(Vanchuongphuongnam.vn) – Họ đi thật nhanh như ý nghĩ vượt qua những hoang mạc, những miền đất trù phú, những lâu đài tráng lệ cho đến khi dừng hẳn ở một miền đất xa lạ trên tầng trời cuối cùng. Ở nơi đó, trên một miền rừng núi dốc dác, Thích Nguyên Đại bất ngờ trông thấy một thứ gì đó giống như hình dáng của một thiếu nữ, được bao bọc kín đáo trong vô số những lớp vải che phủ, đến nỗi không tài nào có thể hình dung ra gương mặt phía trong.

Ảnh minh họa. Nguồn internet
Lời tâm sự
Tôi là một tín đồ Phật giáo thuần thành, bao giờ trong lòng cũng rộ lên niềm kính vô bờ bến đối với những nhà sư chân chính. Một lần, tôi được người anh học cùng khoá đưa lên dãi núi Am Các, một ngôi cổ tự thật đẹp, nó cứ mơ màng và thơ mộng trên đỉnh trời Nghi Sơn, Thanh Hoá. Trên ấy, có một thầy tu đã bỏ hết mọi sự xa hoa, phù phiếm, vật chất của cuộc đời thế tục để lên đó ẩn tu như một vị tu sĩ ẩn giật. Hôm ấy, thầy đã xuống tận chân núi để đón chúng tôi, cái cử chỉ thân tình và mến khách và điềm đạm của thầy khiến chúng tôi vô cùng cảm động. Thầy đưa chúng tôi đi chiêm bái mọi thứ, nơi thầy đã bỏ xiết bao công sức để làm nên một cơ ngơi trang hoàng, đẹp đẽ, tuyệt bích và giản dị đó. Cuộc đời thầy là sự hiến dâng cho đạo cả của một con người có đạo đức khiêm nhường. Về nhà, tôi cứ nghĩ đi nghĩ lại và quyết định viết một mẩu truyện ngắn để tri ân thầy. Một nhà tu hành chân chính, vì đạo pháp, dân tộc và chủ nghĩa.
—
Thần rừng đã ru dãy núi Am Các ngủ say, trong sự tĩnh mịch của màn đêm dường như vẫn còn đang nghe rõ tiếng thở của cánh rừng nguyên sinh. Ánh trăng đã nhô cao lên đỉnh đầu, bao phủ những ngọn đồi kía tiếp, thần, Phật, các thần miếu, thần rừng, những tàn cây tùng và những khóm cây đại đen đúa trong những làn nước lấp loáng ánh bạc, mênh mông. Tất cả bốn bề đều im ắng, chẳng có ai trong giờ phút này, cả dãy núi hoang vu và xung quanh đều đã say ngủ.
Trong màn đêm tịch mịch chỉ có mỗi sư ông Thích Nguyên Đại còn trăn trở, thao thức. Úp trán vào chân tượng tượng Quán Thế âm Bố-tát sắc vàng ánh hiện trong khu rừng dưới ngọn đồi, sư ông ôm ghì lấy chân pho tượng mà kêu lên:
– Hỡi người cứu độ chúng sinh, hỡi người cứu độ chúng sinh. Xa xưa từ vô vàn kiếp nhân sinh Người đã từng hiện ra trước mắt cho đám dân chúng cần lao được thấy, vậy hãy xin nghe lời tôi! Xin hãy chở che tôi, thương xót tôi. Xin hãy nghe lời thỉnh cầu của tôi.
Vừa rời trán khỏi đôi chân bằng đá thạch anh của Quan thế âm Bồ tát, nhà sư trẻ thảng thốt nhìn lên gương mặt vị thiền phật, khuôn mặt lúc này được trùm phủ ánh trăng soi rọi, nhưng đáp lại lời thỉnh cầu tha thiết của nhà sư trẻ chỉ vẫn chỉ là thấy một cõi ta bà mênh mông. Ngay cả những tiếng gió nhẹ từ phía cửa biển giờ cũng chẳng còn hát ca nữa, không một tàng lá cây rung động.
Trong trái tim da diết nhà sư trẻ bỗng dâng lên niềm cảm thương vô bờ bến, làm những dòng lệ cứ thế tuôn trào, giàn giụa trên gương mặt phúc hậu của người.
