Hiện tượng Phạm Công Thiện

120

Nguyễn Tấn Thành

(Vanchuongphuongnam.vn) – Từ những năm đầu của thập niên 1960, ở các đô thị miền Nam trước 1975 có nhiều hiện tượng xã hội: – Xuống đường biểu tình xuất phát từ trường học, – ‘Yêu cuồng sống vội’, ảnh hưởng từ những tác phẩm hiện sinh (Existentialisme) của những nhà văn Pháp: J. Paul Sartre (Nausée – Buồn nôn), Simoine De Beauvoir (L’Invitée – Vị khách mời), Albert Camus (L’Étranger – Kẻ xa lạ)… – Và hiện tượng văn học khu biệt trong văn nghệ như: Nguyễn Đức Sơn (sinh 1937), Bùi Giáng (1921-1998), Phạm Công Thiện (1941-2011), cả ba đều là nhà thơ. Với Phạm Công Thiện, ông còn là giáo sư, nhà văn viết sách văn học, triết lý và cư sĩ Phật giáo… nên ông được coi là một hiện tượng đặc biệt.

Chân dung Phạm Công Thiện

Trong môi trường văn chương miền Nam thời tạm chiếm, từ năm 1954, có một số nhà thơ nổi tiếng sinh ra trước sau thập niên 1940: Thanh Tâm Tuyền (1936-2006), Du Tử Lê (1942-2019), Tô Thùy Yên (1938-2019)… và Phạm Công Thiện. Tiêu biểu cho thế hệ đàn anh trước đó thì: Vũ Anh Khanh (1926-1956), Kiên Giang (1929-2014), Đinh Hùng (1920 – 1967), Vũ Hoàng Chương (1916-1976). Trong số đó, Phạm Công Thiện  được coi là một hiện tượng thi ca khá đặc biệt.

Phạm Công Thiện (1941-2011) là tên thật, bút danh ký Hoàng Thu Uyên. Anh còn là một cư sĩ Phật giáo với pháp danh là Nguyên Tánh. Xuất thân trong một gia đình Công giáo, từ tuổi thiếu niên, Phạm Công Thiện đã nổi tiếng là thần đồng về ngôn ngữ. Năm 15 tuổi, Thiện đã đọc và viết thông thạo 5 ngoại ngữ: Anh, Pháp, Nhật, Hoa và Tây Ban Nha, ngoài ra còn biết thêm tiếng La Tinh và tiếng Sanskrit và Pali (tiếng Phạn), một ngôn ngữ cổ Ấn Độ dùng trong kinh Vệ Đà của Phật giáo. Năm 16 tuổi (1957), Phạm Công Thiện đã xuất bản cuốn Anh ngữ tinh âm – giống như trường hợp nhà thơ tượng trưng Pháp Arthur Rimbaud (1854-1891) cũng có thơ xuất bản năm 16 tuổi: ‘Con tàu say’ (Le Bateau ivre), vài năm sau, Phạm Công Thiện đã cộng tác với các tạp chí: Bông Lúa, Bách Khoa, Phổ Thông, Văn, Giữ Thơm Quê Mẹ và bắt đầu xuất bản tiểu luận Ý thức mới trong Văn nghệ và Triết học (1960) khi chưa tới 19 tuổi. Trong thực tế, làm thơ hay viết văn xuôi thì ai cũng có thể làm nếu biết đọc, biết viết cộng với niềm đam mê và chút năng khiếu. Chưa nói đến quan điểm của tác giả trẻ Phạm Công Thiện lúc đó, ai cũng biết, để viết một quyển tiểu luận có tính cách phê bình văn nghệ và triết học kiểu như quyển Ý thức mới trong Văn nghệ và Triết học, ắt không phải là một việc dễ dàng nếu không thực giỏi ngoại ngữ và đọc, hiểu được sách tiếng Việt lẫn một số tiếng nước ngoài. Thời gian này, người ta không được nghe nói Phạm Công Thiện đã học ở trường nào, tốt nghiệp khoa nào ở Đại học trong và ngoài nước. Lúc đó, tôi cũng đã bắt đầu đi dạy học, và lên lấy bài học tại Đại học Văn khoa Sài Gòn, cộng tác với báo và giao lưu với một số nhà giáo, văn nghệ sĩ nơi đây. Tôi dạy Việt văn lại mê sách, ham đọc loại đúng ngành nên quyển nào của Phạm Công Thiện tôi cũng mua, nhưng thực sự tôi không cũng nắm rõ phần thông tin này về Phạm Công Thiện. Như vậy, có lẽ ông Phạm Công Thiện đã nhờ thông minh, tự học rồi đăng ký xin thi tự do nên ít ai biết.

