NGUYỄN THÁI HƯNG
(Vanchuongphuongnam.vn) – Có thể nói, trước Bùi Việt Mỹ ít có câu thơ mang nặng niềm day dứt bởi nỗi u hoài trước giai điệu, ca Huế hay nhịp phách sênh tiền… vọng vang trên làn nước biếc Hương Giang. Đây là điểm sáng tạo của thơ anh. Lời tự vấn của nhà thơ là một phong cách khác biệt. Vừa mang tính phát hiện nhưng cũng đậm chất nhân văn của bài thơ, khi tiếng hát trên thuyền Sông Hương đêm ấy- đâu chỉ là để mua vui, du hý của nghệ thuật ở đời?

Nhà thơ Bùi Việt Mỹ
“Yêu em anh cũng muốn vô
Sợ trưông nhà Hồ, sợ phá Tam Giang”(ca dao)
Câu ca xưa đã gắn mãi vào khát vọng tình yêu đôi lứa mong ước đến bên nhau nhưng khó đạt được khi sợ phải đi qua truông nhà Hồ và phá Tam Giang vừa rộng, vừa vắng vẻ heo hút và đầy hiểm nguy rình rập…
Nhưng đấy là lời ca thán của một thời xưa cũ. Tháng Tư nay, qua những vần thơ đầy cảm khái mà trữ tình đắm say, Nhà thơ Bùi Việt Mỹ với “Tản mạn một chút về Huế” giữa những ngày Tháng tư lịch sử lại trào dâng cảm xúc lắng sâu mà bình dị, thắm đượm tình người. Này đây, ngút ngát màu xanh của phá Tam Giang mênh mông sóng nước. Một màu xanh bình yên, dịu nhẹ của Huế yêu thương khi ngay mở đầu bài thơ anh viết:
“Mặt trời xanh như ngọc – đứng bóng Phá Tam Giang
“Chùm rễ thả buông tạo khoảng không gian yên bằng đến lạ”
Với lối nói ước lệ đầy biểu cảm mang tính tương phản“mặt trời xanh” – màu xanh thăm thẳm của phá Tam Giang, bởi vạt rừng tươi non của đước Cà Mau (như lời giới thiệu của Nhà thơ Hồ Đăng Thanh Ngọc – Chủ tịch Hội văn học nghệ thuật thành phố Huế) – xanh ngùn ngụt, xanh như đang nuốt cả trời chiều…cái màu xanh đồng hóa cả ngay sắc đỏ vĩnh cửu mặt trời – luôn rực hồng như lửa đỏ vốn là ánh sáng vật lý nguyên sơ…
Dưới con mắt của Nhà thơ, màu xanh trọn vẹn, màu xanh đắm say bạt ngàn của phá Tam Giang như đặc lại; xanh- cứ ngỡ có thể khum tay là vốc được ấy, là một trạng thái vô tận, bình yên –nơi khởi phát “mở ùa ra” một trời xanh xứ Huế.
… Đó là màu xanh bình yên – một sắc màu lắng trong, dịu dàng mang riêng bản sắc Huế…được gợi lên trong mỗi cảm giác đến lạ kỳ :
“Chùm rễ thả buông tạo khoảng không gian yên bằng đến lạ”:
Dù phía màu Đước sáng dưới làn mưa bay bay trong nắng”
Những bên này – nơi cửa biển mở ùa ra”.
