Trần Thế Tuyển: Tạc hình Đất nước từ máu và hoa

Trung tướng, PGS.TS Nguyễn Đức Hải*

(Vanchuongphuongnam.vn) – Trong dòng chảy của văn học cách mạng Việt Nam, hiếm có một tác giả nào mà cuộc đời và trang viết lại là một sự gắn kết tự nhiên, không thể tách rời như Đại tá, nhà văn, nhà thơ, nhà báo Trần Thế Tuyển. Năm 2026, khi Nhà xuất bản Hội Nhà văn ấn hành bộ đôi tác phẩm truyện ký “Đất đai Tổ quốc” và tuyển tập thơ “Mẹ ngồi bậu cửa”, giới văn nghệ sĩ và đông đảo công chúng không chỉ đón nhận những tư liệu quý giá về lịch sử mà còn được chứng kiến một hành trình tư tưởng sâu sắc. Đó là hành trình kết tinh những khốc liệt của chiến tranh thành những vần thơ, trang văn dạt dào khát vọng nhân văn và tinh thần trách nhiệm trước kỷ nguyên mới của dân tộc.

Đại tá, nhà văn, nhà thơ Trần Thế Tuyển.

Xuất thân từ vùng quê Hải Hậu, Nam Định, một miền quê có bề dày lịch sử và giàu truyền thống cách mạng, Trần Thế Tuyển bước vào cuộc chiến với lý tưởng rực cháy của một thế hệ “thà hy sinh tất cả chứ không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”. Nhưng khác với nhiều người lính khác, cuộc đời ông vừa cầm súng vừa cầm bút với tâm thế “mắt sáng, lòng trong, bút sắc” của người chiến sĩ cách mạng, người lính Bộ đội Cụ Hồ. Ông mang theo trong mình một vũ khí đặc biệt nhưng đầy quyền năng, đó chính là ngòi bút của một phóng viên chiến trường sắc bén.

Tập truyện ngắn – ký “Đất đai Tổ quốc”

Đề tài chiến tranh và cách mạng trong truyện ký “Đất đai Tổ quốc” mang một diện mạo đặc biệt, đó là cái nhìn trực diện của một người từng chiến đấu tại Tây Nguyên, mặt trận miền Đông Nam Bộ, băng qua bưng biền Đồng Tháp và thực hiện nghĩa vụ quốc tế cao cả giúp nhân dân Campuchia thoát khỏi họa diệt chủng. Văn phong của ông không sa vào mỹ từ ước lệ mà giàu tính thời sự, sắc lạnh sự thật nhưng nóng bỏng tình đồng chí. Với Trần Thế Tuyển, chiến tranh hiện hình qua từng tấc đất, nơi mỗi bước chân quân hành đều thấm đẫm máu xương đồng đội. Ông quan niệm đất đai Tổ quốc không chỉ là một danh từ địa lý khô khan, mà đất là xương, là thịt, là nhịp thở của những chàng trai tuổi đôi mươi đã nằm xuống để cánh đồng mãi xanh và dòng sông mãi chảy. Trong từng trang viết, ông luôn nâng niu và đề cao giá trị chủ nghĩa anh hùng cách mạng của bao thế hệ đã anh dũng hy sinh cho đất nước nở hoa thống nhất, cho Tổ quốc mãi mãi trường tồn. Tính nhân văn trong ký của ông chính là việc dám nhìn thẳng vào những hy sinh để tôn vinh giá trị của tự do, hòa bình. Những dòng ghi chép từ máu lửa chiến tranh mang tính thời sự nóng hổi của ông đã kịp thời xuất hiện trên các trang báo như một năng lượng mạnh mẽ thôi thúc cán bộ chiến sĩ vượt mọi khó khăn hiểm nguy để sẵn sàng xông lên chiến thắng quân thù. Những truyện ký ấy giống như những thước phim phản ánh sự cống hiến không chỉ của những người nơi mặt trận mà còn là sự hy sinh thầm lặng của bao bà mẹ, người vợ, người yêu – những người đã hẹn hò ước nguyện ngày chiến thắng trở về nhưng rồi chiến tranh đã cướp mất đi người thân và bao niềm hy vọng.

Tập trường ca – thơ “Mẹ ngồi bậu cửa”.