Năm 1963, sau một cuộc khủng hoảng tinh thần, Phạm Công Thiện ra Nha Trang để tịnh dưỡng và quen với nhà thơ Quách Tấn (1910-1992). Thiện được tác giả Mùa cổ điển đưa đi viếng chùa Hải Đức. Nơi đây, Phạm Công Thiện giác ngộ Phật đạo rồi tập thiền và quy y thọ giới Sa Di, pháp danh Nguyên Tánh với thượng tọa Thích Trí Thủ, một vị cao tăng Phật Giáo lúc bấy giờ.

Một năm sau hết bệnh (1964), Phạm Công Thiện về lại Sài Gòn và đi du học tại Hoa Kỳ. Xong chương trình Cử nhân (B. A: Bachelor of Art), Phạm Công Thiện chuyển sang học ở Columbia, nơi thượng tọa Thích Nhất Hạnh từng theo học. Nhưng chưa bao lâu thì anh chê giáo sư ngu xuẩn rồi bỏ học, ra đời, đi lang thang khắp thế giới chẳng khác nào ông hoàng thơ tình Pháp Apollinaire (1880-1918). Phạm Công Thiện từng sang Israel, Đức rồi nghĩ: “Better a beggar in Paris than a millionaire in New York” (làm một người ăn mày ở Paris còn tốt hơn một triệu phú ở New York), sau đó, anh sang Pháp ghi danh học ở Rennes, Bretagne, ở với người anh đã sang Pháp trước đó. Nhưng rồi không thuận với anh, Phạm Công Thiện lên Paris, gặp thầy Nhất Hạnh và Võ Văn Ái đang làm Tổng thơ ký cho Hội Phật tử Việt Kiều Hải ngoại do thầy Nhất Hạnh sáng lập. Phạm Công Thiện thân thiết ở chung với Võ Văn Ái. Năm 1966, khi Hòa thượng Thích Minh Châu đến Paris tìm người trợ giúp Viện Đại học Vạn Hạnh thì gặp Phạm Công Thiện. Hòa thượng Thích Minh Châu thuyết phục anh về Việt Nam công tác giáo dục tại Viện Đại học Vạn Hạnh do hòa thượng làm viện trưởng. Về làm việc tại Sài Gòn, Phạm Công Thiện bắt đầu nắm phần soạn thảo chương trình giảng dạy cho tất cả các Phân khoa của Viện Đại học Vạn Hạnh (1966-1968) của Thượng tọa Thích Minh Châu (1918-2012). Từ 1968-1970, Phạm Công Thiện đảm nhiệm chức vụ Phân khoa trưởng của Phân khoa Văn học và Khoa học Nhân văn của Viện Đại học Vạn Hạnh. Nơi đây, anh cũng là sáng lập viên và chủ trương biên tập của tạp chí Tư Tưởng.

Tác phẩm của Phạm Công Thiện

Năm 1970, chị Lê Khắc Thanh  Hoài (sinh 1950 tại Huế), một sinh viên trẻ đẹp của Viện Đại học Vạn Hạnh và cũng là sinh viên của thầy Phạm Công Thiện trước đây, lên đường đi du học tại Bruxelles (thủ đô nước Bỉ). Chị Thanh Hoài là con gái yêu của BS. Lê Khắc Quyến, nguyên Giám đốc Bệnh viện Trung ương Huế, một bác sĩ nổi tiếng lẫy lừng trong các phong trào Hòa bình (1954-1955), phong trào Phật Giáo (1963-1964)… chống chế độ Ngô Đình Diệm từng bị ngồi tù. Chính chị Lê Khắc Thanh Hoài đã từng say đọc sách và mê cả tác giả sách là thầy Phạm Công Thiện với phong cách giảng bài hút hồn sinh viên mình đứng lớp.