Hòa trong sắc màu xanh thắm là biển xanh, trời xanh ấy, là xanh nước sông Hương – như mái tóc cô gái Huế mại mềm bồng bềnh ra biển, góp nên màu xanh tím thiết tha, chất chứa đến vô cùng. Hình tượng sông nước Hương giang mang tính người xứ Huế – luôn yêu thương, nặng nghĩa tình, luyến lưu chung thủy từ “mái chèo đưa sắc tím”- màu tím thủy chung. Hãy nghe tác giả tâm tình với dòng Hương giang thiết tha như người bạn lâu rồi gặp lại, nào đâu nỡ rời xa:
“Nước sông Hương lại dùng dằng không nỡ chia xa
Vẫn những mái chèo nhẹ nhàng đưa sắc tím”
Và đúng vậy. Thân thương thế đấy Huế ơi. Chỉ qua hình tượng“ nước sông Hương dùng dằng” được diễn tả như “dùng dằng” phút chia xa của người thương xứ Huế. Nước đâu có thể “dùng dằng”? Là Huế đấy thôi!– sóng nước Hương giang -một thực thể yêu thương mang đậm tính người xứ Huế. Cái hay của hình tượng thơ được chắt lọc, nhân hóa là ở chỗ đó. Câu thơ không chỉ dừng ở tâm tư tình cảm với cảnh vật, màu xanh sắc trời tím thủy chung riêng xứ Huế mà còn thiết tha cảm khái về văn hóa mang tính riêng biệt qua từng“nhịp phách sênh tiền”vang vọng trên sóng nước Hương giang”. Tất cả sắc màu, xanh thắm của biển trời, của đước và mây nước Hương giang. Gợi một vẻ đẹp huyền hoặc mà đắm say trong giai điệu Nam ai, Nam bằng đò đưa bằng nhịp phách sênh tiền. Tất cả tạo nên cái riêng biệt, của âm thanh, sắc màu đặc trưng văn hóa riêng xứ Huế.
Nét văn hóa mang tính truyền thống sang trọng mà linh thiêng, trong sáng, nghĩa tình mà dìu dặt, êm ái, lồng quện hòa hợp giữa trời, nước Hương giang, càng làm tăng vẻ lộng lẫy uy nghiêm tráng lệ kinh thành – làm nên một Huế mộng, Huế thơ đầy quyến rũ, khi Nhà thơ lắng lại:
“Âm thanh cũ vẳng đâu đây nghe quen, xa dần vào ngọt lịm
Sâu lắng, trầm tư nhịp nhịp sênh tiền”.
Nào đâu có phải nước “dùng dằng”?! – Huế đấy. Câu thơ cô đọng ước lệ qua hình bóng người con gái Huế, thăm thẳm ánh nhìn, miệng cười, tay nắm luyến lưu…Tác giả bài thơ không nói về người, không nói về vẻ đẹp dịu dàng gắn kết nhưng hình tượng thơ lại toát lên dạt dào tình cảm và dáng vẻ con người thân thương xứ Huế. Cái hay, cái đẹp mà cũng thật khéo biểu cảm của Bùi Việt Mỹ bằng ngôn từ qua hình tượng thơ là ở chỗ đó, khi anh viết:
“Nước sông Hương lại dùng dằng không nỡ chia xa
Vẫn những mái chèo nhẹ nhàng đưa sắc tím
Âm thanh cũ vẳng đâu đây nghe quen, xa dần vào ngọt lịm
Sâu lắng, trầm tư nhịp nhịp sênh tiền”.
Chỉ với 4 câu thơ dung dị mà thiết tha đã hội đủ, thắm tô sắc màu đặc trưng màu tím Huế với âm thanh, nghe quen…xa dần và “ngọt lịm” đầu môi; cho ta được cảm nhận sâu lắng trong trầm tư bởi nhịp lắc “sênh tiền”. Câu thơ dựng lên lồng lộng ảnh hình một Huế thương, dịu dàng, một Huế có bề dày văn minh, văn hóa, với chất ngất màu sắc sáng tạo và âm thanh rực rỡ mà không phô trương. Một Huế duyên dáng để say mê, quyến rũ… như còn vang vọng đâu đây trên sóng nước Hương Giang để đến nỗi:
“Học trò trong Quảng ra thi –
Thấy cô gái Huế bỏ đi không đành!”- ca dao.
Theo dòng cảm xúc trân trọng nâng nưu dành cho Huế, là nỗi niềm cảm thông có pha chút u hoài với bao thời khắc lịch sử vất vả gian lao – Huế đã vượt qua và đi lên kiên cường… Lời ca ấy, nét văn hóa truyền thống xa xưa ấy vẫn là sợi dây nghệ thuật, bền chặt kết nối mối tâm giao được truyền đời từ ngàn xưa cho đến hôm nay và trường tồn mãi mãi. Vẫn lưu giữ nguyên sơ, bản sắc của truyền thống lâu đời mà hài hòa muôn nét cách tân, mới lạ đầy sáng tạo trong văn hóa đương đại xứ Huế trong khúc Nam Ai, Nam Bằng, Lý tình tang, Lý hoài xuân…khi nhà thơ cảm khái dặn với lòng mình:
“Em nối dài lời hát tự xa xưa, nay vẫn mới như nguyên – Đấy là sáng tạo.
