(Vanchuongphuongnam.vn) – Lần nào qua Kinh Bắc mình cũng lấn ná tìm ngôi nhà ngói thấp lè tè cũ kỹ nơi phố xưa. Lần nào cũng không thấy ngôi nhà có cây phượng già nua trước cửa mái ngói xệ xuống rêu phong cổ kính. Lần nào cũng bất thần gặp sương chiều. Sương xanh vô cùng dịu dàng. Sương xanh bao giờ cũng lành lạnh hiu hắt.

Nhà thơ, PGS.TS Nguyễn Linh Khiếu
Chà là
Một người bạn từ Dubai về cho một gói chà là. Gói quà nhỏ nhưng bao bì màu vàng rất xa hoa với hàng chữ made in UAE vô cùng kiêu hãnh.
Bạn nói ở Dubai kết thúc tháng Ramadan phụ nữ thường xả chay bằng chà là. Lại nói đó là một loại thực phẩm rất giầu năng lượng phồn sinh. Nói thế là có ý châm chọc bởi trên tay bạn đang cầm cuốn Phồn Sinh mình tặng. Chà là nghe hấp dẫn quá.
Vì lần đầu tiên gặp bạn mà bạn lại cất công mang chà là từ xứ sở sa mạc về. Nên khi về nhà mình tạm để gói chà là lên tủ đồ lưu niệm. Ngần ngừ chưa muốn ăn.
Chả hiểu vì sao trường mầm non tạm nghỉ. Con dâu mang cháu nội sang nhờ ông trông giúp mấy hôm. Buổi sáng vừa vào phòng ông cháu ngó nghiêng khắp lượt và phát hiện ngay ra gói chà là. Đấy là do cái màu vàng quá bắt mắt.
Mắt hau háu nhìn gói chà là cháu hỏi: Ông ơi bánh gì đấy. Mình nói: Bánh chà là. Cháu hỏi: Ông ơi bánh chà là ngọt à. Mình nói: Bánh cay lắm. Cháu lẩm nhẩm: Bánh cay lắm cay lắm. Nghe thế cháu không để ý nữa mà chuyển sang chơi với thỏ bông.
Sáng hôm sau vừa vào phòng cháu chạy ngay đến chiếc tủ lại nhìn hau háu túi chà là và hỏi: Ông ơi bánh cay lắm à. Rồi nhìn mình và làm động tác nhăn mặt rất ngộ. Thấy mình ậm ừ cháu rời tủ ra chơi với thỏ bông.
Sáng hôm sau nữa vừa vào phòng cháu chạy ngay đến chiếc tủ lại nhìn hau háu túi chà là và lại hỏi: Ông ơi bánh cay lắm à. Mình nói: Không cay đâu. Cháu có ăn không ông cho. Cháu nhìn mình nhăn mặt lắc đầu và lẩm nhẩm: Cay lắm cay lắm.
Mình mở tủ lấy gói chà là xuống dùng kéo cẩn thận cắt mép. Những trái chà là vàng sậm căng mẩy như những thỏi vàng lộ diện. Một mùi thơm lạ ngọt ngào lan tỏa khắp căn phòng.
Mình đưa cho cháu một trái. Cháu cầm trên tay ngắm nghía chần chừ. Mình nói: Không cay đâu. Cháu ăn đi. Cháu thận trọng cho vào đầu lưỡi liếm thử rồi mới cho cả trái chà là vào miệng. Mắt sáng ngời.
Mình cũng ăn một trái. Khi vị ngọt đã lan tỏa thì chợt hiểu chà là chứ có phải vàng bạc gì đâu mà để dành. Đó chỉ là thực phẩm. Quý đến mấy cũng không để lâu được. Thực phẩm nếu quá đát (expiration date) thì không ăn được nữa.