Cũng năm này, sau 4 năm làm công tác giáo dục ở Sài Gòn, nhân chuyến đi dự một hội nghị Phật giáo tại Paris cùng hòa thượng Thích Minh Châu, Phạm Công Thiện xin ở lại Pháp ghi tên làm luận án Tiến sĩ. Tại kinh đô ánh sáng, gặp lại Phạm Công Thiện tại nhà họa sĩ Vĩnh Ấn, chị Thanh Hoài quyết định bỏ học tại Bruxelles ở lại Pháp chung sống cùng Phạm Công Thiện. Cặp đôi thầy-trò hội ngộ lại trong tình nghĩa vợ chồng tại kinh đô ánh sáng thật thơ mộng lý tưởng, hứa hẹn nhiều hạnh phúc dù hiện tại cuộc sống họ không tránh khỏi vất vả khó khăn nơi đất lạ quê người. Cuộc sống phiêu lưu vô cùng gian nan với học bổng của Thiện trong 4 năm không khác gì những năm đói khổ cùng cực của những du học sinh Nguyên và Thu trong tác phẩm Mây ngàn của nhà văn Vita. Sau đó, Phạm Công Thiện xin được một việc làm văn phòng tại Đại học Toulouse, Pháp. Nhân có một chân phụ giảng trống, anh làm đơn xin việc. Phạm Công Thiện được giáo sư hướng dẫn giới thiệu rất trang trọng: ‘Sinh viên Ưu tú Xuất sắc hạng Nhất, bốn năm Cao học đã hoàn tất’ (1). Điều này chứng tỏ Phạm Công Thiện đã hoàn tất Văn bằng Tốt nghiệp École des Hautes Études (tương đương với Master-Thạc sĩ) tại Đại học Sorbonne, và học xong một năm D. E. A (2). Phạm Công Thiện làm việc này với giao kèo gia hạn mỗi năm, chức vụ cuối cùng là Giảng sư (Maître de Conférence) tại Đại học Toulouse II… Sống với Phạm Công Thiện, Chị Thanh Hoài sinh được 5 con (4 trai, 1 gái -tất cả về sau đều thành đạt vẻ vang nơi hải ngoại). Chị Thanh Hoài làm thêm việc ráp linh kiện cho hãng máy bay Airbus để kiếm thêm chút phụ thu cho gia đình. Công việc tạm ổn, bỗng nhiên Phạm Công Thiện rơi vào cảnh nghiện rượu, sống với cuộc sống đầy bè bạn mà quên mất gia đình, cả lúc vợ con đau ốm huống chi là chuyện xã hội. Về sau, chị Thanh Hoài ngậm ngùi nhắc lại: “Và ngôi biệt thự xinh xắn đó, nơi mà đáng lý ra chỉ có hương hoa và sắc màu của một vị ngọt là hạnh phúc, thì trớ trêu thay, nơi đây suốt bảy năm trời chỉ mang một vị đắng. Vị đắng của khổ đau. Vị chua chát của rượu… Chàng đã thỏa hiệp với con ma rượu…”. Vì lẽ, giáo sư Phạm Công Thiện không còn thấy gì hứng thú cứ phải lải nhải triết lý để kiếm tiền nuôi vợ con. Anh chỉ là chiếc bóng sau bầy con. Nàng thì cứ xoay vòng với bầy con năm đứa. Chàng thì cố gắng làm tròn công việc dạy học, cho dù nỗi chán chường mỗi ngày một chồng chất. Nhưng bọn sinh viên cứ ào ào tới ngày càng đông, giới trí thức trong tỉnh lần lần nghe tiếng và bạn bè lũ lượt kéo đến ngày càng nhiều hơn. Khói thuốc vẫn mịt mù lan tỏa. Mùi rượu vẫn nồng nặc xông lên…

Và một hôm, nàng cũng quyết định rằng nàng phải sống, phải đứng dậy và đi tiếp. Nhưng trên đoạn đường đi tiếp của nàng chắc chắn sẽ không có chàng. Không vì hờn giận hay oán trách mà chỉ vì không còn giải pháp nào hơn. Thanh Hoài quyết định chia tay cùng anh, thu xếp mọi việc cùng 5 con ra đi. Phạm Công Thiện sau đó cũng mất việc ở Đại học vì khế ước không được gia hạn và ghế giảng sư cũng không còn. Anh được hòa thượng Mãn Giác mời sang dạy tại Viện Quốc Phật giáo (College of Buddhist Studies), tại Los Angeles. Thiện trở về cư ngụ tại chùa, tại nhà bạn bè và qua đời năm 2011 tại Houston, Hoa Kỳ, các con đủ mặt từ Pháp đều sang dự đám tang cha.

