Tập thơ 1-2-3 đậm nhân tính nữ Thị à thị ơi của Phạm Thị Hồng Thu

Đỗ Nguyên Thương

(Vanchuongphuongnam.vn) – Nhà thơ Phạm Thị Hồng Thu – Hà Nội, sinh ta ở Vinh (Nghệ An) nhưng quê quê quán ở Tuy Hòa, Phú Yên- miền đất của bạt tràn nắng, gió. Chị vốn là nhà giáo, Hội viên Hội Nhà văn Hà Nội, rất yêu thơ 1-2-3 và sáng tác thơ 1-2-3 từ năm 2020. Năm 2024 chị trình làng tập thơ đầu tay theo thể 1-2-3 và là tập thơ thứ 6 trong “Hành trình thơ” của chị.

Tác giả Đỗ Nguyên Thương

Phạm Thị Hồng Thu đã xuất bản các tập thơ: “Về miền nhớ”, “Sắc chiều”, “Trái tim thì thầm”, “Vịn câu thơ”, “Thị à thị ơi” và một truyện thơ dành cho thiếu nhi “Truyện cổ nước Việt”. Nhìn vào “gia tài” thơ của chị, có thể thấy chị vốn gắn bó với thơ, với tình yêu con người, yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống. Bên cạnh khá nhiều bài thơ, tập thơ truyền thống, chị xuất bản tập 1-2-3 gồm 123 bài thơ vào Quý 1 năm 2025, như một niềm tin khai mở năm 2025 sẽ nhiều thành tựu, đẹp như sắc tím trang bìa tập thơ.

Không chỉ Phạm Thị Hồng Thu yêu thơ 1-2-3, tôi cũng là một trong số hàng ngàn tác giả đã thử nghiệm trên mảnh đất mới tươi đẹp này.

“Thơ 1-2-3 mỗi bài thơ là một chỉnh thể độc lập gồm 3 đoạn 6 câu.

Đoạn 1 chỉ có 1 câu, tối đa 11 chữ, đồng thời cũng là tên bài thơ, nhằm tránh trùng lắp tên những bài thơ đã xuất hiện.

Đoạn 2 có 2 câu, với mỗi câu tối đa 12 chữ.

Đoạn 3 có 3 câu, với mỗi câu tối đa 13 chữ.

Chữ càng tinh lọc, càng đa nghĩa càng có giá trị.

Đề tài thơ 1-2-3 hoàn toàn tự do, nội dung chủ yếu đi từ ngoại cảnh dần vào chiều sâu nội tâm tác giả muốn biểu hiện.

Đặc biệt khuyến khích tính độc lập từng câu thơ trong mối tương quan toàn bài, đồng thời giữa câu 1 và câu 6 có tính hô ứng để nội dung bài thơ chặt chẽ, thống nhất trong một không gian thẩm mỹ riêng biệt.

Không khuyến khích biến thể các loại thơ truyền thống: lục bát, song thất lục bát, tứ tuyệt, ngũ ngôn, lục ngôn, thất ngôn… thành thơ 1-2-3”.

Nhà thơ Phạm Thị Hồng Thu quan niệm: “Mỗi bài thơ 1-2-3 chỉ có sáu câu, kể cả nhan đề. Với số lượng chữ hạn định mà chuyển tải thông điệp muôn màu muôn vẻ của cuộc sống và tâm hồn thật không dễ. Vì thế nó càng có sức hút, thôi thúc người cầm bút khám phá, vượt lên chính mình”.

Và chính bởi thôi thúc khám phá, vượt lên chính mình nên tập thơ Thị ơi thị à ra đời như một thông điệp, một tín hiệu vui cho hành trình thơ 1-2-3 của chị.

Tập thơ Thị à Thị ơi

Trước hết tôi yêu con số 123. Tập của Chị Hồng Thu 123 bài, Tập Thủ thỉ phù sa của Nguyễn Đinh Văn Hiếu 123 bài và tôi cũng sẽ trình làng tập thơ 1-2-3 có 123 bài vào Quý I năm nay.

