PHẠM TỰ
(Vanchuongphuongnam.vn) – Qua việc vận dụng tài tình thể thơ lục bát truyền thống cùng nghệ thuật nhân hóa sâu sắc, tác phẩm đã phát đi một thông điệp nhân văn lay động: giữa vạn nẻo đời chênh vênh và biến động, vòng tay mẹ và lời rạ rơm quê nhà chính là bến đỗ bình yên nhất, là điểm tựa tinh thần vững chãi nhất để mỗi con người tái tạo năng lượng, neo giữ nhân cách và tiếp tục vững vàng bước đi trên hành trình nhân sinh dài rộng…

Ảnh minh họa. Nguồn internet
BÊN MẸ MỘT CHIỀU
(Một chiều về với mẹ)
Nén thầm những nhớ, những mong
Thẩn thơ bóng mẹ lặng trong ráng chiều
Cây rơm mõm ruột oằn xiêu
Vạt sân nhắc nhỏm bao điều lặng im
Phố xa bươn bải đãi tìm
Con ngờ đâu lá bìm bìm vẫn xanh
Sả, hồi, hương bưởi, hương chanh
Tìm đâu trong gió thị thành, mẹ ơi?
Chênh vênh trước vạn nẻo đời
Con về tìm lại những lời rạ rơm
Dụi đầu ngực mẹ nồng thơm
Nghe lòng dịu bớt nguồn cơn vơi đầy…
Bồng bềnh cánh võng thơ ngây
Ngân nga lời mẹ tháng ngày con vin.
(Diệu Thoa)
Trong dòng chảy bảng lảng và dạt dào của thi ca viết về tình mẫu tử, mỗi tác phẩm như một nốt lặng kết tinh từ trải nghiệm, từ những vết xước trên đường đời và lòng biết ơn vô hạn của đứa con đối với đấng sinh thành. Bài thơ “Bên Mẹ Một Chiều” (với phân đề gợi cảm – Một chiều về với mẹ) của cô giáo – nhà thơ Diệu Thoa chính là một nốt lặng đầy thổn thức như thế, một tiếng lòng trung thực, chạm vào phần mềm mại và thiêng liêng nhất trong tâm cảm muôn người. Với tư duy của một người làm nghệ thuật tinh tế, tác giả đã không chọn những đại ngôn hay các hình ảnh ước lệ kỳ vĩ để ngợi ca mẹ, mà ngược lại, dìm mình vào dòng chảy hoài niệm mộc mạc, dùng chính chất liệu rơm rạ quê hương để dệt nên một bài thơ thấm đẫm triết lý nhân sinh.
Sức hấp dẫn đầu tiên của tác phẩm nằm ở sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa thể thơ lục bát truyền thống và nghệ thuật nhân hóa tài tình, tạo nên một không gian nghệ thuật vừa thực vừa thiêng, nơi thời gian và tâm trạng đồng hiện qua bóng dáng hao gầy của người mẹ hiền.
Ngay từ những nét vẽ đầu tiên, tác giả đã mở ra một thế giới nội tâm trĩu nặng của cả mẹ và con qua không gian buổi hoàng hôn: “Nén thầm những nhớ, những mong / Thẫn thờ bóng mẹ lặng trong ráng chiều”. Cặp câu lục bát mở đầu bằng hai chữ “nén thầm” đầy sức gợi, diễn tả một trạng thái kìm nén, một khối sầu thương nhớ được giấu kín sau dòng chảy hối hả của cuộc sống mưu sinh. Nhịp điệu lục bát 2/2/2 và 4/4 êm dịu, trầm lắng như nhịp đập của một trái tim đang thổn thức, đưa người đọc chìm vào cái không gian bảng lảng của “ráng chiều”. Giữa nền hoàng hôn buông xuống, bóng mẹ hiện lên không chỉ là một hình thể vật lý hao gầy, mà là sự ngưng đọng của thời gian, một điểm tựa tĩnh lặng duy nhất giữa vũ trụ bao la.
Sự tinh tế của ngòi bút Diệu Thoa càng được khẳng định khi tác giả sử dụng biện pháp nhân hóa vô cùng đặc sắc ở cặp câu tiếp theo: “Cây rơm mõm ruột oằn xiêu / Vạt sân nhắc nhỏm bao điều lặng im”. Hình ảnh “cây rơm mõm ruột” oằn mình trước thời gian và “vạt sân nhắc nhỏm” là những sáng tạo nghệ thuật đầy ám ảnh. Cái hay của phép nhân hóa ở đây là tác giả đã thổi hồn vào những vật vô tri vô giác, biến chúng thành những thực thể biết đau, biết đợi, biết sẻ chia. Cây rơm không chỉ “oằn xiêu” vì sức nặng của mưa nắng, mà dường như nó đang trĩu xuống bởi gánh nặng tuổi tác của mẹ, bởi nỗi ngóng trông đứa con nơi phương xa đến héo mòn cả ruột gan. Đặc biệt, trạng từ “nhắc nhỏm” vốn dùng cho con người nay lại đặt vào “vạt sân”, gợi tả một tư thế đứng ngồi không yên, một sự thấp thỏm, ngóng chờ khôn nguôi. Cái “lặng im” của vạt sân quê lại chính là thứ âm thanh dội lòng nhất, một thứ im lặng mênh mông chứa đựng bao lời nhắn nhủ, thức tỉnh đứa con về những giá trị nguyên sơ mà mình đã bỏ quên.
