Lê Khánh Mai – hồn thơ mây trắng

714

Nguyễn Phương Hà

(Đọc tập thơ “Mật ngôn của tình yêu”)

(Vanchuongphuongnam.vn) – Đọc “Mật ngôn của tình yêu” của Lê Khánh Mai (NXB Hội Nhà văn, 2019), ta gặp những vần thơ giàu chất suy tưởng, đó là những trăn trở suy tư về sự sống, những chiêm nghiệm về cuộc đời hữu hạn và khát vọng vô biên, nỗi day dứt về tình yêu và chiến tranh, hạnh phúc và mất mát, khổ đau. Nổi bật là những bài thơ về tình yêu nhưng không phải là cảm xúc nồng nàn, say đắm của đôi lứa đang tình tự mà là “Mật ngôn của tình yêu”, là ẩn ức về một tình yêu đã trở thành kỷ niệm buồn thương từ hơn mười năm trước, một hồn thơ luôn hướng về nơi ấy, nơi “anh hoá thành mây trắng”. Tứ thơ đó trở đi, trở lại trong nhiều bài thơ với sự kết hợp những sắc thái cảm xúc yêu thương, mộng tưởng ái ân, buồn đau và cảm giác mất mát, hụt hẫng, cô đơn. Tứ thơ độc đáo và sự kết hợp những cảm xúc, suy tưởng sâu lắng đã tạo nên một giọng điệu khá đặc biệt và đầy ám ảnh trong tập thơ: giọng trữ tình buồn thương không dứt, không nguôi.


Nhà thơ Lê Khánh Mai.

Lần theo ký ức của nhân vật trữ tình, người đọc cảm nhận được tiếng vọng của tình yêu, của hồn người gắn với tiếng vọng của lịch sử từ thời kháng chiến chống Mỹ. Đất nước như con tàu bị cắt làm đôi, em và anh cũng đi về hai phía:

nhưng chúng ta đã đi ngược chiều nhau

em từ Nam ra Bắc

anh từ Bắc vào Nam

hai tinh cầu nhỏ bé trượt qua nhau lặng lẽ

chỉ không trung nghe được tiếng vọng thầm

(Tiếng vọng)

Trong bài thơ Em yêu anh, Khánh Mai thể hiện những cung bậc tình yêu qua hình ảnh cảm giác về sự vật, âm thanh và ánh sáng và người đọc mặc sức liên tưởng “hương vị” của những tia nắng ban mai, tiếng chim hót, mưa thu dịu lành, sóng tự ghềnh xa, phím đàn tuôn đổ âm ba, phía chói loà ngời sáng. Từ đó, chị ước nguyện một tình yêu vĩnh hằng:

em yêu anh

như tình yêu đầu tiên, như tình yêu cuối cùng

ta bên nhau hành trình không về đích, không giới hạn

chỉ ý nghĩ vươn về nhau bất tận

chỉ thơ nhạc cất lời cho khoảng lặng rung lên

em yêu anh và anh yêu em

(Em yêu anh)

Với người phụ nữ, tình yêu vốn đặc biệt nhạy cảm với những biến động của đời sống nên nhiều trắc trở và lắm âu lo, vì thế ngay cả trong phút giây tình tự hạnh phúc, Thuý Kiều đã linh cảm về những bất trắc: Bây giờ rõ mặt đôi ta / Biết đâu rồi nữa chẳng là chiêm bao (Truyện Kiều). Khánh Mai thể hiện những linh cảm của mình bằng những liên tưởng nhuốm màu siêu thực, những hình ảnh ảo giác, tiếng gọi của giấc mơ:

chiếc cầu gỗ chao đảo

em đứng bên này

anh phía bên kia

dưới chân ta dòng sông cuộn trào, chảy xiết

phải chăng ẩn mật thiên cơ chỉ mình em được biết?