Số 123 là số tiến, nó có sự gần gũi, tương xứng với tên gọi của tên gọi thể thơ 1-2-3

Mở đầu tập thơ là bài “Trăng thánh thót, thánh thót” và kết thúc là Thật mau nước mắt. Có dụng ý chăng? Từ lâu, trong tôi hình thành thói quen, không đọc thơ theo trật tự tuyến tính, mà đọc danh mục trước, rồi chọn bài mình thích. Tất nhiên, sau đọc điểm sẽ đọc toàn văn.

Và, tôi thừa nhận cảm quan của mình không sai, bài số 1 “Trăng thánh thót, thánh thót”, thoạt nghe ngỡ đơn thuần tả ánh trăng. Trăng đẹp, sáng, dịu êm sẽ tràn lân cỏ cây, vạn vật và con người. Nhưng giọt trăng là hình tượng của giọt nước mắt, giọt nước mắt đàn bà có nỗi niềm uẩn khất….

Trong lời tựa của tập thơ Thị à thị ơi, Nhà thơ Phan Hoàng viết: “Hình ảnh người phụ nữ thông qua nhân vật “thị” xuất hiện xuyên suốt tập thơ Thị à thị ơi của Phạm Hồng Thu vừa có tính độc lập trong từng bài vừa có tính kết nối trong toàn tập như bản trường ca về thân phận người đàn bà trước bộn bề, đa đoan, phức tạp, giông bão cuộc đời”. Quả thực, nhân vật “thị” dẫu có những cung bậc cảm xúc khác nhau, khi buồn, khi vui, khi rộn rã mê say khi âm thầm chịu đựng, nhẫn nhịn nhưng tựu chung đều đáng thương. Nguồn cơn do đâu? Từ từng trải hay tích lũy kinh nghiệm sống, quan sát bề rộng, bề sâu của kiếp đời đa đoan mà nhà thơ phản ánh những nỗi niềm ấy?

Thị trong thơ Phạm Thị Hồng Thu, nếu độc lập thì có bài vui bài buồn nhưng tỷ lệ bài buồn, thậm chí đau khổ, uất hận, hận chồng đào hoa, không chung tình, không tôn trọng vợ; hận đời đến mức có lúc muốn đi tu, có lúc muốn thôi kiếp sống vật vã đọa đày. Nếu xâu chuỗi cả tập thì Thị cũng vẫn hiển hiện là nhân vật buồn, đau nhiều hơn sung sướng.

Khổ về vật chất cũng có nhưng khổ tinh thần nhiều hơn.

Khổ vật chất….

Khổ tinh thần khi “Bố bán thị lấy tiền cờ bạc”, khi mẹ đơn thân vì con cái mà nhắm mắt bước qua thị phi.

Khổ tinh thần khi đi bên cái chết, chứng kiến “Chiến tranh khốc liệt, thị khóc ngằn ngặt bên xác mẹ”, rồi “Thị tật nguyền lớn lên theo đôi quang gánh xiêu vẹo của bà”, rồi một ngày bất hạnh, bà lại “ra đi lặng lẽ trong một ngày nắng đổ”. Cuộc sống sẽ cực kỳ gian nan khi mất mẹ, sống với bà, rồi lại mất bà…

Lớn lên, thị cũng đâu thoát được kiếp nhọc nhằn khổ ải?

Khổ tinh thần khi tình yêu ngang trái

Khổ tinh thần khi lấy chồng không được trân trọng, không được yêu thương, đã cực thân, vất vả lại hay bị xét nét. Mẹ chồng xét nét, chồng xét nét. Nước mắt thị chảy nhiều, nhiều tới cạn khô và nước mắt chảy vào trong.

Đâu đã hết khổ, con trai phá, con dâu hư đốn bỏ đi theo người khác rồi lại quay về…

Thị ki cóp được bao nhiêu tiền, lo hết cho con trai mua nhà ở thành phố, con chỉ biết hưởng thụ, không quan tâm nỗi cô đơn của mẹ.

