Nhà thơ Văn Công: Nắng đã ngủ yên trên ngàn lá…

57

Nhà thơ Văn Công tên thật là Cao Xuân Thiêm, sinh năm 1926 tại xã Diễn An, huyện Diễn Châu (tỉnh Nghệ An), trong một gia đình nho học, một dòng họ nổi tiếng về khoa bảng và nhiều trí thức lớn. Do sớm có năng khiếu, bấy giờ chú bé Cao Xuân Thiêm đã làm thơ ghi những điều trông thấy dọc đường, nhưng địa danh hấp dẫn: Vinh, Nghi Xuân, Đèo Ngang, Huế…


Nhà thơ Văn Công (1926-2021)

Tháng 8/1945 sau chuyến đi xa kiếm sống về, Cao Xuân Thiêm bước vào hoạt động cách mạng. Đó là cuộc hành trình xa quê gốc để vào vùng đất Liên khu 5 mà sau này trở nên thân thiết như chính quê mình. Năm 1946, hăm hở trong đoàn quân Nam Tiến, ông có mặt tại Phú Yên và như một định mệnh, ông gắn cuộc đời mình ở miền Tây Phú Yên, với những cái tên như Ma Pốp, Ma Xí, Ma Xoong, cũng quấn khố, để tóc dài, đi chân đất, nói tiếng dân tộc thiểu số, sống, chiến đấu cùng bà con trong những điều kiện ngặt nghèo, gian khổ nhất của cuộc kháng chiến.

Văn Công  từng là cán bộ đi vận động quần chúng ở vùng địch hậu miền đông Tây Nguyên trong kháng chiến chống Pháp. Hòa bình lập lại, ông không tập kết ra Bắc, tiếp tục ở lại nằm vùng phát động quần chúng. Ông từng là Phó Bí thư Tỉnh ủy phụ trách khối kinh tế phục vụ chiến trường Phú Yên, cán bộ phụ trách Ban chi viện chiến trường khu Trung Trung bộ, là thành viên Ban chấp hành Văn nghệ giải phóng khu Trung Trung bộ.

Tác phẩm đã xuất bản: Bất khuất (tập thơ, 1964); Mảnh đất yêu thương (tập thơ, 1978); Khúc hát miền quê (tập thơ, 1985); Miền đất huyền thoại (tập ký, 1990); Vùng đất lửa (tập kỳ, 1990); Trước chiều gió (tập thơ, 1996); Hương đêm (tập thơ, 1996)

Giải thưởng văn học: Hai bài thơ Lòng em và Tiếng hát các em được Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật Trung ương tặng giải nhất (1960); Tập thơ Tiếng hát miền Nam, thơ in chung của nhiều tác giả, được Giải thưởng Nguyễn Đình Chiểu của Hội Văn nghệ Giải phóng (1965).

Buổi sáng sớm vào cuối tháng 9 (30/9/2021), tôi đến cơ quan để chuẩn bị vào đầu tháng sẽ bắt đầu công việc vì dịch Covid ở vùng đất này dần tạm ổn. Vừa mở máy thì nhận tin của Phạm Đoàn Anh Kiệt bên Hội Nhà báo nói: Nhà thơ Văn Công mất rồi. Tôi im lặng nhìn biển ban mai lấp lánh, sóng vỗ nhẹ vào triền cát vào cuối thu sáng lấp lánh lòng chợt chùng xuống…

Căn nhà nhỏ xanh lá của nhà thơ Văn Công cũng gần biển, đêm đêm ông vẫn nghe rì rào sóng vỗ khi tôi đến thăm ông lúc còn khỏe và ông cũng đã từng nói. Mái tóc bạc, da thẫm đồi mồi, mắt long lanh sáng cùng giọng trầm trầm của xứ Nghệ khó lẫn vào đâu được. Điều đặc biệt ở ông là rất yêu mến những người viết trẻ nhất là các hội viên của Hội Văn học nghệ thuật tỉnh, thứ đến dù già lão vì ông sinh năm 1928 cũng vẫn đọc đều các báo, sáng tác đều đều trên trang giấy với dòng chữ ngay ngắn dễ đọc và tôi cũng thường sửa lại các trang bản thảo để Hội hỗ trợ in tác phẩm ký, tuyển tập thơ Văn Công…