Bí mật
Vừa sang thăm ông nội. Cháu Cê năm tuổi một mình tót lên phòng làm việc của ông ở tầng ba nói nhỏ: Ông ơi cháu có bí mật đấy. Thấy mình cười cười. Cháu nhớn mắt: Thật mà. Ông có muốn nghe bí mật không. Mình nói: Cháu nói ông nghe nào. Cháu ngần ngừ: Thôi cháu không nói đâu. Mọi người dặn cháu phải bí mật. Ông biết ông mắng đấy.
Mình nói: Cháu nói đi. Ông không mắng đâu. Cháu nói: Ông hứa nhá. Rồi cháu ghé tai thì thầm: Ông ơi hôm trước cháu làm vỡ cái bình của ông đấy. Mình nói: Bình ở đâu cháu. Cháu nói: Bình ông để ở cầu thang ý. Nghe thế mình giật thót. Thấy thế cháu hoảng sợ: Ông hứa không mắng cháu rồi mà.
Mình nói: Không mắng không mắng. Nhưng bình ấy của ông quý lắm. Cháu phân trần: Cháu chỉ vô ý vấp chân vào thôi. Nó tự rơi vỡ. Không phải cháu nghịch quá đâu. Mình xoa đầu cháu: Được rồi. Được rồi. Rồi cháu lại thì thầm: Ông phải bí mật. Mọi người biết cháu nói bí mật với ông lại mắng cháu đấy. Mình nói: Ông nhớ ông nhớ.
Đó là chiếc bình gốm. Mình mua của một người đàn bà Chăm ở một làng cổ gần thánh địa Mỹ Sơn. Người đàn bà gầy đen ấy nói với mình cái bình này có từ xưa. Tổ tiên bà cất riêng để đựng hạt giống. Mình đã khư khư ôm nó suốt tuyến đường từ Mỹ Sơn về Hà Nội. Mấy chục năm qua nó được cả nhà nâng niu gìn giữ.
Sóc Trăng
Năm 1993 mình có chuyến công tác vào Sóc Trăng. Khi xe chở đoàn dừng trước một toà nhà lớn dưới bóng những cây sao cao vút thì có một phụ nữa trẻ xinh xắn mảnh mai đon đả ra đón đoàn. Chị là lãnh đạo của Hội phụ nữ tỉnh.
Suốt một tuần đoàn ở Sóc Trăng sớm trưa chiều tối lúc nào chị cũng có mặt cùng đoàn. Một người lãnh đạo Hội vừa chu đáo quán xuyến mọi việc vừa trẻ đẹp xởi lởi vừa dịu dàng ý nhị thật đáng quý biết bao.
Sau này mỗi khi có dịp trở lại miền Tây hình bóng người cán bộ Hội phụ nữ Sóc Trăng lại hiện về. Đó luôn là một ấn tượng thật đẹp về bóng dáng người phụ nữ miền sông nước phương Nam xa xôi.
Sương
Lần nào qua Kinh Bắc mình cũng lấn ná tìm ngôi nhà ngói thấp lè tè cũ kỹ nơi phố xưa. Lần nào cũng không thấy ngôi nhà có cây phượng già nua trước cửa mái ngói xệ xuống rêu phong cổ kính. Lần nào cũng bất thần gặp sương chiều. Sương xanh vô cùng dịu dàng. Sương xanh bao giờ cũng lành lạnh hiu hắt.
Người con gái ấy về Hà Nội thăm mình vài lần. Nàng đến thoáng chốc tự nhiên và bí hiểm. Mình không hề có một chút rung động nào về nàng. Không hề có một chút cảm xúc nào về nàng. Nàng là sinh viên. Mình là nhà khoa học. Nàng là trẻ con hồn nhiên vô tư trong sáng. Mình là cán bộ đạo mạo đứng đắn.