Nếu truyện ký là sự tái hiện khách quan bằng tư duy của một nhà báo kiên cường, thì tập thơ “Mẹ ngồi bậu cửa” lại là nơi nhà thơ Trần Thế Tuyển sống thật nhất với nỗi đau và khát vọng của mình. Đây là một nốt trầm đau đớn nhưng lộng lẫy, nơi đề tài cách mạng không chỉ là cờ hoa rực rỡ mà là sự hy sinh thầm lặng đến đứt từng khúc ruột của người mẹ Việt Nam. Hình tượng người mẹ trong thơ ông hiện lên với đôi má nhăn nheo, ráo hoảnh nước mắt khi lần lượt tiễn chồng con đi chiến đấu và không bao giờ trở về. Hình ảnh mẹ ngồi nơi bậu cửa – ranh giới giữa ánh sáng hy vọng và bóng tối chờ đợi – đã trở thành một biểu tượng nghệ thuật đầy ám ảnh, là nơi kết nối giữa đời sống hữu hình và những linh hồn đã hóa thân vào đất đai Tổ quốc. Trần Thế Tuyển đã đặt ra những câu hỏi đời người nhức nhối về sự mất mát, về những người em, người đồng đội còn nằm lại nơi chiến trường xa xôi mà chưa có lời giải đáp: “Con về rồi, còn em con đâu?”. Chỉ có người mẹ mới thấu cảm trọn vẹn nhất nỗi đau và giá trị của hòa bình, nơi hạnh phúc muôn nhà được dựng xây từ sự tận cùng của dâng hiến. Tiếng thơ của anh là bản hùng ca đầy tính chiến đấu nhưng vẫn dạt dào tình yêu quê hương, đôi lứa; vần thơ ấy như tiếng kèn xung trận thúc giục bao thế hệ nguyện cùng nhau dưới cờ Đảng, cờ Tổ quốc quang vinh, thề một lòng bảo vệ non sông bền vững dưới lá quân kỳ bách chiến bách thắng.

Trung tướng, PGS. TS Nguyễn Đức Hải và Đại tá, nhà văn Trần Thế Tuyển.

Không chỉ dừng lại ở hồi ức, Trần Thế Tuyển hôm nay vẫn đang chiến đấu trên một mặt trận khác đầy cam go: mặt trận tư tưởng và bảo vệ nền tảng của Đảng. Những bài chính luận mang tính phản biện cao của ông trực diện đấu tranh với tệ nạn quan liêu, tham nhũng, coi đó là thứ vũ khí sắc bén để góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong thời kỳ mới – kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Ông không nói suông bằng lý thuyết mà viết bằng bản lĩnh của một người đã từng đi qua lằn ranh sinh tử, thấu hiểu cái giá của mỗi giây phút bình yên để thôi thúc sự liêm chính và trách nhiệm của mỗi công dân.

Nhìn nhận một cách tổng thể, sáng tác của Trần Thế Tuyển là một hệ sinh thái văn chương được nuôi dưỡng từ truyền thống quê hương và dày dạn qua lửa đỏ chiến trường. Ông không viết để đánh bóng tên tuổi mà viết để tạc bia đá cho những đồng đội không có mộ, để tôn vinh những người mẹ đã dâng hiến cả cuộc đời cho dân tộc. Văn phong của ông là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa cái sắc sảo của báo chí với cái lắng đọng của văn chương, tạo nên một hành trình tạc hình đất nước bằng cả máu và hoa. Đại tá, nhà văn, nhà thơ, nhà báo Trần Thế Tuyển đã hoàn thành xuất sắc vai trò của một người lính trên mặt trận văn hóa, để lại cho đời những trăn trở, khát vọng về một đất nước hòa bình và muôn nhà hạnh phúc. Văn chương của ông sẽ còn sống mãi, bởi nó được viết bằng mực của trái tim và máu của sự thật – một thứ ánh sáng trường tồn đồng hành cùng dân tộc Việt Nam trên con đường vươn tới vinh quang.

TP.HCM, 12.05.2026

N.Đ.H

* Trung tướng, PGS.TS Nguyễn Đức Hải: Nguyên Viện trưởng Viện Chiến lược Quốc phòng/Bộ Quốc Phòng