– Cho đến giờ phút này, biết bao năm tháng tu hàng trên đỉnh Am Các này, tôi chỉ tin, thờ phụng và ca ngợi mỗi Người trong tất cả các vị thiền phật – nhà sư trẻ không ngừng than vãn, – chỉ mỗi mình Người thôi, Người ơi, hỡi thiền phật từ mẫn của lòng tôi. Không ai khác, chính Người đã gieo vào tâm hồn tôi, trái tim tôi nỗi khát vọng rực cháy và thương nhớ đêm ngày, nỗi khát vọng thiêu đốt lòng tôi như lửa cháy trong tim. Nếu có thể, xin Người hãy vì lòng từ bi trí tuệ mà dập tắt hoặc hãy thổi bùng nó lên, hỡi thiền phật vạn lần đáng kính. Hãy cho tôi thấy Chân như Chân lý cao cả của Người. Thiền phật là chân lý của mọi chân lý, là từ trường tâm linh của muôn kẻ lạc đường, tôi xin dâng hiến Thiền Phật mạng sống của tôi cùng mọi dục vọng cuộc đời này. Tôi sẽ từ bỏ trái tim mình, mọi tài sản trên cuộc đời này, sẽ hiến dâng tuổi thanh xuân, sắc đẹp, tình yêu, lý tưởng, hạnh phúc, thậm chí cả danh vọng mà tất thảy mọi người thường coi đó là của cải vĩnh hằng và phước báu lớn nhất được thần tiên ban tặng.
Rồi sẽ đến lúc. Những cành liễu và ngọn cây thông đột nhiên rung chuyển, bắt đầu nghiêng xuống dãy núi mờ xa như một cơn gió đêm vừa thổi đến, tiếng lá thì thầm và tiếng rì rào, loạt xoạt của rặng cây thông và như vọng lại tiếng nói từ trên cao, vang vọng khắp khu rừng cứ như thể có hàng trăm nghìn tinh linh gọi nhà sư trẻ từ khắp mọi hướng.
– Thích Nguyên Đại! Thích Nguyên Đại!
Sư ông chợt giật mình nhìn lại, đến lúc tỉnh thức đưa mắt quan sát vạn vật xung quanh, cứ ngỡ như ai đó đang đuổi bắt và nhắc mình trong đêm.
Ai gọi ta thế!- Sư ông nói.
Một bàn tay thạch anh nhẹ nhàng đặt lên vai nhà sư trẻ.
– Chính Ngươi đang gọi ngươi đó – Thiền phật nói, – ta đã nghe lời thỉnh cầu của người và luôn thị hiện bên người đây.
Nỗi kinh hoàng khiến sư ông sởn gai gốc, lạnh cả sống lưng. Sư ông trẻ vội vàng lễ sụp, van vái, lặp đi lặp lại trong nỗi kính sợ lẫn cung kính nể phục.
Người đã ở bên tôi sao! Thật không tin nổi, kinh khiếp, không thể nào diễn tả thành lời…
Trong giây phút ấy, Thiền Phật bảo nhà sư hãy đứng dậy và nói:
– Thật lòng người muốn nhận biết được chân như cao cả nhất, chân như tuyệt đối, là từ trường tâm linh của thế gian ảo mộng và cội rễ của chúng sinh tăm tối. Nhưng ta khuyên ngươi, ngươi hãy lên ghi nhớ rằng cho đến nay không một ai trong số những người đến Am Các làm phận sự mà không có sự bảo trợ của thiền phật, những hùm beo, lang sói, rắn rết và đường đi mờ mịt và sẽ có muôn vàn nghịch cảnh hiện ra trước mắt. Có thể ngươi sẽ phải trả giá rất đắt cho cuộc đời tu hành của mình, nhưng vì ngươi đã quyết đem cả mạng sống của mình thề thốt bên ta, ta sẽ sẵn lòng giúp nhà ngươi, nếu như vì thiền Phật người dám mạnh dạn từ mọi tài sản quý báu, quyền lực, tình yêu và niềm khát vọng vinh quang, thứ mà như ngươi đã từng nói, là phước báu lớn nhất của tất cả muôn loài.
Tôi xin đoạn tuyệt thế gian này, ngay cả vầng nhật nguyệt nữa! Thích Nguyên Đại hứng khởi kêu lên.
Những rặng thông và liễu vẫn lặng im cúi đầu trước nhà sư trẻ của thần trí tuệ Quan thế Âm bồ tát. Dường như đang có vẻ gì đó âu tư về lời thề ban nãy của vị tăng sư trẻ tuổi.