Nàng muốn trở thành nhà báo. Mình đã nhờ một người giúp. Nàng rất hào hứng. Nhưng bố mẹ không muốn con gái đi xa. Muốn nàng làm giáo viên gần nhà. Là con nhà gia giáo nàng nghe theo bố mẹ. Nàng làm giáo viên ở một trường phổ thông nơi phố núi gần nhà. Sau khi làm xong thủ tục ở nơi công tác. Nàng gọi điện cho mình. Nàng nói khá lộn xộn. Mình chẳng hiểu gì chỉ nhớ một câu: “Em sẽ nhớ anh”. Từ đó nàng không về thăm gia đình mình nữa.
Thực tâm mình cũng không nhớ nàng. Đời người ta có biết bao gặp gỡ. Nhưng chẳng hiểu sao mỗi lần qua Kinh Bắc mình lại lấn cấn tìm ngôi nhà núp xúp phố cổ có cây phượng già xưa. Nhớ bóng dáng dịu dàng nền nã và kín đáo. Nhớ mắt đen huyền lay láy bất chợt nhìn mình. Nhớ giọng nói khẽ khàng trong trẻo rụt rè. Nhớ những bãi ngô non những vạt dâu xanh. Nhớ dòng sông Cầu rười rượi nước chảy lơ thơ.
Tiếng tràm
Xa Đất Mũi đã lâu nhưng không sao quên được mùi hương ngai ngái của sa bồi. Cả một vùng nước non nồng nàn hương đất. Phù sa non ngút ngát rạo rực. Vừa rười rượi vừa chan chứa như da thịt của ai. Và tiếng tràm rộn rã trong đêm.
Khi đó đang mùa xuân. Chiếc vỏ lãi chạy dọc theo con kinh hai bờ được đan bện bằng rễ đước như thể muôn ngàn cánh tay vạm vỡ thánh thiện vươn lên từ bùn. Chúng mình đi trong cảm xúc vô cùng mới mẻ. Khí xuân dương thịnh thấm nhuần trời đất. Bờ bến nồng ấm cá tôm tung tăng hào hứng. Cây cối đâm chồi nảy lộc tốt tươi. Sa bồi đất mới sức trẻ dồi dào.
Chưa nơi nào mình cảm nhận cái tình bờ cõi chơi vơi mà sâu lắng như ở nơi đây. Tổ quốc như thực như mơ như hiện hữu bảng lảng hơi sương. Đêm ấy ngủ lại Đất Mũi suốt đêm nghe đất đai rạo rực sinh sôi nảy nở. Nghe cây cối xôn xao kết nụ đâm chồi. Nghe cá tôm bì bõm vật đẻ. Nghe nhịp điệu châu thổ hào hứng như vô vàn cánh tay thiếu nữ phơi phới vươn lên.
Trong nhịp điệu truyền giống thiêng liêng ấy chốc chốc lại ken két vang lên tiếng tràm. Đó là tiếng kêu rộn rã thắc thỏm và da diết của những thân tràm sàn nhà. Sáng dậy chị chủ nhà – trẻ trung căng tràn sinh lực. Mẹ của hai cháu bé khác cha. Chị hồn nhiên phân trần: Đã lâu không có hơi đàn ông trong nhà. Đêm rồi nghe hơi mấy ảnh không sao ngủ được.
Bao năm rồi mỗi khi chạnh nhớ phương Nam. Nhớ vùng đất mang sa bồi chẳng hiểu sao tâm trí lại vang động tiếng tràm. Lại rạo rực tưng bừng tiếng tràm. Và cũng chẳng hiểu sao tự dưng lại bồi hồi phấn chấn và hào hứng.
Sông Đáy
Chẳng hiểu vì lẽ gì thỉnh thoảng mình lại trôi dạt về sông Đáy. Nơi bờ đê mướt xanh cỏ may. Nơi thấp thoáng những Hoa Sơn/ Vân Đình/ Sơn Công và Cao Thành. Nơi rưng rưng những khóm trinh nữ ẩn hiện trong hoàng hôn trĩu buồn và đẹp đến rớt nước mắt.