(Linh cảm nghiệt ngã)

Và linh cảm đã thành hiện thực, dù là khát vọng tình yêu chung thuỷ, cuộn xiết nhau cùng nốt nhạc vần thơ, nhưng định mệnh tàn nhẫn, duyên phận phủ phàng đã đẩy lứa đôi cách xa về hai thế giới. Niềm đau của thi nhân đã gợi lên bao nỗi xót xa thương cảm:

nơi đường biên bầu trời trái đất

ta chia tay nhau

anh hoá thành mây trắng

em đơn độc cánh cò

áo tang trắng màu mây

(Mây trắng)

Bài thơ Người đàn bà đi tìm tiếng chuông có chuỗi hình ảnh ẩn dụ sắc nét và giàu ý nghĩa. Sự kết hợp giữa thực và ảo với những hình ảnh quả chuông câm, con nhện goá, chiếc lá vàng, vốn là những thực tại xa nhau nhưng đã được đặt trong cùng quan hệ với hình ảnh tiếng nói thầm phía sâu lồng ngực. Tất cả tập trung thể hiện tiếng chuông, cũng là hình tượng trái tim, tiếng chuông ấy phải chăng là tiếng lòng của người đàn bà, hồn thơ của nữ sĩ, một thời ngân nga trong thinh không rồi trôi đi vô tích, vùi sâu lòng đất, chìm đáy đại dương im bặt giữa tầng mây trắng. Cảm nhận được cái phi lý của cuộc đời, day dứt vì sự tàn tạ, phôi pha theo năm tháng, đồng thời thể hiện niềm khát khao sống, khát khao giao cảm tâm hồn, thể xác và giấc mơ xuân trẻ, tiếng chuông ấy đã chuyển hoá thành những hình ảnh với nỗi buồn thương không dứt:

con nhện goá miệt mài giăng tơ

đan tấm lưới chiều buồn bã bâng quơ

vớt những âm thanh vọng tưởng

(Người đàn bà đi tìm tiếng chuông)

Đọc thơ Khánh Mai, thấy chênh vênh giữa hai bờ hư – thực, cái thực là một “cái tôi” đầy cá tính được thể hiện qua những hình ảnh vật thể và sự việc như được nhìn thấy trong giấc mơ, được xây dựng bằng những liên tưởng dựa trên những nghịch lý, bất ngờ, đập mạnh vào trí tưởng tượng:

em

từng đêm, từng đêm

hồn đi hoang, thoát khỏi căn phòng đơn lạnh

bức rèm hoa dây leo lay động

bầy côn trùng rầu rĩ giao hoan

mưa thu tí tách gọi tình

hạt sương quyên sinh trong niềm đau dâng hiến

gió thì thào lời yêu bất tận

lá reo mừng quấn quýt những bước chân

bầu trời đêm rất xanh

trăng sao thắp đèn quanh ngôi nhà mây trắng

(Mật ngôn của tình yêu)

Tác giả đã sử dụng những hình ảnh từ đặc điểm về hình thể, âm thanh của sự vật, hiện tượng: bầy côn trùng, mưa thu, hạt sương, gió, lá, bầu trời, trăng sao để bộc lộ niềm khát khao hạnh phúc của nhân vật trữ tình. Hàng loạt hình ảnh mộng mị, mê sảng được được gợi lên với nhịp điệu dồn dập, hối hả, làm liên tưởng một cuộc giao hoan đầy cảm giác ái ân trong đêm hoa đăng, không phải trong căn phòng chật chội mà giữa vũ trụ vô cùng vô tận, để trăng sao thắp đèn quanh ngôi nhà mây trắng. Đoạn thơ tiếp theo là sự cảm nhận hạnh phúc ái ân bằng những giác quan tinh nhạy và niềm đam mê đắm đuối:

đêm

căn phòng trống trải

bỗng ngập tràn mùi hương ân ái

cái mùi hương đi vắng đã mười năm

trở về

ướp lên mái tóc em

ủ thơm chăn gối

mơn man da thịt hồi sinh

nồng nàn hơi thở thương quen

riết róng vòng tay êm ấm

thảng thốt nụ hôn muộn mằn sau quên lãng…

(Mật ngôn của tình yêu)

Nhưng tất cả chỉ là ảo giác – ảo giác về một tình yêu hạnh phúc đã trở thành kỷ niệm, trở thành nỗi đau quặn lòng, vì giờ đây, người tình đã khuất xa, tất cả chỉ còn em đắm đuối ngắm hình bóng anh qua làn khói mỏng. Niềm khát khao ân ái, khát vọng hạnh phúc, chung tình trong hoàn cảnh mất mát đau thương, phải chăng là vùng ẩn mật của bản thể, là Mật ngôn của tình yêu mà nhà thơ muốn gửi gắm. Nhà thơ vận dụng những yếu tố siêu thực, kết hợp thực và ảo, diễn tả tiềm thức bằng cách trình bày các sự vật như được thấy trong giấc mơ với những hình ảnh thiên về cảm giác mơn man da thịt.

