Aliss bên đám lửa- Người mất tích có trở về?

Lê Lâm

(Vanchuongphuongnam.vn) – Jon Fosse sinh năm 1959, tại miền tây Na Uy. Tác phẩm: 39 tiểu thuyết & truyện ngắn, 40 vở kịch, 13 tập thơ & sách thiếu nhi, được dịch ra hơn 40 thứ tiếng & được Dailly Telegraph xếp hạng thứ 83 trong danh sách 100 thiên tài còn sống đến năm 2007. Giải thưởng: Pulitzer 1993 với Hương thơm từ núi lạ (A Good Scent from a Mountain). Từ năm 2013 đã trong danh sách dự đoán giải Nobel …

Tiểu thuyết Aliss bên đám lửa

Sighe mất chồng đã 23 năm nhưng cô cứ chờ đợi, tin rằng anh còn ở đâu đó, chứ chưa thể mất trong một đêm tối trời đầy giá rét vào cuối tháng 11 trên vịnh hẹp, trước cửa ngôi nhà có con đường nhỏ dẫn ra con đường lớn. Hai người lấy nhau chưa có con. Vả lại biết anh thường ra vịnh có khi ngày 2 lần trên con thuyền nhỏ với thói quen lúc thích câu cá, lúc buông lưới, lúc thích tản bộ. Anh cũng là người dân sống ở vùng đất đến vài trăm năm, cũng là người quen thuộc thời tiết ở đây. Hơn nữa anh lại luôn gắn bó với cô, anh yêu cô tha thiết. Anh không thể mạo hiểm như thế, cũng không thể lấy lý do cứu con thuyền; con thuyền nào có quan trọng hơn tính mạng? Cô hết nằm trên ghế dài lại đứng bên cửa sổ, lúc dõi nhìn vào trong nhà lúc lại nhìn ra ngoài giữa mênh mông bóng tối, nơi hình hài con người cũng có màu đen khó phân biệt, rồi cuối cùng lại nhìn vào xem có còn lửa không, sợ anh về đột ngột bếp đã tàn rồi. Đồ đạc vẫn cũ kỹ như thế, không có gì thay đổi, nhưng với tâm trạng bất an lại hoài nghi tất cả thì cũng chẳng có ý nghĩa gì. Còn Asle cũng nôn nao không yên. Thời gian không đủ khỏa lấp nỗi nhớ người vợ trẻ, bởi cảm tạ tấm lòng cô nên thường khoác tấm áo len cô đan cho mùa đông đầu tiên cô làm vợ anh, mỗi khi bước chân ra ngoài. Dù ở nơi nào anh cũng hình dung ra thân hình nhỏ bé, mái tóc đen, cặp mắt to của cô. Anh luôn nghĩ đến hơi ấm phải dành cho cô mỗi khi trở về nên dù đã có sẵn lửa vẫn không quên cho củi vào bếp.

Thời tiết giá lạnh chỉ mong chờ vào ngọn lửa. Cái hơi ấm của lửa đã cho anh gặp lại kỵ Aliss trong sự che chở của những người đi trước dù đã trải qua 5 đời. Đáng nhớ là kỵ cũng đã có một người cháu chết đuối vào năm lên 7, người mà anh mang tên. Không những lửa ấm trong nhà, ngay trên vịnh lửa cũng không bao giờ được tắt, kỵ còn cầu Chúa phù hộ cho các cháu, và khi một người không may mất đi, kỵ cũng tin là sẽ được hạnh phúc khi trở về bên Chúa. Chính vì thế Signe cũng cảm nhận được sự che chở của kỵ. Trong khi chờ chồng, cô nhận ra kỵ cũng đã xuất hiện ở nhà cô. Tấm lòng kỵ rộng mở luôn dành sự yêu thương cho con cháu, khiến những người như Kristoffer, Brita cũng biết bằng mọi cách cần phải “chiến đấu” với sóng dữ để cứu được con người, và khi không cứu được thì niềm tin vào con người cũng là sự an ủi. Asle đã chết thì với những bậc cha mẹ luôn muốn duy trì sự sống cho mỗi thành viên trong gia đình, dù trẻ thơ bé bỏng vẫn không bao giờ mất. Chính sự ràng buộc giữa những con người trong một ngôi nhà đã làm cho phả hệ mãi trường tồn, ít nhất là trong niềm mong nhớ.

Rồi Asle chồng cô cũng trở về, như đã từng lom khom bước vào nhà; anh vẫn chăm lo đến mái ấm gia đình, lo làm ấm giường và khuyên cô đi nằm sớm, cũng là lúc nhân vật “tôi”, người dẫn truyện xuất hiện, đây cũng là lần thứ hai có người dẫn dắt người đọc, lần trước thì “tôi thấy Signe đang nằm đó trên ghế dài trong phòng và cô đang nhìn quanh những thứ quen thuộc…”; lần này thì “tôi nghe thấy Signe nói Lạy Chúa Con, cứu con, Người phải cứu con, Người”. Hóa ra niềm vui gặp gỡ cũng chỉ trong trí tưởng tượng của những người luôn mong ngóng.

Còn đời thực thì sao. Mái tóc cô đã ngả toàn màu xám, thân hình cô đã tiều tụy, già nua. Cô cũng không thể đi tìm hạnh phúc mới. Niềm tin anh sẽ trở về vẫn thường trực trong cuộc sống hàng ngày. Cô cũng chỉ biết chờ anh ngày này sang này khác bên khung cửa nhỏ hẹp hòa mình vào bóng tối. Thậm chí có lúc cô phải đứng ngoài trời mưa gió giá lạnh vì thấy trong nhà đang có người, vẫn là những chủ nhân hợp pháp dù đã cách nhau mấy thế hệ.