Đấy là mình trôi về trong mơ hay trong hư ảo. Thực ra mình mới chỉ một lần tới đó trong hoàng hôn lam thẫm và lộng lẫy cành trinh nữ tím ngát một xa xôi vời vợi. Đấy là sông Đáy của mình. Sông Đáy của ai tốt tươi buồn và ngân nga: “Anh đã hứa với em rồi đấy nhá”.
Đấy là mình đã bồng bềnh trôi dạt về theo một nẻo xa xăm đầy hân hoan vô vọng. Nước non trù mật vĩnh hằng. Đời người hắt hiu thoáng chốc. Gặp gỡ như nợ duyên chia ly như định trước. Bông trinh nữ mỏng manh ám ảnh thổn thức trong sóng nước ráng chiều.
Mình và nàng trong cõi nhân gian và sông Đáy bao giờ cũng dào dạt phả lên hơi thở nồng nàn vừa sắt son vừa mong manh: “Anh đã hứa với em rồi đấy nhá”.
Thành Tuyên
Mình đang đứng trước cổng thành cổ Tuyên Quang. Cây gạo cổ thụ bên bờ thành như thể linh hồn cha ông hiển hiện. Ai đã một lần nói với mình về cây hoa gạo này. Lần ấy hình như ai thiếu nữ. Hình như mình trai trẻ. Hình như khi đó trời đất đang tuổi hai mươi.
Thành cổ dây leo quấn quýt. Ngỡ núi rừng vương vấn đâu đây. Ngày ấy nghe ai kể về thành cổ cứ tưởng thành cao hào sâu lẫm liệt hùng vĩ giặc đến chỉ đứng ngoài nhìn vào mà khóc. Hoá ra thành cũng khiêm tốn lắm. Nhìn thành cổ chiều núi non sương khói lãng đãng tự dưng xót xa chạnh lòng.
Lần theo câu chuyện xưa. Mình ra bến sông Lô. Sông đang mùa nước cạn. Nước chảy lơ thơ trong vắt. Đôi bờ heo hút. Lau trắng phau. Mấy con thuyền chơ vơ lững thững trôi xuôi. Sao cứ ngỡ những con thuyền mỏng mảnh kia đang trễ nải chở tâm tư của mình vật vờ vô định trong cõi nhân gian.
Thành Tuyên trong câu chuyện thời thiếu nữ của ai. Trong rung động thời trai trẻ của ai. Hương hoa rừng ngào ngạt. Đồi núi bạt ngàn xanh mướt. Những bông hoa gạo nóng bỏng. Những dây leo lộng lẫy hoa vàng. Những viên gạch cổ rêu phong thiêng liêng. Và sông Lô hào hùng. Sông Lô dạt dào sóng nước.
Dã quỳ
Cao nguyên vừa hết mùa dã quỳ. Xao xác những ngọn gió khô đang về. Loáng thoáng đâu đó trong những vạt rừng hoang mấy cánh hoa vàng rớt. Chắc hẳn dã quỳ không chờ mình. Mấy cánh hoa vàng kia có lẽ sót lại của một câu chuyện tình nào đó thật xa xôi.
Mình đến Đức Trọng lần đầu. Ở nhà khách huyện. Suốt đêm nghe gió cao nguyên mênh mông hú hét ngỡ muôn ngàn linh hồn muông thú của đại ngàn Tây Nguyên gào thét. Sáng dậy thấy một vòm trời lộng lẫy vút cao. Gió lồng lộng vô vàn. Tâm thần bỗng bâng khuâng vô định.
Chẳng có nợ nần gì giữa mình và cao nguyên. Nếu không phải là một nhà khoa học đi khảo sát thực địa. Có lẽ mình cũng chẳng bao giờ đến đây. Nhưng đến rồi dã quỳ gió lộng và vòm trời cao vút náo động tâm tư.
