Năng lượng của con lắc siêu hiện đại

(Vanchuongphuongnam.vn) – Siêu hiện đại không xóa bỏ dao động nội tại, nó lấy dao động nội tại làm năng lượng cho dao động hướng ngoại để tìm ý nghĩa ở cả hiện đại và hậu hiện đại. Vì vậy, có thể nói siêu hiện đại là dao động đa chiều vừa hướng nội, vừa hướng ngoại. Dao động nội tại là sự tự vấn bên trong chủ thể, đây là di sản của hậu hiện đại. Dao động hướng ngoại là việc chủ thể đó vươn ra ngoài đi tìm ý nghĩa, tìm kết nối, đây là di sản của hiện đại.

Ảnh minh họa. Nguồn internet

Khi Timotheus Vermeulen và Robin van den Akker công bố Notes on Metamodernism (2010) và sau đó Luke Turner công bố Metamodernist Manifesto (2011), họ cùng quy về một hình ảnh trung tâm: siêu hiện đại là quá trình dao động liên tục giữa hiện đại và hậu hiện đại. Hình ảnh con lắc và cỗ máy điện khổng lồ đã trở thành biểu tượng của lý thuyết. Tuy nhiên, một câu hỏi vật lý cơ bản vẫn treo lơ lửng: con lắc lấy năng lượng ở đâu để dao động liên tục? Trong vật lý, nếu không có năng lượng bù vào, mọi dao động đều tắt dần do ma sát. Về mặt logic, nếu chỉ là dao động thuần túy giữa hai cực đối lập, kết quả phải là triệt tiêu lẫn nhau, dẫn tới tê liệt.

Nhưng thực tế lại ngược lại. Dao động ấy không tạo ra tê liệt, nó tạo ra hành động: phim của Wes Anderson, nhạc của Billie Eilish, kiến trúc của Bjarke Ingels và hàng tỷ meme mỗi ngày.

Turner với trực giác rất mạnh đã gợi ý về nguồn năng lượng để con lắc dao động ngay trong Tuyên ngôn, chỉ là cách diễn đạt bằng ẩn dụ khiến độc giả khó hình dung. Vì thế, chúng tôi thử nối các gợi ý có sẵn trong Tuyên ngôn để tìm nguồn năng lượng này. Các điều trong tuyên ngôn tưởng chừng rời rạc nhưng có logic nội tại khá rõ. Thế giới vốn đã dao động sẵn (Điều 1), nhưng ở giai đoạn siêu hiện đại, dao động đó được khuếch đại bởi một cỗ máy điện khổng lồ (Điều 3) chính là mạng internet toàn cầu. Năng lượng để con lắc dao động được thể hiện ở các điều 4, 5, 6, 7, 8 nhưng chưa được khái quát hóa.

  1. Dao động là trật tự tự nhiên

Điều 1 thừa nhận dao động là trật tự tự nhiên. Như vậy, dao động không phải là thuộc tính riêng của siêu hiện đại. Các giai đoạn trước như hiện đại, hậu hiện đại cũng có dao động. Tuy nhiên, dao động của hiện đại được xem là lỗi cần khắc phục bởi hiện đại muốn triệt tiêu nó để tiến tới chân lý. Dao động ở hậu hiện đại lại neo ở một cực mỉa mai để tự bảo vệ. Có thể thấy, dao động ở hiện đại hay hậu hiện đại đều là dao động nội tại vì ít cơ chế phản hồi do nền tảng xã hội lúc đó chưa có “cỗ máy điện khổng lồ”.

Siêu hiện đại không xóa bỏ dao động nội tại, nó lấy dao động nội tại làm năng lượng cho dao động hướng ngoại để tìm ý nghĩa ở cả hiện đại và hậu hiện đại. Vì vậy, có thể nói siêu hiện đại là dao động đa chiều vừa hướng nội, vừa hướng ngoại. Dao động nội tại là sự tự vấn bên trong chủ thể, đây là di sản của hậu hiện đại. Dao động hướng ngoại là việc chủ thể đó vươn ra ngoài đi tìm ý nghĩa, tìm kết nối, đây là di sản của hiện đại.

Hiện đại nhìn vào thế giới, phát hiện ra chân lý. Hậu hiện đại nhìn vào hiện đại, phát hiện ra đại tự sự. Còn siêu hiện đại nhìn vào cả hiện đại và hậu hiện đại, phát hiện ra dao động. Đây là một trong những đóng góp học thuật có giá trị của siêu hiện đại.

Tuyên ngôn không chỉ rõ chủ thể dao động, nhưng có thể hiểu chủ thể ở đây là mọi cấu trúc sản sinh ý nghĩa bao gồm cá nhân, doanh nghiệp, thể chế và mạng lưới.