Khi đã ở tuổi xế chiều, cũng là lúc nhìn lại mình đời đã xanh rêu (Trịnh Công Sơn), người ta thường hồi tưởng về quá khứ, chiêm nghiệm về những được mất trong cuộc đời dâu bể với một nỗi niềm ngùi ngùi thương cảm, đó cũng là cảm hứng của Lê Khánh Mai trong bài Khi người ta già. Cùng với tháng năm, người ta càng già dặn, chín chắn chứ không còn bồng bột, nhiệt thành đến mức nóng nảy, động đến là xù lông như chú chim ngày xưa – thời trẻ trung sôi nổi:

những chiếc gai nhọn trên hình hài tù dần đi và rụng hẳn

đâu rồi chú chim bé nhỏ ngày xưa, động đến là xù lông

chiếc lưỡi mềm đã thấm mệt, chịu nằm ngoan

trong khoang miệng…

(Khi người ta già)

Hình ảnh ẩn dụ chú chim bé con ngày xưa là biểu tượng thể hiện một “cái tôi” đã hư hao qua năm tháng, qua những biến đổi thăng trầm trong cõi nhân sinh. Đó là sự tự ý thức về những được mất của một thời xuân trẻ. Con người đó đã ngấm đòn vì cái giá phải trả cho sự nhiệt thành và cả vô tâm, muốn kêu những tiếng đớn đau, uất hận, đòi rạch ròi đúng sai, phải trái  và  muốn nói lời xin lỗi những ai bị nó làm tổn thương. Ba câu thơ như một lời tự bạch, đã khái quát những nét bản chất rất đời, rất người của chú chim bé con với khát vọng và sự nuối tiếc vì  tất cả đều quá muộn. Khi đã “tri thiên mệnh”, biết phận người sắp đặt bởi duyên cơ, thi nhân  không muốn những nếp nhăn hằn sâu thêm nữa, vì thế mà buông bỏ, mặc cho sự đời trôi đi theo quy luật thời gian, để  lòng cất lên tiếng hát. Nói thế thôi, tưởng là buông, là bỏ để vui sống, mà trong miền sâu thẳm của tâm hồn vẫn thổn thức nỗi ưu tư chợt nhói đau nơi ngực trái rưng rưng. Bài thơ có những ẩn dụ khá độc đáo, gợi ra nhiều liên tưởng và có sức ám ảnh.

Trong nỗi cô đơn, mất mát và đau thương, khi người tình đã hoá thành mây trắng, nhà thơ vọng về thế giới bên kia, hồn theo mây trắng bay về phía anh, đến với cuộc tình vô cùng vô tận:

em đi về phía mưa nguồn chớp bể

cuộn vào anh thác xiết

hát ca lời biển khơi

cùng bay lên bầu trời

mây trắng.

Người đọc thương cảm sâu sắc với nỗi niềm của nhà thơ thể hiện qua những ấn tượng mơ hồ, huyền hoặc, những ảo ảnh chơi vơi, mong manh lướt qua tâm trí. Phải là một khát vọng tình yêu mãnh liệt, nồng thắm, chung thuỷ, cháy hết mình thì mới có cái ý nghĩ vĩnh hằng hoá tình yêu một cách lạ lùng đến như vậy. Hình ảnh mây trắng hư ảo cứ chập chờn, ẩn hiện trong hồn thơ thi sĩ, trở thành một ám ảnh trong lòng người đọc. Là người phụ nữ ở thế kỷ XXI, thi nhân không ngần ngại bộc lộ những miền sâu kín nhất của tâm hồn, cả ý thức lẫn vô thức, và người đọc ngày nay dễ đồng cảm với những rung động của trái tim người goá phụ, một con người nhạy cảm, tinh tế, yêu thương gắn bó, chung tình. Qua những bài thơ Mật ngôn, tác giả đã thể hiện cảm hứng về thân phận con người, thân phận tình yêu, một “cái tôi” với tâm thức cô đơn buồn thương, có khi “bị chặt đứt bởi mọi gốc rễ”, rơi từ sợ hãi này đến sợ hãi khác trong hành trình tìm kiếm chính mình (Trạng thái).