Đức Trọng mấy chục năm trước có một cô giáo trẻ người Hà Nội dạy học ở đây. Ngày ấy chắc đất này hoang vu lắm. Trong cái hoang dã ấy chắc rừng núi âm u. Sương chiều nghi ngút. Đất đỏ bazan mù mịt. Dã quỳ bạt ngàn lộng lẫy. Vòm trời cao xanh vô định. Và gió cao nguyên lồng lộng khôn cùng.
Miền yêu
Chị cùng đoàn vốn là giáo viên Đại học nông nghiệp. Tuổi hồi xuân. Sáng nào chị cũng chạy một vòng thị xã. Mình vốn cầu thủ bóng đá chân đất giải nghệ. Thấy cái trò chơi bóng đá phải có sân bãi giầy áo cách rách nên bỏ. Nhưng thói quen dậy sớm của dân thể thao không bỏ được. Khi chị chạy. Mình lững thững ra quán gọi một chén trà nóng ngồi điểm tâm.
Khi ăn sáng. Chị hào hứng kể cho cả đoàn về buổi sáng thị xã biên giới. Về không khí về sương và dĩ nhiên về hoa phượng vàng. Nghe chị nói. Cái thị xã vùng biên heo hút buồn lặng quả là một thiên đường. Con người cảnh vật toàn thần tiên. Cây phượng buổi sớm hoa dát vàng quanh gốc. Hương thơm xa ngái như từ cõi xa xôi nào đó thổi về và vòm cây xanh mướt như một chiếc lọng xanh đài các quý phái.
Nghe chị kể. Cả đoàn đưa nhìn nhau. Giời ạ. Hay là chị kể về những ngày tu nghiệp ở Đông Âu. Không ai hiểu chị nói gì. Nhưng chị là trưởng đoàn. Các thành viên đều ngước mắt hóng hớt tấm tắc phù hoạ và ăn. Khi uống nước. Cô gái trẻ ngồi bên mình hỏi: Anh có thấy cái thị xã này đẹp không. Mình ậm ừ. Cô rên rẩm: Khỉ ho cò gáy. Có quái gì mà bà ta ca thế. Mình ngạc nhiên. Cô gái ghé sát: Rửng mỡ. Điên.
Nhưng chị ấy không điên. Tối đến một người đàn ông trung niên mập mạp đón chị đi chơi. Đích thị một đôi tình nhân. Buổi cơm chiều kia mình bóng gió. Chị hồn nhiên kể mối tình thời sinh viên cách đây mấy chục năm ở cái thị xã này khi chị về thực tập tốt nghiệp.
Khi yêu dù ở tuổi nào con người ta cũng lạ lắm. Họ ở một miền khác. Và cái thị xã biên giới mà chị kể với mọi người nó ở miền ấy. Nó thần tiên phi phàm chứ không heo hút như lũ người trần mắt thịt chúng mình đang thấy.
Hủ tiếu
Năm 1993 sau chuyến khảo sát xã hội học ở miền Tây Nam bộ. Mình lưu lại Sài Gòn mấy hôm. Đây là lần đầu mình ở lại thành phố phương Nam xa xôi ngập tràn nắng gió. Đi cùng mình là một nhà xã hội học kỳ cựu. Khi tác nghiệp mình học được ở anh rất nhiều về chuyên môn nghiệp vụ.
Chúng mình nghỉ lại ở nhà khách thuộc Hội phụ nữ trên đường Võ Văn Tần. Người đồng hành là một nhà khoa học rất thông minh và hóm. Anh có biệt danh là người “tốn vợ”. Chả là anh đã vài lần ly hôn và kết hôn. Tại thành phố này cũng có một người vợ cũ và hai con nhỏ của anh đang sinh sống.