Để rồi, từ không gian làng quê đầy hoài niệm ấy, mạch thơ chuyển dịch sang sự đối lập gay gắt giữa hai khoảng không gian – thời gian: phố thị và quê nhà, hiện tại và quá khứ. Người con tự bộc bạch hành trình gian truân, bươn chải của chính mình: “Phố xa bươn bải đãi tìm / Con ngờ đâu lá bìm bìm vẫn xanh / Sả, hồi, hương bưởi, hương chanh / Tìm đâu trong gió thị thành, mẹ ơi?”. Từ láy “bươn bải” kết hợp với động từ “đãi tìm” lột tả trọn vẹn cuộc mưu sinh nhọc nhằn, đầy bon chen, nghiệt ngã nơi phồn hoa đô hội, nơi con người ta phải đánh đổi cả mồ hôi và nước mắt để chắt chiu từng giá trị vật chất.
Thế nhưng, giữa cái cuồng quay ấy, đứa con chợt thảng thốt nhận ra “lá bìm bìm vẫn xanh” – một loài cây hoang dại, bình dị nhưng sở hữu sắc xanh kiên cường, chung thủy, như tình mẹ và hồn quê vẫn vẹn nguyên chờ đợi con trở về. Câu hỏi tu từ vang lên như một tiếng nấc nghẹn: “Tìm đâu trong gió thị thành, mẹ ơi?”. Sự liệt kê một chuỗi những hương vị đồng nội “sả, hồi, hương bưởi, hương chanh” không chỉ kích thích khứu giác mà thực chất là sự gọi tên của ký ức, của văn hóa cuội nguồn. Giữa cái ngột ngạt, vô vị và hanh hao của “gió thị thành”, tiếng gọi “mẹ ơi” cất lên vừa hụt hẫng, vừa bất lực, nhưng cũng chính là lúc con người ta nhận ra sự giàu có của tâm hồn nằm ở phía quê nhà, chứ không phải ở chốn phồn hoa.
Sự va đập mạnh mẽ giữa thực tế nghiệt ngã và khát vọng bình yên đã đẩy nhân vật trữ tình đến một quyết định mang tính cứu rỗi, một cuộc hành hương về với bản ngã: “Chênh vênh trước vạn nẻo đời / Con về tìm lại những lời rạ rơm / Dụi đầu ngực mẹ nồng thơm / Nghe lòng dịu bớt nguồn cơn vơi đầy…”. Từ “chênh vênh” đặt ở đầu câu thơ diễn tả chính xác trạng thái mất phương hướng, chao đảo và mệt mỏi của con người hiện đại trước những áp lực vô hình. Và thật kỳ diệu, nơi hàn gắn những rạn vỡ, tổn thương ấy lại là “những lời rạ rơm” – những điều mộc mạc, có phần rẻ rúng với người đời nhưng lại là báu vật nâng đỡ tâm hồn con. Hành động “dụi đầu ngực mẹ” mang vẻ đẹp của một nghi thức tâm linh thiêng liêng. Đứa con dù có lớn khôn, có là ai, có giữ vị trí gì ngoài xã hội thì khi trở về bên mẹ lại hoàn nguyên thành đứa trẻ thơ dại, khát khao hơi ấm và sự bao bọc tuyệt đối. Cảm giác “nồng thơm” từ ngực mẹ là sự hòa quyện giữa mùi ca dao, mùi bùn đất, mùi mồ hôi hòa cùng tình yêu thương vô điều kiện. Chính hơi ấm ấy có khả năng kỳ diệu là xoa dịu mọi “nguồn cơn” giông bão, gột rửa những bụi bặm đường đời để lòng con được an yên, thanh thản.
Bài thơ khép lại trong một dư âm ngân vang, ngọt ngào và kết tinh thành một triết lý sống sâu sắc: “Bồng bềnh cánh võng thơ ngây / Ngân nga lời mẹ tháng ngày con vin”. Hình ảnh “cánh võng bồng bềnh” và tiếng “ngân nga” của lời ru đưa con người trở về trọn vẹn với những năm tháng tuổi thơ êm đềm. Đặc biệt, từ “vin” được xem là một nhãn tự, một nốt nhấn xuất sắc của toàn bài. Con không chỉ vin vào tay mẹ, vin vào vành võng để tập đi trong quá khứ, mà ở hiện tại và tương lai, con đang “vin” vào lời mẹ, vin vào những giá trị đạo đức, vào cái nôi văn hóa quê hương để đứng vững trước những cạm bẫy, sóng gió của cuộc đời.Thể thơ lục bát ở hai câu cuối này đạt đến độ chín muồi của cảm xúc, uyển chuyển như một dòng sữa mát lành tưới mát tâm hồn người đọc.
Tóm lại, bằng ngôn ngữ thơ giàu nhạc điệu, hình ảnh chắt lọc từ đời sống và một giọng điệu tâm tình sâu lắng, “Bên Mẹ Một Chiều” của nhà thơ Diệu Thoa đã vượt lên trên khuôn khổ của một tiếng lòng cá nhân để chạm đến sợi dây tâm cảm chung của muôn triệu người con xa xứ.
Qua việc vận dụng tài tình thể thơ lục bát truyền thống cùng nghệ thuật nhân hóa sâu sắc, tác phẩm đã phát đi một thông điệp nhân văn lay động: giữa vạn nẻo đời chênh vênh và biến động, vòng tay mẹ và lời rạ rơm quê nhà chính là bến đỗ bình yên nhất, là điểm tựa tinh thần vững chãi nhất để mỗi con người tái tạo năng lượng, neo giữ nhân cách và tiếp tục vững vàng bước đi trên hành trình nhân sinh dài rộng./.
( Nhân đọc bài thơ “Bên Mẹ Một Chiều” của Diệu Thoa trong tập thơ “Gió Từ Chân Sóng”, Nhà xb Hội Nhà văn, 2015)
P.T










