác, ngoài hai tính cô đọng và tế nhị phù hợp với thơ nói chung, ngôn ngữ Xem Đêm còn đậm đà tính dân gian phù hợp vời đề tài thôn dã, được vận dụng điêu luyện trong những vần thơ êm nhẹ như cánh cò bay mà làm rộn lên trong tâm trí chúng ta lời ăn tiếng nói của bao thế hệ ông cha.

Chúng ta hiểu vì sao nhà thơ Quang Huy, trong bài giới thiệu in ở đầu sách, đã khẳng định hoàn toàn khách quan, công bằng: “Phùng Cung xứng đáng là bậc thầy về nghệ thuật ngôn từ”.

Chính nghệ thuật ngôn từ đã là một trong những yếu tố quan trọng làm cho thơ Phùng Cung độc đáo. Độc đáo là một tiêu chuẩn văn học khó đạt được mà Guy de Maupassant đề cao đanh thép như thách đố: Nhà văn xứng đáng với tên gọi ấy phải biết nhìn như chưa từng có ai nhìn như thế, biết nói như chưa từng có ai nói như thế.

Nhờ chiều sâu vốn sống và biết nhìn, biết nói như tính độc đáo yêu cầu, Phùng Cung đã tìm ra cái mới, cái lạ. Nhưng cái mới, cái lạ thường làm cho độc giả bỡ ngỡ, có khi không hiểu. Tôi muốn nói đến những điểm tối nghĩa trong Xem Đêm, những điểm dễ bị người ta chê trách, hoặc là ẩn ý mà người ta không nghĩ tới, hoặc là bỏ lửng mà người ta không đoán ra, hoặc là ước lệ riêng về cách viết mà người ta không chấp nhận. Có thể đó là những sáng tạo chưa hoàn chỉnh, nhuần nhuyễn, nhưng tác giả có quyền mạnh bạo đem thí nghiệm. Cũng có thể, như trong âm nhạc cổ điển, hội họa hiện đại, đó là những sản phẩm đặc biệt mà người muốn thưởng thức phải có “vốn” để thưởng thức. Nếu không… nếu không thì người “ngoại đạo” bao giờ cũng thiệt vì “ngoại đạo”, người “vô minh” bao giờ cũng bị thiệt vì “vô minh”. Chính kẻ viết bài này cũng đã “ngoại đạo”, “vô minh” đối với một số điểm tối trong Xem Đêm. Còn về phía người làm thơ, dù không đi vào quỹ đạo những trường phái thơ kín mít, người làm thơ tự tín, tự trọng cũng tán thành lời nhắn nhủ của nhà phê bình trứ danh Pháp Sainte Beuve (1804-1869): Thi sĩ không nên vì tham vọng chiều ý được hết thảy mọi người mà “pha loãng nước hoa của mình”.

Không phải vô lý nếu đã trên một trăm năm rồi, người ta nêu trách nhiệm tìm hiểu của người đọc là phải “đọc tích cực”, phải “tự tìm ra thìa khóa”, phải “đi gặp tác giả ở giữa đường”. Về những điểm tối trong Xem Đêm, tôi có ấn tượng tác giả tin tưởng và chờ đợi chúng ta sẽ thông cảm bổ sung, vì cái kho ngôn từ của ông dù đã phong phú cũng không đủ để ông bộc lộ được hết ý mình. Nhìn dưới góc độ tiến hóa chung, quần chúng hưởng ứng những sáng tạo của nhân tài như thế là phần năng động, phát huy trong sự phân công lao động xã hội.

*

 Sau khi nhận biết thế mạnh và những đòi hỏi của tác giả để thực hiện độc đáo, chúng ta tìm hiểu tác phẩm tận gốc của nó là nguồn cảm hứng. Trên kia nói nguồn cảm hứng thứ nhất (về thẩm mỹ) của Xem Đêm là những vẻ đẹp nông thôn đã hấp dẫn tác giả từ thuở nhỏ. Một nguồn cảm hứng nữa (về tư tưởng) đã đưa đến việc sáng tác hàng loạt những bài thơ chiếm gần nửa nội dung tác phẩm là tình thương cao cả của con người Phùng Cung.

Không phải ông chỉ thương số phận bất hạnh con người, mà thương cả số phận bất hạnh loài vật và cỏ cây là những sinh vật chung sống với người như hàng xóm, như bạn bè.

Ở đây hiện tượng xa lạ với hành động của một nhân vật lãng mạn, sướt mướt tưởng tượng bông hoa chết như người, rồi thương hoa, khóc hoa, chôn hoa. Cũng không phải trường hợp nhà văn dùng thủ thuật nhân cách hóa trong bút pháp hoặc mượn loài vật làm ẩn dụ để nói người. Ở đây, hiện tượng là con người Phùng Cung trong đời thường, với tư cách là một sinh vật, có ý thức đồng loại với những sinh vật khác và lấy đạo đức bác ái đối xử với đồng loại, cụ thể là thật sự có tình cảm với loài vật, cỏ cây.