Mỗi buổi sáng cậu con trai của anh ước chừng 9 – 10 tuổi đi xích lô đến đưa bố và mình đi ăn sáng. Bố con xa cách lâu ngày gặp nhau quấn quýt không muốn rời. Cả hai nước mắt cứ trào ra. Cậu vào Nam chưa lâu nhưng đã nhại đặc sệt giọng Sài Gòn. Nghe phát âm rất láu lỉnh ngộ nghĩnh. Cậu dẫn chúng mình đi dọc phố đến một cửa hàng ăn khá đông người. Đó là tiệm Hủ tiếu Nam Vang trong con ngõ khá rộng ở đường Võ Văn Tần.
Thấy khách những người chạy bàn đon đả hồ hởi mời chào tíu tít dọn bàn kê ghế mang nước rau sống và nhiều thứ khác. Họ thưa gửi liến láu nhặng nhạu. Rẹt một cái tất cả đã tinh tươm ngon lành. Đúng là một phong cách phục vụ mình chưa từng thấy bao giờ ở Hà Nội.
Cậu con trai cất giọng: He chú cho con ba tô hủ tiếu. Chữ tiếu bao giờ cũng kéo dài và cao vút lần nào nghe mình cũng thoảng thốt bất ngờ. Phát âm lạ và hay quá. Mình không làm sao có thể phát âm được như thế. Không hiểu sao mấy chục năm rồi cái âm thanh “ba tô hủ tiếu” ấy vẫn cứ văng vẳng bên tai.
Sau này nhiều lần quay lại Sài Gòn nhưng mình không khi nào gặp lại cậu con trai của nhà xã hội học. Mình gặp cậu ấy lần cuối trong đám tang của anh. Sau chuyến công tác đó vài năm anh đột ngột ra đi khi mới ngoài 50 tuổi. Nhiều lần trở lại Sài Gòn nhưng mình cũng chưa khi nào quay lại tiệm hủ tiếu Nam Vang trên đường Võ Văn Tần. Dù lần nào mình cũng cố gắng ăn đôi tô hủ tiếu nhưng thú thật chưa bao giờ tìm lại được hương vị hủ tiếu thơm ngon lạ lùng như mấy bữa ăn ở tiệm đó.
Biết chuyện có một người bạn gốc Sài Gòn nói rằng sở dĩ mình ấn tượng vì tiệm bên đường Võ Văn Tần đó do một Việt kiều từ Phnôm Pênh (Nam Vang) về mở. Tô hủ tiếu mình ăn lần đầu đó là chính hiệu hủ tiếu Nam Vang. Còn hủ tiếu bây giờ đã pha trộn rất nhiều. Đã chế biến theo thị hiếu của người Sài Gòn pha trộn.
Theo anh hủ tiếu có nguồn gốc từ Phnôm Pênh. Nó vốn của người Tiều. Nguyên thủy chỉ có hủ tíu và thịt heo nạc băm ăn kèm với hắc xì dầu đường phèn rau xà lách và giá. Nước lèo là từ xương ống heo được ninh nấu rất công phu cho nước thật trong ngọt. Khi theo chân những Việt kiều hồi hương về Sài Gòn những năm 70 hủ tíu đã được thêm thắt nhiều cho hợp với khẩu vị của người Sài Gòn tứ chiếng. Những nguyên liệu mới cho thêm đó gồm gan lợn nõn tôm sú tươi tôm khô trứng cút mực khô cải cúc cần ta cùng với các loại rau thơm gia vị như hành tía tỏi hẹ húng quế ngò gai cỏ đắng giá đỗ.
Mỗi khi trở lại Sài Gòn. Nhớ hương vị xưa lần nào ăn sáng mình cũng tìm món hủ tiếu. Thế nhưng không sao tìm lại được hương vị xưa cảm giác xưa. Có phải hủ tiếu xưa ngon hơn bây giờ không. Hay đó chỉ là cảm giác của món ăn lạ lần đâu được thưởng thức. Hay do ấn tượng lần đầu gặp đất và người phương Nam. Hay chỉ vì cái cách cậu con trai của nhà xã hội học gọi: He chú cho con ba tô hủ tíu.
