PHẠM ĐÌNH THÀNH
(Vanchuongphuongnam.vn) – Nếu Nguyễn Du trong Truyện Kiều từng khắc họa bốn mùa bằng bút pháp ước lệ cổ điển, thì Phạm Thiên Thư lại vẽ bốn mùa bằng một thi pháp hiện đại hơn, giàu trực giác và cảm giác. Ông không đi theo lối mô tả quen thuộc của thơ truyền thống. Hạ trong thơ ông không rực lửa; thu không lá vàng hiu hắt; đông không rét buốt quạnh hiu; xuân cũng không tràn ngập tiếng reo vui. Các mùa hiện ra như những miền cảm xúc nội tâm hơn là những thực thể tự nhiên.

Tác giả tại nhà riêng của nhà thơ Phạm Thiên Thư.
Mai anh chết dưới cội đào
Khóc anh xin nhỏ lệ vào thiên thu
Động hoa vàng của nhà thơ Phạm Thiên Thư có lẽ đã trở thành một miền ký ức khó phai đối với người yêu thơ miền Nam trước năm 1975. Người yêu nhạc lại càng mê đắm ca khúc “Đưa em tìm động hoa vàng” của nhạc sỹ Phạm Duy – một bản phổ nhạc được chắt lọc từ những câu thơ đẹp nhất trong thi phẩm này. Nhưng vượt lên trên sức lan tỏa của âm nhạc, Động hoa vàng trước hết vẫn là một hiện tượng thơ độc đáo của văn học Việt Nam hiện đại, nơi Phạm Thiên Thư tạo dựng cho mình một cõi thơ riêng: vừa bảng lảng thiền vị phương Đông, vừa phóng khoáng trong cảm thức hiện đại.
Tập thơ gồm bốn trăm câu lục bát chia thành một trăm đoạn ngắn, nhưng gần như đoạn nào cũng thấp thoáng một ánh sáng thi ca riêng biệt. Đặc biệt, hình tượng bốn mùa xuất hiện với tần suất dày đặc: mùa xuân 15 lần, mùa hạ 3 lần, mùa đông 11 lần và mùa thu nhiều nhất với 19 lần. Điều đáng nói là ở Phạm Thiên Thư, bốn mùa không chỉ là tín hiệu thời gian mà đã trở thành một hệ mỹ cảm, một cấu trúc biểu tượng mang tính thi pháp.
Thi thoảng trong tập thơ, nhà thơ nhắc đến mùa rất tự nhiên, gần như chỉ để ghi nhận một vòng quay đời sống. Nhưng chính sự giản dị ấy lại tạo nên cái duyên riêng cho thơ:
Đất nam có lão trồng hoa
Mùa hoàng cúc nở ướp trà uống đông
Lại đem bầu ngọc ra trồng
Bầu khô cất nậm rượu hồng uống xuân
(Đoạn 31)
Cái thú “uống đông”, “uống xuân” ở đây không chỉ là thú tao nhã của người xưa mà còn gợi một quan niệm sống mang màu sắc Đông phương: con người hòa nhập với tiết điệu của đất trời. Mùa không đứng ngoài đời sống mà đi vào chén trà, bầu rượu, thấm vào nhịp sinh hoạt thường ngày. Ẩn sau những câu thơ tưởng như mộc mạc ấy là tinh thần “thiên nhân tương dữ”, nơi con người giao cảm với tự nhiên như một phần máu thịt.