Tôi biết Phùng Cung không chịu ảnh hưởng của thuyết luân hồi – kiếp nghiệp trong đạo Phật mà tình thương của ông cũng chan hòa rộng khắp đến mức trở thành ý kiến hiếu sinh đại đồng.

Cố nhiên tình thương ấy, theo trật tự lô-gíc ắt phải bắt đầu từ nhân loại và giành ưu tiên cho những người thân nhất. Trước hết, đi vào quá khứ, ông thương bà thân sinh quanh năm khó nhọc tảo tần miếng cơm, manh áo, nuôi con đến bước trưởng thành:

            Mồ hôi mẹ

            Tháng ngày đăm đăm

                               nhỏ giọt

            Con níu giọt mồ hôi

            Đứng dậy làm người

                               (Mẹ, trang 8)

Rồi thương người vợ hiền đã cùng mình chia sẻ cuộc đời điêu đứng:

            Em vất vả

            Tối ngày tất tả

            Lưng áo em

            Ngoang vôi trắng xóa

            Cái trắng này vắt tận trong xương

                               (Mồ hôi xương, trang 33)

Đến thương một nhà thơ:

            …

            Nửa thế kỷ

            Bị lưu đày

            Trong cõi tung hô.

                               (Tội nghiệp, trang 37)

Thương một gia đình cùng kiệt xác xơ:

            …

            Rổ không hờ hững quang treo

            Nắng thả chào mào nghiêng nghé

            Chó vẽ bóng gầy sân bếp

            Gió khều tã vã múa may

                               (Gia cảnh, trang 19)

Thương những người xiêu bạt kiếm ăn:

            Cửa liếp nối xa xăm

            Người đi từ dạo đói

            Chiều ghé sân hoang.

            …

                               (Nắng hàn vi, trang 45)

 Thương xóm nghèo:

            Trang trại trưa hè khát bữa

            Lẻ tấm

            Búng đèn

            Đũa mắm

            Đểnh đoảng mùi cháo – canh

            Gịuc cả xóm cởi trần.

                               (Cháo – canh, trang 23)

Thương người cán bộ phụ nữ luống tuổi, phải về hưu non, sống khó khăn trong nghề bán rượu lậu, ba-lô nặng chĩu:

            Nửa đời

            Nước thải

            Hưu non

            Vã mồ hôi son

            Tảo tần chiều sớm

            “Cuốc lủi” lưng vơi

            Ngẫm câu tục ngữ

            Mắt trước mắt sau

            Kinh hoàng di lụy

            Tóc bạc vào mùa

            Răng hơi bị đuối

            Trệu trạo trái sung

            Ruột tím cơ hàn.

                               (Tím cơ hàn, trang 102)

Thương người con gái chết đuối:

            Chớm tuổi yếm son

            Em hay xấu hổ

            …

            Chiều mưa ấy

            Dốc ao trơn

            Em sẩy chân

            Bất ngờ – ân hận

            …

            Xóm khóc – ngậm ngùi

            Từ đấy ao hoang

            …

                               (Ao hoang, trang 49)

Thương những người nằm dưới đất:

            Lạnh nhịp sương rơi

            Chiều – gạo đổ

            Dế gào chân mộ

            Trăng lên.

                               (Nghĩa trang, trang 25)

Nhìn sang thế giới bên kia, ông thương những cô hồn lang thang:

            Gió nã từng cơn

            Bùa trấn trạch

            Nấp trong giấy bản

            Bến đò, quán chợ, ngã ba

            Vật vã mùi cháo thí đêm hè.

                               (Cháo thí, trang 32)

Đã nghĩ đến những nghịch cảnh chung ở thế giới bên kia, hẳn Phùng Cung không quên những nghịch cảnh chung ở thế giới bên này. Ông thương đồng bào chịu gian khổ trong vùng lũ lụt:

            Đê tiền triều gẫy khúc

            Đồng ngập trắng

            Con lềnh đềnh cõng vắng bơi suông

            Thương em đứng giữa mùa nước mắt.

                               (Mùa nước mắt, trang 47)

Thương những người già trong kháng chiến phải bòn sức lao động sản xuất, đói vẫn hoàn đói:

Giặc quấy

            Làng queo quắt

            Tụi trẻ đi – đi hết

            Dờ dật sức già gãi đất

            …

            Cái đói tròn

            Lăn kín bốn mùa

                               (Gãi đất, trang 65)

Thương những người chết trận, nạn nhân của chiến tranh khốc liệt và chủ nghĩa anh hùng dã man thời phong kiến:

            Mỗi chiến thắng

            Một lần gươm tắm rượu

            Ruồi vẫn qua lùng máu

                               sa trường

            (Gươm báu, trang 68)

Thương giai cấp nông dân sống cơ cực không lối thoát trong nền sản xuất lạc hậu:

            Mặt trịn nắng

            Ngả màu chum, vại

            Hì hụi lối mòn tử đạo

            Lưng cơm chan đẵm phong trần.