Mạch nha
Mình hỏi: Quảng Ngãi có đặc sản gì. Người bạn đồng hương vong niên – một kỹ sư nông nghiệp – lập nghiệp ở đây nói: Kẹo nha. Ở đây có đặc sản kẹo nha. Thấy mình ngơ ngơ anh giải thích: Kẹo kéo ở quê mình ấy.
Kẹo kéo. Mình nhớ chứ. Mỗi lần vào dịp giỗ tết thịt gà thịt vịt lũ trẻ lại gom nhặt nâng niu phơi phóng lông gà lông vịt và cất giấu thật kỹ. Lũ trẻ quê nghèo phấp phỏng chờ đợi. Rồi ngày đẹp trời cũng đến. Đó là tiếng rao lanh lảnh như chuông khánh từ xa khuất đầu làng: Ai lông gà lông vịt đổi kẹo kéo đi. Tiếng rao mới tuyệt vời làm sao. Chỉ nghe văng vẳng tiếng rao lũ trẻ quê đã nhất tề tứa nước miếng. Nghe tiếng rao sự thèm ngọt kinh niên đã dâng trào tột đỉnh.
Người đổi kẹo kéo như từ thiên đường xuống. Anh ta bê ra một cái nồi đất da lươn bé tẹo ăm ắp kẹo kéo. Chỉ cái nồi đất bé tẹo ấy cũng làm sống động hàng trăm thôn làng nghèo khổ. Bởi có hàng ngàn đứa trẻ đói khát và thèm thuồng như mình. Cái màu nâu vàng sánh ngọt lịm được kéo dài mỏng tang và quấn lồng xồng ở đầu que tre như những chiếc tăm lớn. Cái màu nâu vàng sánh ngọt lịm kia là cả một thế giới vàng khủng khiếp mỗi năm chỉ vinh hạnh xuất hiện một đôi lần nơi thôn dã heo hút này. Trong khi lũ trẻ mắt long lanh và hau háu chuyền tay nhau mút chùn chụt kẹo kéo thì người chủ trút tất cả lông gà lông vịt vào bị cói và bắt đầu cất tiếng rao thiên đường: Ai lông gà lông vịt đổi kẹo kéo đi.
Kẹo kéo. Mình nhớ chứ. Nhưng đã mấy chục năm rồi từ ngày rời quê lên thành phố mình không được nếm mùi mạch nha nữa. Anh bạn dẫn mình đến một cửa hiệu và hỏi mua kẹo nha. Cháu gái bán hàng: Hai chú lấy bao hộp. Mình ngơ ngác. Người bạn nói: cho chú xem thử một hộp. Cháu bé đưa ra một hộp sữa bò cũ đã được cải tạo thành hộp chứa kẹo. Mình nhìn vào. Ôi cái màu nâu vàng sánh ngọt lịm mấy chục năm trước đây. Đúng nó là nó rồi. Mình tự dưng hồi hộp ứa nước miếng. Và nghe lanh lảnh đâu đó tiếng rao thiên đường: Ai lông gà lông vịt đổi kẹo kéo đi.
Mình nói: Cho chú mua 5 hộp. Cháu bé bán hàng: Cho con xin 15 ngàn đồng. 15 ngàn – mình ngạc nhiên. Anh bạn cười: chưa bằng một bao thuốc mình hút hỉ. Đúng vậy. 5 hộp là 5 cái nồi đất da lươn bé tẹo ngày xưa giá chưa bằng một bao thuốc lá. Thế mà ngày xưa với 5 cái hộp kẹo kéo này thì chắc chắn sẽ làm náo nhiệt hàng trăm thôn làng nghèo khổ quê mình. Và chắc chắn sẽ làm cho cả huyện trẻ em nhà quê hạnh phúc biết nhường nào.
N.L.K