Hình ảnh và bút tích của Phạm Công Thiện

Nhìn lại sự nghiệp văn học của Phạm Công Thiện, ta thấy ông là một ngòi bút sung sức, viết khỏe theo nhiều thể loại chủ yếu là tiểu luận, thơ, tùy bút. Sáng tác của Phạm Công Thiện đòi hỏi tác giả phải sở hữu được một kiến thức phong phú về triết học, tôn giáo, văn học thế giới và một trình độ thực sự vững vàng về ngoại ngữ – tôi không đề cập đến văn bằng!), cần thêm một sức sáng tạo mãnh liệt, một tâm hồn nhạy bén, có khả năng cảm thụ tinh tế về văn học nghệ thuật.

Với ngôn ngữ diễn đạt trong sáng, mượt mà, nhiều bài thơ tự do của Phạm Công Thiện có tư tưởng mới lạ, táo bạo đến mức được coi là bí hiểm, không dễ hiểu: Viết là đâm nổ mặt trời (Trời tháng Tư); Tôi hiếp dâm mặt trời, sinh ra mặt trăng (Mặt trời không bao giờ có thực). Tuy nhiên, với bản tính mộc mạc, hiền lành của người Nam bộ, nhà thơ Phạm Công Thiện cũng có những bài thơ hay, những câu thơ đẹp: Mưa chiều thư bảy tôi về muộn/ Cây khế nhà ai trổ hết bông.

*

 Trong một thời chiến tranh máu lửa tóc tang nhất của đất nước (1954-1975), người Việt Nam chân chính có thể không hài lòng với mình nếu ở vị trí của Phạm Công Thiện. Tác giả Ý thức mới trong Văn nghệ và Triết học không biết đã nghĩ thế nào lại chui vào cái vòng kim cô của vũ trụ kiến thức mênh mông, rời xa hiện thực đau lòng của dân tộc để nói về triết lý, về văn nghệ của mình trước khi rời tổ quốc sống lang thang đó đây nơi hải ngoại. Là một trí thức, một cư sĩ, Phạm Công Thiện cũng chưa nghĩ đến lý tưởng, giá trị của một đời người là làm gì có lợi ích thực sự cho quê hương: “Giá trị của một con người không đo bằng địa vị hay văn bằng mà bằng sự có ích của người đó  với đồng bào xã hội ngoài công việc mà người đó làm để mưu sinh (Nguyễn Hiến Lê). Đúng ra, trong hoàn cảnh đất nước chìm ngập trong khói lửa, xác người lúc bấy giờ, mọi người nên hành động thiết thực thế nào để đồng bào thoát khỏi cảnh đau thương chết chóc trong một cuộc chiến tranh có thể coi là phi nhân tàn bạo nhất trong lịch sử loài người.

Hôm nay đất nước đã thanh bình, thịnh vượng và Phạm Công Thiện cũng không còn hiện diện dưới ánh mặt trời (3). Sư nghiệp, hoạt động của Phạm Công Thiện phải chăng đã thể hiện dấu ấn đặc biệt của một hiện tượng trí thức bùng vỡ, hay ‘một tâm hồn nổi loạn’ ảnh hưởng từ Albert Camus (Je me révolte, dons nous sommes – Tôi nổi loạn, vậy chúng ta cùng sống) trong một thời chiến tranh đau khổ ở phía Nam đất nước. Trên cơ sở dư luận một thời đã từng coi Phạm Công Thiện như một thiên tài đa diện: nhà thơ, nhà văn, triết gia, cư sĩ Phật giáo, học giả, giáo sư đại học… ta thử khách quan tìm hiểu bình tĩnh nhìn lại chân dung đích thực của Phạm Công Thiện để có thể ngưỡng mộ, trân trọng đánh giá đúng mức ông là một thiên tài hay một huyền thoại văn chương trong không gian văn hóa nước nhà.