Sự hồi tưởng về những tháng ngày yêu thương vốn thường được nhiều thi sĩ gắn với tà áo thiếu nữ. Nguyên Sa nhớ người yêu “bởi vì em mặc áo lụa Hà Đông”, rồi từ màu áo mà yêu luôn cả sắc hoa, màu lá:
Áo nàng vàng tôi về yêu hoa cúc
Áo nàng xanh tôi mến lá sân trường…
Còn Phạm Thiên Thư lại đặt sắc áo người yêu trong dòng chảy bốn mùa:
Ngày xưa em chửa theo chồng
Mùa xuân em mặc áo hồng đào rơi
Mùa thu áo biếc da trời
Sang đông em lại đổi dời áo hoa
(Đoạn 8)
Ở đây, thời gian không còn là khái niệm trừu tượng mà trở thành màu sắc. Mỗi mùa là một gam màu trên thân thể người thiếu nữ. Thi pháp ấy khiến hình tượng nhân vật trữ tình mang vẻ đẹp vừa thực vừa mộng. Nhà thơ không miêu tả trực tiếp nhan sắc mà để mùa thay mình nói hộ. Chính sự “thi vị hóa thời gian” ấy đã làm nên nét tài hoa của Phạm Thiên Thư.
Nếu mùa thu trong thơ ca truyền thống thường gắn với nỗi buồn ly biệt, với gió heo may và tiếng mưa ngâu, thì mùa thu trong thơ Phạm Thiên Thư lại mang một vẻ đẹp rất khác: nhẹ, xanh và trong trẻo:
Em nằm ngó cội thu xanh
Môi ươm đào lý một nhành đôi mươi
Về em vàng phố mây trời
Tay đơm nụ hạ hoa dời gót xuân
(Đoạn 21)
“Thu xanh” là một sáng tạo ngôn ngữ đặc biệt. Về logic thị giác, thu thường gắn với sắc vàng; nhưng ở đây nhà thơ cố tình phá vỡ quán tính liên tưởng quen thuộc để tạo nên một trường nghĩa mới. Mùa thu không tàn phai mà mang màu của tuổi trẻ, của thanh xuân chưa úa. Chính sự chuyển đổi cảm giác ấy đã cho thấy khuynh hướng tượng trưng và siêu thực thấp thoáng trong thơ ông.
Đến đoạn:
Chim nào hát giữa thôn hoa
Tay nào hong giữa chiều tà tóc bay
Lụa nào phơi nắng sông tây
Áo xuân hạ nọ xanh hoài thu đông
(Đoạn 25)
cái đẹp dường như đã đạt đến độ phi thời gian. “Xanh hoài thu đông” không chỉ là màu áo mà còn là biểu tượng cho vẻ đẹp vượt thoát quy luật tàn phai. Thi pháp lục bát của Phạm Thiên Thư ở đây không đi theo lối kể mà nghiêng về gợi. Câu thơ mở ra nhiều khoảng trắng liên tưởng hơn là khép lại bằng một ý nghĩa xác định.
Một đặc điểm nổi bật khác là nhà thơ thường đặt bốn mùa bên dòng sông. Trong thi ca Việt Nam, sông vốn là biểu tượng của thời gian, của nỗi nhớ và sự lưu chuyển. Nhưng ở Phạm Thiên Thư, dòng sông còn là nơi hội tụ cảm xúc thẩm mỹ:
Con chim mùa nọ chưa chồng
Cũng bay rời rã trong dòng xuân thu
Từ em giặt áo đông tơ
Nay nghe lòng suối hững hờ còn ngâm
(Đoạn 26)
và:
Em nghiêng nón hạ cầu mưa
Sông ngâm mây trắng nước chưa buồn về
(Đoạn 30)
Sông hạ trong thơ ông không dữ dội mà trong xanh, dịu nhẹ, đủ để mây trắng soi bóng mình. Đó là vẻ đẹp của một tâm hồn không bi lụy. Nếu Hàn Mặc Tử từng nhìn thấy “mây chết đuối giữa dòng sông vắng lặng”, thì Phạm Thiên Thư lại nhìn thấy một dòng sông biết “ngâm mây trắng”. Thiên nhiên trong thơ ông luôn mang trạng thái giao cảm hiền hòa, như thể vạn vật đều có linh hồn.