                               (Phong trần, trang 71)

Thương một dân tộc tàn lụi sau một thời cường thịnh huy hoàng:

            Chiều Phan Rang xanh đau

                               ngọc nát

            Nắng Chiêm Thành quanh quất

                               tháp hoang

                               (Tháp Chàm, trang 84)

Thương nhân dân nước nào đó sống lầm than dưới cường quyền:

            …

            Phải đâu nhật thực triền miên

            Ngày tối hơn đêm

            …

            Quỳ gối chống tay vẫn còn sợ ngã

            Mặt đất quá cheo leo.

                               (Đêm vó ngựa, trang 20)

Đến đây tôi muốn giới thiệu một Phùng Cung lãng mạn “như ai”, thương tiếc những mối tình không trọn, cố nén lòng giữ giọt lệ khi gặp lại hai người yêu cũ, một đã thành sư bác mà vẫn chưa quên những ngày dan díu:

            …

            Nhìn trước nhìn sau

            Em khẽ khóc

            …

            Ngại đường tu dang dở

            Em vội lau nước mắt

            …

            Trót nhớ mãi

            Một chiều nghiêng lụy.

                               (Nghiêng lụy, trang 100)

Người thứ hai dáng dấp gian truân, tiều tụy, không còn đủ can đảm nhìn người cũ:

            …

            Lâu lắm gặp em

            Em chỉ khóc quay đi

            Bước héo

            Áo gầy

            Gió va nón cũ

            Tôi hiểu em

            Tôi chẳng nói được gì.

                               (Gặp em, trang 29)

Với lòng trắc ẩn ân cần đến có thể cưng chiều, ông mủi lòng về những tâm hồn trong sáng nhưng yếu đuối, không chịu nổi một sự buồn phiền nhỏ, như người phụ nữ thảo hiền đa cảm, khóc vì lo người thân phải chờ mong, tủi thân vì thiên nhiên cản trở:

            Bước sấp ngửa

            Em về chợ tối

            Gió bãi khoai quấn quít

            Làm em mau nước mắt

            Đèn con xóm trại đang chờ.

                               (Về chợ tối, trang 101)

Người được thương không có điều gì bi thảm, chỉ vì đức hạnh mà xúc động ngây thơ nên ông vì quý mến mà vỗ về, an ủi. Một tình thương dẹp dịu như ánh trăng thu!

Cũng với lòng trắc ẩn ân cần ấy, ông hận cho những cánh bèo trôi nổi không cùng:

            Lênh đênh muôn dặm

                               nước non

            Dạt vào ao cạn

            Vẫn còn lênh đênh

                               (Bèo, trang 7)

Ông không thể cầm lòng trước cảnh những quả chuối mới trổ, bấy bớt như trẻ sơ sinh mà phải chịu rét mướt mùa đông, thân trần trụi:

            Gió bấc về

            Chuối vừa mới trổ

            Dằn vật lỗi mùa

            Băn khoăn chung chiếc khố

            Lấy gì che chắn gió xung quanh.

                               (Chùm gió bấc, trang 96)

Nếu trong thơ Đường, hoa đào vô tình bên cái chết bi thảm của người con gái ốm tương tư, vẫn thản nhiên “cười với gió Đông” thì, trong thơ Việt Nam, Phùng Cung

            Thương cây đào ốm

            Xuân về chẳng nụ hoa

            Lá gầy run gió lạnh.

                               (Cây đào, trang 21)

Vì ốm, cây đào thiếu vẻ đẹp trong mùa xuân đã là đau khổ nhưng sự sống chưa mất hẳn, còn cây cà:

            …

            Cõi bẩn thỉu

            Cố xanh, cố tím.

            …

mà bị sâu róm ăn hết lá, nhất định cây cà sẽ chết:

            Cành suông chết điếng tím, xanh.

                               (Chết điếng, trang 25)

Đối với cây, dù ông quan tâm như vậy, tình thương của ông cũng không nhiều bằng đối với loài vật có tri giác như người. Điều đó ngẫu nhiên phù hợp với một luồng tư tưởng tiên phong hiện nay trên thế giới đòi cho loài vật được đối xử như người, muốn mở rộng dân chủ và đạo lý đến loài vật là đối tượng mà nhà văn kiêm nhà sử học Pháp Michelet (1789-1874) gọi thân thiết là “những anh em hạ đẳng của chúng ta”. Phùng Cung không chú ý đến luồng tư tưởng ấy và những phong trào hưởng ứng, song đối với ông, thương loài vật như thể thương người là một đạo đức đi đôi với đạo đức “thương người như thể thương thân”.

Tình thương của Phùng Cung đối với loài vật cũng như đối với người và cây, bắt nguồn từ ước mơ sẽ không còn thảm cảnh trên trái đất này, một ước mơ quá đẹp đã là một trong những động cơ của các tôn giáo lớn, các chủ nghĩa xã hội cũ và mới. Đâu phải chuyện hão! Từ thời tiền sử, sau khi con người homo sapiens (con người trí tuệ, tinh khôn) xuất hiện, ước mơ và hy vọng không bao giờ hết đã chiếm nửa cuộc sống loài người.

(còn tiếp)