  03. 2019 

N.T.T

(1) Tiểu thuyết ’Chuyện một người đàn bà… năm con’, (tr. 252) của Lê Khắc Thanh Hoài, tức là vợ của Phạm Công Thiện.                                                                                                 (2) Diplôme d’Études Approfondies: theo tổ chức Đại học Pháp lúc đó, ngày nay đã đổi thành: Master I, Master II và bỏ văn bằng Tiến sĩ Đệ Tam cấp và Tiến sĩ Quốc Gia, chỉ còn lại một văn bằng Tiến sĩ duy nhất.                                                                                                   (3) Tư tưởng phương Tây: Không có gì mới dưới ánh mặt trời (Rien de nouveau sous le soleil).

* Tác phẩm của Phạm Công Thiện:

    Thơ, Văn và Tiểu luận:  

  1). Tiểu luận về Bồ Đề Đat Ma, tổ sư Thiền Tông (Tân Ý Thức, Nha Trang, 1964)

2). Ý thức mới trong Văn nghệ và Triết học (Tiểu luận) – An Tiêm, Sài Gòn, 1965;  in lần 4, 1970)

3). Trời tháng Tư (Tùy bút)- An Tiêm, Sài Gòn, 1966.

4). Ngày sanh của rắn (tập thơ) Hoa nắng, Paris, 196? – An Tiêm, Sài Gòn, 1966 – Trần Thi in lại lần mới nhất, California, 1988.

5). Im lặng hố thẳm – An Tiêm, Sài Gòn, 1967 và 1969; Phạm Hoàng, 1969.

6). Hố thẳm của tư tưởng – An Tiêm, Sài Gòn, 1967; Phạm Hoàng in lần thú 3, 1970.

7). Mặt trời không bao giờ có thực – An Tiêm, Sài Gòn, 1967; Phạm Hoàng in lần thú 2, 1969

8). Chỉ còn tiếng thơ trên mặt đấtTrở về Rainer Maris Rilke 1969

9). Henry Miller – Phạm Hoàng, 1969

10). Bay đi những cơn mưa phùn – 1969

11). Ý thức bùng vỡ (Đồng Nai, Sài Gòn, 1970                                                                  12). Đi cho hết một đêm hoang vu trên mặt đất (1988)                                                   13). Sự chuyển đông toàn diện trong tư tưởng Phật giáo (1994)

14). Triết lý iệt Nam về sự vượt biên (1995)

15). Nguyễn Du, đại thi hào dân tộc (Viện Triêt lý Việt Nam và Triết học thế giới – California, 1996)                                                                                                            16). Khơi mạch nguồn thơ thi sĩ Seamus Heaney, Giải Nobel Văn chương 1995 (Viện Triêt lý Việt Nam và Triết học thế giới – California, 1996                                                                17). Làm thế nào để trở thành một bậc Bồ Tát sáng rự khắp bốn phương trời (1998)            18). Tinh túy trong sáng của đạo lý Phật giáo (1998)                                                        19). Trên tấtcả đỉnh cao là im lặng (tập thơ) – Trần Thi, California, 1988; Văn hóa Sài Gòn tái bản, TP.Hồ Chí Minh, 2009                                                                                          20). Một đêm siêu hình với Hàn Mặc Tử (2000)                                                                21). Khai ngôn cho một câu hỏi dễ hiểu: Triết học là gì? (2000)     21). Đối mặt với 1000 năm cô đơn của Nietzsche (2000)

Dịch thuật:

1). Tự do đầu tiên và cuối cùng –  An Tiêm, Sài Gòn, 1968, dịch của Jiddu Krishnamurti

2). Về thể tính của chân lý – Hoàng Đông Phương, Sài Gòn, 1968, dịch của Martin Heidegger

3). Triết lý là gì?-  An Tiêm, Sài Gòn, 1969, dịch của Martin Heidegger

4). Tôi là ai? Đây là người mà chúng ta mong đợi – Phạm Hoàng Sài Gòn, 1969, dịch của Friedrich Nietzsche                                                                                                        5). Rèn luyện tâm thuật huyền linh (1991), dịch của Nikos Kazantzakis

Tác phẩm khác:                                                                                                         1). Anh ngữ tinh âm tự điển – Hoàng Long, Mỹ Tho, 1957                                                 2). Dialogue – Lá Bối Sài Gòn, 1965), viết chung với Bùi Giáng, Tam Ích, Thích Nhất Hạnh và Hồ Hưu Tường bằng tiếng Anh và tiếng Pháp.