Nhà thơ Văn Công tên thật là Cao Xuân Thiêm sinh năm 1928, trong một gia đình Nho học ở Diễn An, Diễn Châu, Nghệ An vốn có truyền thống văn học do đó ông cũng ảnh hưởng không ít tài xướng họa thơ ca của gia đình. Văn Công bắt đầu làm thơ năm 13 tuổi; bài Tựu trường ông làm lúc đó đến năm 1996, NXB Hội Nhà văn đã in lại. Nhà nghèo, năm 17 tuổi, ông bỏ học để đi làm kiếm sống ở Huế, Đà Nẵng và có dịp được trao đổi kiến thức về thơ văn (vì ông làm thư ký cho các ông chú họ nên có đủ cơm ăn, áo mặc và đọc sách thoải mái) cho đến khi cuộc kháng chiến toàn quốc nổ ra, ông lao vào công tác cách mạng. Từ đội viên Đội công tác vũ trang Tây Nguyên đến Phòng quốc dân thiểu số Phú Yên. Từ cuối 1946, ông làm cán bộ công tác miền núi Phú Yên đến năm 1954. Suốt chín năm kháng chiến chống Pháp ông là người gắn bó mật thiết với miền núi Phú Yên và được nuôi nấng, bảo vệ.

Cuộc đời ngắn lắm… Nhưng với nhà thơ Văn Công thì không vì ông cống hiến cả quãng đời của mình cho kháng chiến, quãng đời làm cách mạng và quãng đời của thơ ca một cách cần mẫn và trách nhiệm. Ông từng kể cho tôi, thời ấy trong những căn nhà bên triền đồi ven bờ Krông Ba và Sông Hinh, vốn là cái nôi xuất phát của các trường ca Đam Sam, Xing Nhã, Đăm Đon và các điệu Khan khiến tâm hồn thi sĩ của ông xúc động mà trở lại với việc sáng tác thơ và ca dao nổi tiếng ở miền núi (Khi ấy, nhà thơ Nguyên Hồ thì nổi tiếng đồng bằng Phú Yên). Những tờ báo Khu 5 lần lượt in thơ Văn Công: Chín năm kháng chiến trường kỳ/ Chín năm gian khổ dạn dày gió sương/ Ngược xuôi qua mọi nẻo đường/ Ba lô, dép lốp, núi rừng xông pha… (Hát tiếp bài ca, 8/1954)

Nhà thơ Văn Công từ một người miền xuôi ông đã dần hòa nhập với người miền núi và gắn bó vùng đất này cho đến sau năm 1954 thì được phân công ở lại miền Nam, xây dựng xã Thồ Lồ (miền Tây của Phú Yên) thành căn cứ địa của tỉnh khi địch tăng cường khủng bố, đàn áp thì ông thay tên, đổi họ bằng tiếng dân tộc, mặc khố hòa vào cùng bà con: Bảy năm quấn chiếc khố tời/ Bảy năm râu tóc mọc dài cải trang…Từ những bài thơ thương nhớ quê hương Nghệ An, những người vợ miền Nam gửi lòng theo chồng đi tập kết ở miền Bắc và cả những đồng bào các dân tộc giữa vòng vây kẻ thù: Sợ lọt tai Mỹ Diệm/ “Hát nho nhỏ thôi em”/ Em vẫn hát tự nhiên/ Hồ Chí Minh muôn tuổi – 1954. Lúc này, nhiều bạn đọc miền Bắc đã tìm đọc thơ ông và thơ Thanh Hải. Tác phẩm của ông đã từng được giải thưởng báo Thống Nhất, giải thưởng Nguyễn Đình Chiểu của Hội Văn nghệ Giải phóng miền Nam và các Tuyển tập thơ lớn của VN. Văn Công đã có vị trí xứng đáng trong làng thơ miền Nam kháng chiến với những bài thơ giàu tình cảm và sục sôi chiến đấu. Rất tiếc là ông rất ít thời gian cho riêng mình vì công việc của Đảng trong thời gian này cho đến năm 1965, tập thơ Bất khuất được Ban Tuyên huấn Phú Yên ra mắt và sau này, năm 1978 Hội Văn nghệ Phú Khánh xuất bản tập Mảnh đất yêu thương tập hợp các bài ông viết từ 1954 đến 1975.

Sau ngày giải phóng miền Nam, nhà thơ Văn Công vẫn bị công việc đeo đẳng. Ông từng qua nhiều công tác chính trị như: Bí thư huyện ủy Tây Sơn (bây giờ là huyện Sơn Hòa); Quyền Chủ tịch rồi Phó Chủ tịch Phú Khánh. Mãi đến năm 1989 khi tái lập tỉnh Phú Yên, ông từ chối mọi công việc được mời cả về chính trị lẫn văn học nghệ thuật và lúc này ông hối hả viết như để bù lại những năm tháng làm việc cách mạng và như đuổi theo quỹ thời gian đã mất, chạy đua với tuổi già đang đến. Những tập sách cho ra mắt, những tập thơ in chung đều đặn xuất hiện. Ngoài thơ ông còn viết ký, các công trình nghiên cứu về bản sắc đồng bào dân tộc nơi ông từng sống, từng hoạt động và trở thành đề tài quý giá cho người viết trẻ, các nhà nghiên cứu sưu tầm, các nhà sử học.