  1. Năng lượng để dao động liên tục

Tuyên ngôn không đề cập trực tiếp năng lượng nào giữ cho con lắc không bị tắt dần. Nhưng nếu đọc gộp các điều 4, 5, 6, 7, 8 lại, sẽ thấy được năng lượng ấy.

Ở hiện đại, năng lượng là khát vọng ngây thơ: tin rằng sẽ vượt được giới hạn để chạm tới chân lý. Ở hậu hiện đại, năng lượng là khát vọng tự bảo vệ, lấy mỉa mai làm cái phanh để suy ngẫm về chính mình sau khi hoài nghi đại tự sự.

Ở siêu hiện đại, năng lượng là khát vọng mới, được tạo thành từ ba lớp:

Một, khát vọng như thể (điều 4). Biết rằng giới hạn không thể vượt, nhưng vẫn làm như thể là có thể vượt. Năng lượng không đến từ kết quả, mà đến từ chính hành động như thể ấy. Nguyên văn gọi là hành động theo lối “as if”.

Hai, khát vọng từ chỗ dư thừa (điều 5). Khi nguồn phát là vô hạn, thế giới trượt dần về hỗn loạn. Hậu hiện đại nhìn chỗ thừa ấy và kết luận là vô nghĩa. Siêu hiện đại thì kéo chính cái thừa, cái lỗi, cái sến ấy trở lại thành hiện diện. Chỗ chênh nhau giữa hai cực tạo ra trực cảm (affect), tức là cái rung động thuần túy trước khác biệt.

Ba, khát vọng được khuếch đại bởi mạng lưới (điều 6) và được cho phép bởi kiểu biết mới (điều 7, 8). Khi mỗi cá nhân vừa là nơi phát thông tin vừa là nơi thu thông tin, thì dao động trong lòng người này sẽ kích hoạt dao động trong lòng người kia. Và khi mọi loại thông tin, dù là khoa học hay ngụ ngôn, dù đúng hay sai, đều được chấp nhận làm chất liệu cho tri thức, thì khát vọng không còn bị kiểm duyệt bởi tiêu chí đúng/ sai cũ nữa. Đó chính là “informed naivety” – ngây thơ sau khi đã biết, và “pragmatic romanticism” – lãng mạn mà thực dụng. Vì vậy, khát vọng mới không phải là quay lại khát vọng của hiện đại. Nó là khát vọng sau khi đã đi qua mỉa mai, biết mình sẽ thất bại, nhưng vẫn chọn dao động.

Có thể nói, tinh thần chung của nhân loại là khát vọng. Tuy nhiên, khát vọng lại biểu hiện khác nhau ở mỗi thời kỳ. Chính khát vọng tạo ra năng lượng cho dao động, trên những nền tảng kinh tế – xã hội khác nhau.

Hiện đại: Khát vọng chinh phục. Nhân loại tin cái vô hạn nằm ở ngoài kia, và mình có thể đi tới được bằng lý trí, khoa học và cách mạng. Nền tảng xã hội lúc này là giai đoạn tích lũy vốn tinh hoa, biểu hiện bằng nhà máy, công xưởng, đại học, đài phát thanh và thể chế. Cá nhân và tổ chức đều có chung khát vọng tiến bộ, nên dao động chỉ nằm trong nội tại.

Hậu hiện đại: Khát vọng tự bảo vệ. Sau khi vỡ mộng qua hai cuộc chiến tranh thế giới, nhân loại nhận ra rằng cái vô hạn có thể là ảo ảnh. Nên nó co lại, lấy mỉa mai làm áo giáp. Không tin gì nữa thì sẽ không thất vọng nữa. Đây là khát vọng được an toàn. Biểu hiện của giai đoạn xuất khẩu vốn tinh hoa ở các nước lớn ra toàn cầu. Dao động vẫn nằm trong nội tại và có tính ích kỷ.

Siêu hiện đại: Khát vọng mới ở lại trong chênh vênh. Nhân loại bây giờ đã học cả hai bài học trên. Nên nó chọn cách thứ ba: ở lại trong dao động. Vừa chân thành vừa mỉa mai, vừa ngây thơ vừa biết rõ. Đây là khát vọng được tiếp tục chuyển động, dù biết không có cái đích cuối cùng. Nhưng chính vì không có đích đến, nó buộc phải liên tục tìm ra ý nghĩa mới để hành động.

TP.HCM, tháng 9 năm 2026

Thy Sinh

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Vermeulen, T. & van den Akker, R. (2010). Notes on Metamodernism. Journal of Aesthetics & Culture, Vol.2.
  2. Turner, L. (2011). The Metamodernist Manifesto.