Có nhiều bài thơ, tác phẩm nghệ thuật về Huế, ngợi ca vẻ đẹp hồn hậu, đắm say của sông Hương núi Ngự với đỉnh Phú Văn Lâu dưới trời xanh tím màu sắc Huế. Huế đẹp mộng mơ và mang tính bản thể gắn kết với tình nhân hậu con người nơi đây. Vì vậy, với các địa danh yêu kiều khác, ít có địa danh nào được các nhà thơ biểu đạt tình cảm thắm thiết “rất người” như với Huế với cụm từ “ôm huế vào lòng” chỉ dành riêng cho Huế!.
Cảm Huế đấy, say Huế đấy, và đây là dòng cảm khải pha chút u hoài khi Nhà thơ đã đắm “một lòng với Huế”.. Trong cái lộng lẫy mà uy nghiêm, vẫn dịu dàng lắng đọng vẻ đẹp u tịch của kinh thành nổi bật và hòa quện cảnh sắc trời mây non nước Hương Giang… là cảm khái u hoài, da diết lắng sâu pha chút màu ai oán khi Nhà thơ day dứt:
“Dân nước có điều chi mà đáu đau da diết thế?!
Có lẽ sự cần lao bản năng tạo khuôn dáng dịu dàng xứ Huế
Bóng Kinh đô lóng lánh hắt vàng nhắc nhớ điều chi?”
Vâng! có gì đâu vấn vương, u uất về Dân, về Nước đấy Huế ơi!. Mà sao nhịp phách sênh tiền, mà sao giai điệu lời ca vọng trên đầu sóng Hương giang như cung trầm lắng xuống, như xoáy nước xuyên sâu thao thiết lòng người?! Lời ca ấy, giai điệu ấy đêm nay theo mái chèo khua, cứ rì rầm phảng phất nỗi niềm ai oán? Hay chính là nỗi niềm quá khứ xa xưa …của Huế, Huế ơi! Câu thơ như kết lại rồi dâng lên cảm giác về u hoài, day dứt của âm hưởng dân ca theo nhịp sênh tiền làm nên màu sắc riêng biệt của nghệ thuật đặc trung riêng Huế mới có khi tác giả tự vấn lòng mình:“ Dân, Nước có điều chi mà đá đau da diết thế”..
Có thể nói, trước Bùi Việt Mỹ ít có câu thơ mang nặng niềm day dứt bởi nỗi u hoài trước giai điệu, ca Huế hay nhịp phách sênh tiền… vọng vang trên làn nước biếc Hương Giang. Đây là điểm sáng tạo của thơ anh. Lời tự vấn của nhà thơ là một phong cách khác biệt. Vừa mang tính phát hiện nhưng cũng đậm chất nhân văn của bài thơ, khi tiếng hát trên thuyền Sông Hương đêm ấy- đâu chỉ là để mua vui, du hý của nghệ thuật ở đời?.
Trong cái bàng bạc mà mênh mang của làn điệu ca Huế đó là thăm thẳm lịch sử trường tồn của Huế, hy sinh, vượt khó đi lên đấy khí phách anh hùng. Gợi nhớ không nguôi về một thời xa xưa… Nhà thơ như mãi vấn vương trong tâm khảm niềm ai oán, xót xa vang đọng một thời non nước… còn ngấm sâu thăm thẳm trong sắc thái“lời ca và nhịp điệu sênh tiền” xứ Huế. Lời thơ như ngân lên trong thảng thốt của giai điệu lời ca, nhịp phách và nhịp mái chèo khua dìu dặt sóng nước Hương Giang…:
Có lẽ sự cần lao bản năng tạo khuôn dáng dịu dàng xứ Huế
Bóng Kinh đô lóng lánh hắt vàng nhắc nhớ điều chi?