Có lúc người đọc thấy logic, liền mạch cuộc đời thị (từ nhỏ chịu nhiều thiệt thòi, mất mát, lớn lên không gặp may, chồng con không như ý, còn trủ khổ lên thị nhiều lần so với thị lúc còn thơ bé). Nhưng, có khi thấy như vài nhân vật thị chứ không phải một. Đó là thị cả nghĩ khác thị cả tin; thị thấp cổ bé họng khác thị quyền lực nhìn đời bằng nửa con mắt… Khi là thị bị phản bội, khi là thị phản bội chồng con.

Và có thị cô đơn, có thị hạnh phúc vỡ òa “Hạnh phúc vỡ òa/ Con mất tích bao năm/Vò võ chờ mong không còn hi vọng/Rồi đột ngột con về, xuân ngập tràn ùa về nhà/ Hạnh phúc dâng trào/ Xin cám ơn tất cả”. Rồi có khi thị ngập tràn hạnh phúc,  Hạnh phúc đoàn viên, hạnh phúc khi “Đời thị sang trang/ Nhà vui hơn Tết/ Mong mãi bình an”.

Dẫu là một thị hay thị phân thân thành nhiều mảnh đời, nhiều cảnh ngộ trái ngang thì tất cả cũng là một phiên bản đàn bà. Đàn bà trong thơ của Phạm Thị Hồng Thu, nhìn chung khổ, nhìn chung ngang trái. Tuy nhiên, điều trân quý ở đây, thị khổ nhưng không cam chịu như nhân vật Mỵ trong Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài. Thị khổ nhưng không chửi “Chém cha cái kiếp lấy chồng chung” như Hồ Xuân Hương, vì thực chất thị không phải lấy chồng chung. Nhưng, chồng thị phản bội thị, thị biết con giáp thứ 13, thị biết chồng “đào hoa” không chung tình. Nhân vật đàn ông (chồng) của thị cũng được lột tả bằng ngòi bút không thể yêu thương. Đó là người khi thì trong vai: Cố giữ hình ảnh gia đình không tan vỡ để bảo toàn “cái ghế”- bảo toàn chức vụ ở cơ quan. Khi thì phản bội thị bởi sự dối trá hoặc coi thường… Có khi thị câm nín, “trái tim mỏi” (dẫn chứng…..) không buồn lên tiếng, thậm chí có lúc chán ngán cuộc sống hiện tại, định đi tu, định quyên sinh. Và tất nhiên, có khi thị phản kháng, thị đánh lại tay chồng vũ phu, thị được học võ từ bé.

Những mảnh ghép đời thị nhiều mảng màu trầm tịch, u tối. Khi thì mỏi mệt chờ chồng, khi thì muốn trả thù bằng cách “Ông ăn chả bà ăn nem”, nhưng về lại phải giấu nhẹm và day dứt.

Thơ 1-2-3 của chị Phạm Thị Hồng Thu nhiều bài như chắt ra từ tâm can, cất lên tiếng nói phản kháng với những trái ngang của cuộc sống, muốn được bình quyền, muốn được hạnh phúc đích thực vì thực chất thị xứng đáng được hưởng hạnh phúc; chăm sóc chồng con, hy sinh vì chồng con đến quên đi cả nhu cầu ăn ngon mặc đẹp của bản thân, tiết kiệm đến mức tằn tiện để lo cho cuộc sống. Ấy vậy mà, chồng không chia sẻ còn bĩu môi dè bỉu chê bai.

Thơ của chị Phạm Thị Hồng Thu có những bài đảm bảo bố cục nhưng chưa chặt về cấu tứ. Bên cạnh đó, nhiều bài đạt đến độ chín của thơ 1-2-3, có được sự hô ứng giữa câu 1 và câu 6

“Thật mau nước mắt/Xem ti vi, đọc sách thị gàn dở khóc người đẩu đâu/Con cái ốm đau trào tuôn nhức mắt, hoài hoài lo lắng/Giọt châu mài gối trắng đêm khi tổ chẳng còn hơi ấm/Rồi một ngày nỗi đau hóa đá/nước mắt lặn vào trong”.

Đ.N.T