Khi mùa thu hiện ra, dòng sông lại trở nên bảng lảng cổ điển:
Thuyền ai buông lái đêm rằm
Sông thu ngân thoảng chuông trăng rì rào
(Đoạn 27)
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Bên cạnh hệ thống hình ảnh giàu chất họa, nghệ thuật tu từ trong thơ ông cũng đặc biệt tinh tế. Phép đối ngữ xuất hiện tự nhiên mà vẫn tạo được độ ngân:
Cuối xuân ta lại tìm qua
Tiểu thư chi mộ thềm hoa dại tàn
Sớm thu ta đánh đò sang
Bên đường cỏ mộ lại vàng cúc hoa
(Đoạn 65)
“Cuối xuân” đối với “sớm thu”, “thềm hoa dại tàn” đối với “cỏ mộ vàng cúc hoa”, tất cả tạo nên một nỗi ngậm ngùi nhẹ mà sâu. Đó không phải nỗi đau dữ dội của mất mát, mà là cảm thức vô thường rất gần với tinh thần Phật giáo trong thơ Phạm Thiên Thư.
Dường như ông còn chủ ý làm mới cấu trúc lục bát bằng những đảo ngữ bất ngờ:
Đón em như ngóng chim trời
Bãi xuân sớm đậu chiều dời khói thu
(Đoạn 69)
“Bãi xuân”, “khói thu” được đặt trong một trật tự cú pháp khác thường, khiến câu thơ vừa có độ chênh của hội họa siêu thực vừa giữ được nhạc điệu mềm mại của lục bát truyền thống. Có thể nói, Phạm Thiên Thư là một trong những người đã góp phần hiện đại hóa lục bát mà không làm mất đi hồn cốt dân tộc của thể thơ này.
Nghệ thuật nhân hóa bốn mùa cũng là một nét đặc sắc:
Mùa xuân bỏ vào suối chơi
Nghe chim hát núi gọi trời xuống hoa
(Đoạn 34)
và:
Mùa xuân mặc lá trên ngàn
Mùa thu mặc chú bướm vàng tương tư
(Đoạn 49)
Ở đây, mùa xuân và mùa thu hiện lên như những thiếu nữ biết “mặc”, biết “chơi”, biết làm duyên cùng cỏ cây. Thiên nhiên không còn là phông nền mà trở thành một sinh thể sống động. Điều đó cho thấy cái nhìn vạn vật hữu linh rất rõ trong thơ ông.
Nếu Nguyễn Du trong Truyện Kiều từng khắc họa bốn mùa bằng bút pháp ước lệ cổ điển, thì Phạm Thiên Thư lại vẽ bốn mùa bằng một thi pháp hiện đại hơn, giàu trực giác và cảm giác. Ông không đi theo lối mô tả quen thuộc của thơ truyền thống. Hạ trong thơ ông không rực lửa; thu không lá vàng hiu hắt; đông không rét buốt quạnh hiu; xuân cũng không tràn ngập tiếng reo vui. Các mùa hiện ra như những miền cảm xúc nội tâm hơn là những thực thể tự nhiên.
Đó chính là nét riêng không thể trộn lẫn của Phạm Thiên Thư. Ông không chỉ “tả cảnh” mà còn “tạo cảnh”. Bốn mùa trong Động hoa vàng là bốn miền tâm tưởng, nơi hiện thực được gạn lọc qua cảm giác và trực giác nghệ sĩ. Có lẽ vì thế mà thơ ông luôn đẹp như một giấc mộng, mong manh mà ám ảnh.
Và nếu cần một lời lý giải vì sao mùa ở đây lại nhẹ nhàng, thanh thoát đến vậy, thì có lẽ câu trả lời giản dị nhất vẫn là: bởi đó là bốn mùa trong “Động hoa vàng”, một động thi ca lục bát mang tên Phạm Thiên Thư.
Sài gòn, mùa hè 2015
Tưởng tiếc nhà thơ Phạm Thiên Thư (4/1/1940 – 7/5/2026)
P.Đ.T