Bây giờ, mọi người đã gọi ông bằng cái tên đầy quý trọng cho dù nhiều lần ông lắc đầu từ chối: Nhà thơ Văn Công, nhà thơ Việt Nam cao tuổi nhất ở Phú Yên và người đã xem Phú Yên là quê hương thứ hai của mình với các tác phẩm ồ ạt ra mắt để được bạn đọc tiếp nhận đầy trân trọng: Khúc hát miền quê (Thơ 1985); Miền đất huyền thoại (Ký 1990); Vùng đất lửa (Ký 1992); Trước chiều gió (Thơ 1996); Hương đêm (Thơ 1996) và các tập sách về lịch sử và khảo cứu: Hậu cần nhân dân (1997); Người Ba Na ở Phú Yên (1998) và cả Hồi ký: Ký ức về một miền đất(2001), Một chặng đường thơ (2007); Tuyển tập Thơ- Văn của Văn Công… UBND tỉnh đã tặng nhiều giải thưởng cao quý của Văn học nghệ thuật cho ông vì đây không riêng gì sự tự hào của nhà thơ mà là của tỉnh, của Hội Văn học nghệ thuật cùng nhiều văn nghệ sĩ mến mộ, trân trọng.

Nhà thơ Văn Công từng nói với mọi người, nhất là văn nghệ sĩ tỉnh nhà: Thơ là người bạn chí cốt của mình giúp mình vượt qua thử thách, gian nan, là nhật ký cảm xúc cuộc đời. Tuy viết cho riêng mình nhưng vẫn là nguồn mạch đến với đời, với những người đã từng sống, từng hoạt động,  cùng chia sẻ mọi gian nan thử thách, chia sẻ với bạn bè nhiều nơi, nhất là các vùng đất mang nhiều kỷ niệm trong cuộc đời…

Nhà thơ Thanh Quế, gốc người Tuy An, Phú Yên luôn cảm phục nhà thơ Văn Công nên mỗi lần về thăm nhà là nhà văn đều ghé thăm và cũng từng nhận xét: Nhà thơ Văn Công là một con người luôn khiêm tốn, biết mình biết ta, tự lượng sức mình để làm việc, và đánh giá người khấc là đặc điểm của ông trong công tác chính trị cũng như trong sáng tác văn học.

Nhà thơ Hữu Thỉnh, nguyên Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam trước thềm Đại hội đại biểu Hội Nhà văn lần VII đã gửi giấy mời cho nhà thơ Văn Công xem như đại biểu chính thức được mời của Ban Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam và yêu cầu tôi chăm sóc trong chuyến đi vì sẽ khó có dịp ông về dự nữa (Quả thật, những Đại hội sau này, nhà thơ Văn Công đều từ chối). Nhà thơ Hữu Thỉnh từng bày tỏ: Nhà thơ Văn Công đã cống hiến không nhỏ cho nền văn học cách mạng trong hai thời kỳ kháng chiến chống Pháp và Mỹ, là nhà văn cao tuổi thuộc thế hệ nhà văn lớp cha anh vừa cầm súng vừa cầm bút và vừa là chiến sĩ chống giặc ngoại xâm. Sau ngày đất nước ngừng tiếng súng thì ông vẫn miệt mài trên trang bản thảo để ghi lại những ân tình sâu nặng trên đất Phú Yên…

Tôi vẫn nhớ căn nhà nhỏ đường Trường Chinh, phố Tuy Hòa xanh bóng cây, lung linh sắc nắng mỗi khi tôi đến thăm ông lúc ông minh mẫn với ánh mắt đăm chiêu, buồn buồn: Năm nay sức khỏe kém quá cậu à, mà cũng đâu còn trai trẻ nữa… Ánh mắt toát lên những nỗi niềm, nỗi thương nhớ quê nhà vùng chiêm trũng Diễn Châu mà ông thường kể nay không có dịp về, thương nhớ vùng miền tây Phú Yên một thời kháng chiến ai còn, ai mất và những người bạn viết khi ông về phố biển Tuy Hòa.

Tử biệt sinh ly là đều không tránh khỏi, bóng dáng nhà thơ cặm cụi bên trang bản thảo với những vần thơ trong sáng nơi góc phòng tĩnh lặng đã khép kín, rèm buông. Chim đã kêu về núi, nắng đã ngủ trên ngàn lá xanh, sóng dần xô nhẹ vỗ yên bờ cát… Không gì hơn, lúc này tôi cầu mong sự thanh thản từ ông, từ con tim thấm đẫm tình người lẫn trách nhiệm kia nhẹ sớm siêu thoát về cõi vĩnh hằng!

Theo Huỳnh Thạch Thảo/Báo Văn nghệ