Nhưng người cũng chẳng bao giờ có thể nhìn thấy Quan Thế âm Bồ tát đâu. Ngẫm nghĩ một hồi, lát sau Người bảo. Mỗi năm một lần, cũng như đêm nay, ta sẽ mang ngươi đến với vị thần Chân lý, ngươi sẽ có cơ hội được mở tấm màn vải che mặt vị thiền phật, hướng về phía sau lưng. Bằng sức mạnh không thể bị hoại diệt của mình, ta sẽ giúp cho người không bị thần chết cướp đoạt sinh mạng trước khi ngươi mở cho được tấm mà che cuối cùng. Người có đồng ý không, Thích Nguyên Đại?
Năng lượng và ý chí của Người sẽ được đáp lại như bây giờ cũng được hiện thực, hỡi vị thiền phật Thông thái! – Sư ông đáp.
Và như ước nguyện vị thiền Phật lần lượt mở tấm màng che mặt bằng thạch anh, biến thành một hình hài chói sáng và cũng nhanh như ánh sáng, rồi khẽ khàng cầm tay Thích Nguyên Đại nhẹ nhàng bay lên không trung bao la, với tốc độ kỳ ảo của phép màu đi xuyên qua vô vàn tầng trời, giống như một trong những vì sao tinh tú như những con thoi vẫn hằng đêm mạch lạc trôi chảy trong vũ trụ khi thần bóng đêm đang ngủ quên.
Họ đi thật nhanh như ý nghĩ vượt qua những hoang mạc, những miền đất trù phú, những lâu đài tráng lệ cho đến khi dừng hẳn ở một miền đất xa lạ trên tầng trời cuối cùng. Ở nơi đó, trên một miền rừng núi dốc dác, Thích Nguyên Đại bất ngờ trông thấy một thứ gì đó giống như hình dáng của một thiếu nữ, được bao bọc kín đáo trong vô số những lớp vải che phủ, đến nỗi không tài nào có thể hình dung ra gương mặt phía trong. Xung quanh tất thảy mọi người đang run rẩy trước những ánh sáng nào đó, rất kỳ ảo, bí ẩn, khác hẳn với cuộc sống nơi trần thế.
Đó chính là Chân Lý, – Bồ tát Quan thế âm bảo, – người đã tận mắt trông thấy những ánh sáng trí huệ của thiền phật dù cho bị che giấu, vẫn biểu lộ qua các tấm màn và vẫn không ngừng chiếu sáng. Giá như không có thứ ánh sáng nhỏ nhoi, yếu ớt nào được trải rải xuống mặt đất, được những đôi mắt tinh tường của các nhà thông thái thích đàm luận, thì con người như các cư dân vùng Am Các này sẽ bị lu mờ trong bóng tối mãi mãi.
Hỡi người chỉ đường lên tiên giới! – Thích Nguyên Đại nói, – chắc chắn một điều rằng khi tôi giật bung tấm vải che lần đầu tiên, Chân lý sẽ soi rọi cho tôi tất cả.
Bây giờ thì ngươi có thể bắt đầu. Hãy giật đi. – Vị thiền phật bảo.
Thích Nguyên Đại rụt rè nắm lấy tấm vải dày và giật ra khỏi người Bồ Tát Quan thế âm. Một luồng ánh sáng nhanh như điện, chói mắt liên hồi đập vào mắt chàng, và mê mải ngắm nhìn vóc dáng toả sáng của thiền phật, nhà sư trẻ chẳng hay biết rằng tấm vải che mà mình vừa buông khỏi tay đã hoá thành một con chim bồ câu trắng bay vụt lên khoảng trời tăm tối xa xôi.
Nhà sư trẻ đứng trước Quan thế âm bồ tát, nửa mừng nửa tủi, nửa mê nửa tỉnh, cứ như bị tách rời khỏi cuộc sống, lòng mình ngập tràn hạnh phúc trong khoảng không gian vô định đầy ánh sáng, không chấp vào vật chất thế tục, được ban tặng một thứ sức mạnh chưa từng có ở một thế giới mênh mông và trái tim cũng như dồn nén lại những niềm hoan lạc.
Thật là kỳ diệu. Ôi! lấp loáng! Ôi vĩnh cửu! Ôi từ trường tâm linh!…nhà sư trẻ mãn nguyện kêu lên.