Phải chăng Cái cô đơn là đặc trưng cuối cùng của thân phận con người? Vì thế, “cái tôi” trữ tình  đào sâu vào bản thể, cô đơn trong cõi người và đi tìm tri kỷ trong thế giới nội tâm (Tri kỷ). Nỗi cô đơn như thường trực trong tâm hồn thi sĩ, người đọc gặp nhiều bài/câu thơ gợi trạng thái cô đơn trong ý thức và cả trong tiềm thức. Ngay cả lúc hai người tình còn bên nhau, nhà thơ vẫn cảm thấy:  như hai vũ trụ cô đơn/ gần nhau mà xa lạ (Linh cảm nghiệt ngã); khi lại cảm nhận cô đơn ở một không gian: con đường nay bỗng rộng rinh / bơ vơ còn lại một mình mình đi (Miền hoang tưởng); Có khi là một suy niệm: đi mải miết bên lằn ranh định mệnh / Hạnh phúc cô đơn đi về phía vô cùng (Bên lề đời nhau), một sự bừng ngộ: triền miên những cơn mơ ái ân dang dở / Cơn mơ bỏ đi rồi, trơ trọi một niềm riêng (Hành trình mùa xuân) và một khái quát có ý nghĩa triết luận: mỗi phận người một vũ trụ đơn côi (Vũ trụ đơn côi),vv…

Tập thơ Mật ngôn của tình yêu có những bài thơ hay được viết theo bút pháp hiện thực – lãng mạn truyền thống với những nét tả thực như Tiếng vọng, Ký ức ga Hàng Cỏ, Ba mươi tháng tư, Hành trình mùa xuân, nhưng chủ yếu là những bài thơ có sự vận dụng kết hợp biện pháp nghệ thuật thơ siêu thực ở chừng mực có thể chấp nhận được, tạo nên sự đa dạng trong phương thức thể hiện. Có thể thấy rõ điều đó trong các bài: Khi người ta đã già, Người đàn bà đi tìm tiếng chuông, Mật ngôn của tình yêu, Gió, Linh cảm nghiệt ngã, vv…Khánh Mai đã có những tứ thơ mới mẻ, nhiều sáng tạo trong việc xây dựng hình tượng thơ, những ẩn dụ khá độc đáo, những hình ảnh có ý nghĩa tượng trưng để miêu tả nội tâm ẩn mật của con người với vùng mờ vô thức, gợi nhiều liên tưởng bất ngờ và thú vị nơi người đọc. Tuy nhiên, một số bài có những suy tưởng trừu tượng, những liên tưởng quá xa làm người đọc khó khăn trong việc tiếp nhận (Khởi đầu, Khoảng trống, Miền hoang tưởng). Lê Khánh Mai không mấy lệ thuộc những hình thức thơ truyền thống như thể thơ, kết cấu, vần điệu. Chị viết thơ tự do, thường phá vỡ trật tự thời gian, không gian tuyến tính, ngắt giọng theo nhịp rung động của cảm xúc, sự mời gọi của tâm tưởng, bởi vì Chỉ có vần luật bên trong hoà hợp với nhịp đập con tim là có ý nghĩa [*]. Một số bài được cấu tạo như một chùm thơ ngắn (Hát một mình trong sương mù, Những mảnh vỡ của ngọc, Miền hoang tưởng), lại có những bài thơ văn xuôi, câu dài miên man tưởng không dứt (Chuyển dịch, Bản thể, Khoảng trống) và một bài lục bát lạc lối giữa vườn thơ hiện đại (Xa xăm). Phần lớn là những bài thơ không vần hoặc ít vần nhưng vẫn giàu nhịp điệu, rất ít dùng dấu câu (chỉ dùng dấu phẩy và dấu chấm kết thức bài). Lời thơ phóng khoáng, không cầu kỳ, trau chuốt, bóng bẩy nhưng giàu sáng tạo, có sức gợi hình gợi cảm, thể hiện bản lĩnh của một cây bút thơ đang ở độ chín.

N.P.H

[*] Dẫn theo M. Amaudov. Tâm lý học sáng tạo văn học, Nxb Văn học, 1978, tr 535.