Và trên hết nỗi niềm ấy được nâng lên trong âm hưởng ngợi ca công ơn của những người con xứ Huế đã sẵn lòng hy sinh làm nên trang sử oai hùng; đoàn kết đi lên trong gian lao, kiên cường để giữ sự bình yên, độc lập cùng dân tộc – một Huế cổ kính, trang nghiêm, mộng mơ đầy quyến rũ. Cảm ơn những người con của xứ Huế đã dày công bảo tồn và lưu giữ nền văn hóa, văn minh ấy – đấy là sự dày công “vun đắp lương tri” khi nhà thơ ca ngợi:
Cảm ơn những người con đã dày công vun đắp lương tri
Để Huế được vẹn nguyên những đền đài văn hiến
Lối mòn vẹt bản làng Kơ-tu in nếp gia phong người Việt
Hiện hữu sự trường tồn đạo nghĩa đời đời Huế đã hy sinh…
Nhịp thơ trải ra, da diết và tự hào khi Nhà thơ biểu cảm dâng trọn tấm tình với Huế được kết dồn từ sắc màu tinh kết bốn phương tụ hội. Không chỉ là mầu sắc của kinh đô của Hùng – đất Tổ với “vời vợi cao núi Nghĩa Lĩnh mây viền” mà còn là sắc màu men gốm Bát Tràng của Thăng Long ngàn năm “Phi chiến địa” vững thế rồng cuộn, hổ ngồi, với long lanh hùng vĩ muôn dặm của Tràng An, Lam kinh và men nồng của Bàu Đá – Gia Lai…
Tất cả họp tụ, dồn lại, kết tinh thành một sắc màu cho một Huế yêu thương, tráng lệ kinh thành, quyến rũ! Cùng góp phần tôn tạo nét đẹp văn hóa Huế đã sáng tươi hoa lệ lại sáng tươi hơn, đã cổ kính, trang nghiêm, quyến rũ lại càng cổ kính và đắm thắm quyến rũ hơn khi nhà thơ bộc bạch:
Chúng tôi hướng tâm từ hai đầu một dải đất hòa bình
Mang sắc đồng từ đất Tổ, màu men gốm Bát tràng, vết chai sạm
đá xứ Ninh, Thanh và hương rượu Bàu đá Gia Lai…
Âu, đấy cũng là khát vọng, là ước mong muốn đóng góp một phần nhỏ sức mình “nhuộm tím” thêm “màu sắc tím”- làm nên đặc trưng riêng sắc màu xứ Huế, lung linh hòn ngọc“chẳng nơi nào có được” như nhà thơ đã ngợi ca:
Muốn góp gom chút men tình nhuộm tím màu sắc tím
Để Huế – văn đàn của nhân gian mãi còn quyến rũ
Sẽ chẳng nơi nào yêu đắm thế Huế ơi.
Tây Hồ Hà Nội – T5
N.T.H
(Về bài thơ: “Tản mạn một chút với Huế” của Nhà thơ Bùi Việt Mỹ)
TẢN MẠN MỘT CHÚT VỚI HUẾ
Mặt trời xanh như ngọc – đứng bóng Phá Tam giang
chùm rễ thả buông tạo khoảng không gian yên bằng đến lạ
Dù phía Màu Đước sáng dưới làn mưa bay bay trong nắng
Những bên này – nơi cửa biển mở ùa ra.
Nước sông Hương lại dùng dằng không nỡ chia xa
Vẫn những mái chèo nhẹ nhàng đưa sắc tím
Âm thanh cũ vẳng đâu đây nghe quen, xa dần vào ngọt lịm
Sâu lắng, trầm tư nhịp nhịp sênh tiền.
Em nối dài lời hát tự xa xưa, nay vẫn mới như nguyên
Dân nước có điều chi mà đáu đau da diết thế?!
Có lẽ sự cần lao bản năng tạo khuôn dáng dịu dàng xứ Huế
Bóng Kinh đô lóng lánh hắt vàng nhắc nhớ điều chi?
Cảm ơn những người con đã dày công vun đắp lương tri
Để Huế được vẹn nguyên những đền đài văn hiến
Lối mòn vẹt bản làng Kơ-tu in nếp gia phong người Việt
Hiện hữu sự trường tồn đạo nghĩa đời đời Huế đã hy sinh…
Chúng tôi hướng tâm từ hai đầu một dải đất hòa bình
Mang sắc đồng từ đất Tổ, màu men gốm Bát tràng, vết chai sạm
đá xứ Ninh, Thanh và hương rượu Bàu đá Gia Lai…
Muốn góp gom chút men tình nhuộm tím màu sắc tím
Để Huế – văn đàn của nhân gian mãi còn quyến rũ
Sẽ chẳng nơi nào yêu đắm thế Huế ơi.
Huế, 4/2026.
Bùi Việt Mỹ