Nhà sư trẻ nguyện giữ trọn lời thề giới vị thiền Phật Chân lý. Chàng cũng vạm vỡ, nên nhiều lần đi cùng bạn đồng tu trong thiền viện trên đường dẫn đến Am Các, hay trong những cánh rừng thông nằm sâu trong hẻm núi và bờ biển, bạn đồng tu thường chê mắng nhà sư trẻ:
Thích Nguyên Đại! – Họ nói. -Người cha yêu dấu của anh đã tích góp được bao nhiêu của cải, anh được tuỳ nghi sử dụng. Thế nhưng tại sao anh không mở một tu viện cho dân chúng, những tu viện như những nơi khác có thể làm nơi sinh hoạt đẹp hơn cho các chư vị tăng sư được mời đến chiêm bái? Không có lý nào lời nhắc nhở của bạn theo những người ích kỷ, vụ lợi, điều mà một người có điều kiện như anh có bổn phận phải làm! Hãy thử một lần suy nghĩ, khối tài sản khổng lồ là phước lành quý báu của trời đất, sao anh lại tỏ ra coi nhẹ chúng như vậy!
Thích Nguyên Đại gắng gượng hỏi lại họ:
– Xin các bạn hãy nghe tôi, không có lý nào có thể dùng các phước báu của trời đất mà mua được Chân lý tuyệt diệu cả?
Vì vậy mà không ít người tỏ ý chê bai nhà sư trẻ, nhưng một trong số những người bạn có mặt hôm đó lại nghĩ rằng nhà sư trẻ đã trở thành một người dẫn đường lý tưởng, có thể còn đáng tôn vinh hơn cả chính Bồ tát vĩ đại.
Còn nhà sư trẻ vẫn sống khổ hạnh.
Nhưng thay vì đó một đêm nọ, khi chàng rời tay khỏi tấm khăn che phủ lần cuối cùng lại biến thành bồ câu bay vút vào khoảng không gian vô định và bồ tát Quan Thế âm lại thị hiện rực rỡ trước mắt nhà sư trẻ.
Sư ông trước kia vốn là một thanh niên thanh nhã. Những bậc quyền cao chức trọng ở xứ sở này, các triết gia, sử gia, những nhà hùng biện khôn khéo và thi sĩ tài hoa đều khát vọng làm thân với nhà sư để thông qua việc quan sát tu hành của sư ông lại được gần gũi hơn với cái vẻ núi rừng hoang sơ của những khuôn hình cổ xưa.
Nhưng sư ông đều khước từ mọi thứ quà tặng xa hoa lãng phí, sự đón tiếp nồng hậu, trọng thị và tinh thần cầu tiến của họ, có vẻ như lúc này không đúng lắm.
Các thiếu nữ thường xuyên tụ tập ở bãi biển trước thiền viện hay dùng những bím tóc hút hồn vây bọc nhà sư trẻ trong những vòng tay ân ái. Các phụ nữ xinh đẹp như tiên nữ giáng trần ném xuống từ trời cao vô vàn thứ trân bảo quý báu dưới chân nhà sư trẻ những lá cây dùng trong ngày lễ Phật Đản hoặc cố tình nói gì đó vào tai sư ông thông qua những bông huệ trắng đang đua nở và các vòng hoa với những lời hôn hít âu yếm và ngọt ngào như tiếng sáo thiên thai.
Nhưng tất cả đều trở nên vô ích.
Đến đấy nào. Hãy đến với em đi nào, nhà sư trẻ. – Cô gái xinh xẻo nhất trong đám trinh nữ xứ sở thần tiên, một báo thân thực sự của tiên nữ tài sắc Hằng Nga bảo nhà sư trẻ. – Đôi mắt em sáng như vì sao đêm, tóc em thơm phức như hương nhài, lòng em dịu dàng như Mỵ Nương. Nào hãy đi cùng em nào Thích Nguyên Đại.
Nhưng Thích Nguyên Đại chỉ mỉm cười buồn bã đáp:
Cánh chim đó, hỡi Thiền Phật, đã rời khỏi vòng tay và bay đi mãi mãi rồi.
Và cánh chim bồ câu kia quả tình đã rời khỏi nhà sư trẻ trong đêm huyền ảo cuối cùng.
Năm tháng cứ nối tiếp nhau trôi qua trong những đám mây về mùa đông của vị thần gió bắc cuồng nộ thường mang tới những dãy núi Am Các dốc dác bay qua nhanh chóng bầu trời xứ sở về miền biển cả. Từ một cậu bé nhỏ tuổi, Thích Nguyên Đại bỗng chốc trở thành một sư ông đầy đức hạnh. Hiếm có khi nào nhà sư tham dự vào những cuộc tranh luận gay gắt của các triết gia, hiếm khi nào nhà sư trẻ phát biểu về những vấn đề nóng bỏng, tuy nhiên trong thành phố người ta bắt đầu mến mộ danh hiệu của nhà sư vì những lời nói nhẹ nhàng, trí tuệ mẫn tiệp của nhà sư trẻ. Nhiều lần dân chúng đã đề nghị nhà sư trẻ giữ những địa vị quan trọng, những người thân quen và đồng niên năn nỉ nhà sư nắm giữ bánh lái của con thuyền quốc gia, chèo nó vượt qua sóng biển đá ngầm và thác nước để đưa đến bến bờ vinh quang bình yên. Nhưng nhà sư đã nhìn thấy ở đây một đời sống đang dần bị hoại diệt, tình yêu tổ quốc đã bị nhấn chìm giữa những hận thù và sự tranh giành giả dối của muôn nghìn thế lực, sự cảnh báo của nhà sư, giống như những hạt giống bị đày ải đã chết khô trong mùa nắng gió, được gieo xuống một mảnh đất hoang hoá tàn lụi, vì vậy nhà sư bằng cách nào đó cố gắng tránh xa quyền lực như lời nhà sư đã cầu nguyện. Và một lần nữa, khi đám đông dân chúng gần như bắt buộc nhà sư phải đứng đầu trong số họ, nhà sư thảng thốt kêu lên:
– Ôi, hỡi người dân của vùng đất bão tố. Các người chính là kẻ thù của nhau từ muôn kiếp. Là một người chỉ biết phụng sự tôi chỉ có suối lệ dành cho các ngươi nhưng giá như có là vị Phật toàn năng đi chăng nữa, tôi cũng chẳng có cách nào, chẳng thể nào chỉ huy nổi các người đâu! Nam mô Quan thế âm bồ tát.
Tuy nhiên ngay khi công cuộc nổi loạn bùng nổ, nhà sư vẫn cùng với đám dân chúng lại vùng lên bảo vệ thành quách quê hương bền vững và lúc trở về mình mang đầy thương tích, tật bệnh. Nhưng khi người ta tặng vòng hoa cho những người gan dạ nhất tại nơi đây, nhà sư đã không có mặt trong hàng ngũ những đám con dân đó và không có phép bất cứ người nào tùy tiện khắc tên mình trên tấm biển băng đồng trong ngôi miếu thờ.
Nhà sư trẻ coi sự vinh quang còn cao cả hơn cái mà đáng lý ra mình đã có thể giành được trong cuộc chiến quyền lực. Khi về già nhà sư dùng những thứ vật dụng cây cỏ trên đỉnh Am Các dựng cho mình một túp lều gần mỏ đá chỗ thầy mình – Khuông Việt Đại sư Ngô Chân Lưu tu hàng, nhà sư từ bỏ mọi sự xa hoa, xa lánh cuộc sống thế tục của mọi người. Dần dà ở khắp tỉnh thành, người ta lãng quên tên nhà sư, và nếu khi nào nhà sư vào chợ để mua một chút lương thảo và dầu thắp nến thì ngay cả những người quen biết cũng không còn nhận ra nữa.
Và cư thế nhà sư sống trong độc canh, độc cư, kiêu hãnh, vùi chôn trong lòng và đắm chìm trong một cõi cô tịch tuyệt đối, lớn lao nhưng hạnh phúc và thanh bình.
Vài mùa lễ Phật Đản nữa đi qua. Nước thời gian đã nhuộm tóc Thích Nguyên Đại trắng như mây trên núi, lưng còn đứng thẳng được nữa, chòm mắt trũng sâu như một cái hố đen và tuổi già đã rút cạn trí lực nhà sư. Nhà sư chỉ còn tin ở một ý nghĩ rằng nếu không lâu nữa mình phải từ bỏ cuộc sống dương thế, thì sau đó thế nào mình cũng phải được chạm đến được Chân giá trị cao cả nhất. Người mẹ vĩnh cửu của mọi thứ trường tồn trên đời còn lại.
Thậm chí bây giờ đôi khi Nhà sư cũng thầm nhủ rằng, nếu các vị tiên nữ trên đỉnh núi Linh Sơn huyền diệu không chia lìa sợi dầy đời của mình thì chàng sẽ quay trở về thành phố, đối với mọi dân chúng và sẽ mang lại cho họ nhiều hơn những gì mà các vị phật, bồ tát có được.
Rồi cuối cùng cũng đến một đêm huyền thoại huy hàng nhất, đêm đó Bồ tát Quan thế âm nắm lấy tay Thích Nguyên Đại bay lên chín tầng trời và đối trước mặt Thiền Phật Chân lý:
Hãy nhìn xem, – vị bồ tát bảo, – Thiền Phật đang tự thiêu đốt và đang chiếu sắc vàng rực rỡ. Nhưng trước khi ngươi có thể vươn tới lần cuối cùng, hay nghe lời ta sắp nói ra đây. Những tấm vải che kín kia mà suốt chừng ấy năm trôi qua đã rời khỏi tay ngươi như những con bồ câu, nó chính là những ảo ảnh của kiếp người mong manh. Nếu bây giờ nhà ngươi nuối tiếc điều nuối tiếc cuối cùng, nếu sợ hãi đảm đang dần dần xâm lấn trái tim ngươi, thì hãy lùi lại khi còn thời gian, ta sẽ mang ngươi khỏi chín tầng trời cao vòi vọi này để ngươi có thể cùng mọi người chung sống nốt quãng đời còn lại của mình từ phía bên sự sống.
– Không! Cả cuộc đời tôi đã nguyện dấn thân cho con đường chân lý tuyệt cả, chính là giây phút này đây.
Rồi nhà sư tiến lại gần pho tượng thạch anh đang bốc chảy rừng rực, tim đập thình thịch, chớp mắt, tay run rẩy đón lấy tẩm vải che cuối cùng, khẽ khàng giật xuống và ném ra phía đằng xa.
Nhưng bất chợt có một điều gì đó xảy ra thật khủng khiếp.
Trong một tích tắc ấy, dường như có một âm thanh vang dội, hình như là tiếng sét đã đánh thẳng vào mắt cá chân Thích Nguyên Đại, và một màn đêm kinh hoàng trùm phủ không gian đến nỗi so với đêm đen còn tối hơn cả địa ngục A -tỳ cũng vẫn là một ngày đẹp trời.
Trong đêm đen dày đặc đó vang lên tiếng kêu la đầy thảm thiết và khiếp đảm không thể diễn tả và nỗi đau đớn vô cùng của Thích Nguyên Đại.
Hỡi Quan thế âm bồ tát! Sao chẳng có chân lý gì dưới bức màn che cuối cùng, sao tôi chẳng được nhìn thấy một điều gì.
Đáp lại tiếng kêu trăng trối tuyệt vọng đó là những lời nghiệt ngã của vị Thiền Phật:
– Đôi mắt ngươi đã bị chọc thủng bởi ánh sáng của vị thần toàn giác và và ảo ảnh cuối cùng của ngươi đã biến mất đi rồi, cảnh tưởng rằng một kẻ người trần mắt thịt có thể nhìn thấy trí tuệ đều không có bức màn che phủ.
Cõi mênh mông bao trùm.
– Người lừa lọc kẻ đã khéo léo dụ dỗ niềm tin nơi Người! – Thích Nguyên Đại rên riết kêu lên, và Người đã lừa lọc chính cả tôi, hỡi ôi thiền phật khôn ngoan và vĩ đại.
Nhưng dường như chẳng bao giờ tôi có được nhìn thấu vị Phật toàn giác và Chân lý cao cả, xin làm ơn hãy gửi thần đến chỗ tự do tự tại cho tôi.
Và sự nỗi tiếc vượt xa khả năng của người trong giọng nói xúc động của Thích Nguyên Đại đã khiến ngay cả Bồ tát Quan thế âm cũng động lòng trắc ẩn. Đặt tay lên bờ vai khổ hạnh của Thích Nguyên Đại và cùng với Thần chết của số phận là niềm an ủi cuối cùng, rằng một khi Thần chết đã ru ngươi ngủ, ngươi sẽ được nhìn thấy cuộc sống thật đã làm lòa đôi mắt ngươi.
Giữa mênh mông đêm tối nhạt nhoà và trời hửng sáng, những hoàng hôn của buổi chiều tà đỏ mọng và ảm đạm. Từ những đám mây giông tố nặng trên bầu trời bắt đầu rơi tả lả những đêm mưa xuân đẹp đẽ và thánh thót, dày đặc phủ lên thân hình nhỏ bé của sư ông.
Mùa hè Am Các
V.M.P