Sự chờ đợi đã không được đền đáp. Chỉ còn nỗi ân hận, đêm lúc anh ra với con thuyền mỏng manh mình đã không có mặt, mình cũng không chia sẻ được nỗi lo con thuyền bị bão xé nát khi không được neo giữ kỹ càng.

Còn thế hệ trước dù lo cho thế hệ sau luôn tạo ra lửa trong nhà và cả ngoài trời cũng không thể xua đi sự tăm tối. Ông chú Asle trước đã chết ở tuổi thơ, vẫn mơ những con thuyền chở hàng đi xa buôn bán, cũng không thể là niềm an ủi của người đi sau như Asle, chỉ mong trong nhà luôn có lửa, vắng mình thì người vợ cũng không phải chìm trong bóng tối, có khi cũng hòa lẫn vào bóng đêm với màu đen đặc trưng của dòng tộc từ màu tóc đến màu áo như mình.

Cách viết hậu hiện đại khai thác được không gian nhiều chiều, thời gian biến ảo cũng không giải thoát kiếp người khỏi số phận bi đát, thậm chí còn tăng chiều kích bản thể của sự cô đơn. Cuộc đời hiện sinh vẫn đang hiện diện. Cái vịnh hẹp không chỉ tạo ra cảnh chết chóc một thế hệ. Thế hệ đi sau có rút được kinh nghiệm của thế hệ đi trước cũng không là nơi an toàn trong tâm trạng của người đi xa. Người ở lại dù có tìm cách níu kéo người thân về phía mình thì sự nghiệt ngã của nghịch cảnh cũng không thể thoát khỏi sự chia ly, buồn bã. Kristoffer là cụ suýt chết đuối lúc 2 tuổi, nhưng được cứu, còn ông chú đang đón lễ sinh nhật vào năm lên 7 đã bị thần nước cướp mất. Đến lượt Asle ra đi không hẹn ngày về. Tất cả người trong gia đình đều không thoát được số phận hẩm hiu. Cứ quẩn quanh nơi ngôi nhà cũ, dù không đi đâu xa vẫn cứ phải hứng chịu đòn đau của số phận!.

Người đọc cũng bị tù túng chán nản ở các dòng chữ cứ lặp đi lặp lại một cách cố ý trong một thứ văn phong không lấy câu cú bình thường làm chuẩn mực. Sự im lặng, ngưng trệ vẫn là chuyện thường nhật. Có lúc người xem nghĩ phải đọc nhanh mới theo kịp các tình tiết, có lúc lại thấy phải đọc chậm để lần ra từng dấu vết, từng tiếng nói nếu không sẽ bị lạc. Cũng phải chú ý lắm mới nhận ra ai nói, hoặc đang nói về ai. Chính khó xác định ngoại cảnh, khó xác định đối tượng làm đảo lộn mọi trật tự. Không theo tuyến tính đã đành, ngay một lúc xuất hiện nhiều cảnh ngộ cũng phải tỉnh táo lắm mới nhận được điều đề cập thuộc về ai. Với người nóng vội có lẽ không quen với văn chương kiểu này. Nhưng với người cả nghĩ nhiều lúc cũng không đủ kiên nhẩn để đồng hành cùng nhân vật ở lối chữ nghĩa tưởng như tối giản. Là dòng ý thức, là sự phân thân nhưng ở đây đã được đẩy lên một bậc, khi khuynh hướng đứng cao hơn hiện thực chiếm vị trí chủ đạo. Chủ nghĩa hậu hiện đại dù xuất hiện đã lâu nhưng cũng không thể tạo nên sự thành công ở nhiều người như Jon Fosse đã làm, chính điều này càng lý giải sự ra đời của một khuynh hướng chỉ được chấp nhận khi có tác phẩm cụ thể. Tác giả đã dành toàn bộ sức lực cuộc đời để khẳng định nó. Thật khó cho tác giả cũng khó trong khâu tiếp nhận của người đọc. Ngay ở đây là “Aliss bên đám lửa”.

Nhưng khi đã chú mục, có sự kiểm soát tỉnh táo của trí năng, người đọc tự nhiên thấy “nghiện”. Phải nắm bắt được những điều không thể nắm bắt mới thỏa mãn trí tò mò. Bởi không dễ tạo ra trên bề mặt chữ nghĩa mọi sắc thái ý nghĩa của nó, nên cũng không thể dễ dàng để nó thoát ra ngoài, cứ như người trong cuộc sợ hơi ấm lọt ra giữa đêm hôm khuya khoắt. Tất cả đều nằm trong chủ định của tác giả.

Người đọc sẽ băn khoăn tự hỏi, cái đám lửa từ thời kỵ Aliss truyền lại cho đời sau, các thế hệ lại tiếp tục đốt lửa, rồi trong lễ Hạ chí ngay cả những đứa trẻ cũng hưởng ứng bằng cách đốt những con thuyền bị quăng quật tan nát chủ nhân của nó không trở về có đủ làm ấm cho những con người đang sống, cả khi lửa cháy to nhất. Cái ánh lửa có đủ sức xua tan bóng tối ở một nơi lạnh lẽo. Con người có cách gì để trong đêm đen tìm đường đi cho mình. Tất cả đều tù mù vô định. Các thế hệ dường như tìm cách xích lại gần nhau cùng đùm bọc nhau, nhưng liệu có bảo vệ được nhau không. Cái chết vẫn luôn hiện hình đe dọa từng người trên cái vịnh vừa hẹp vừa sâu. Liệu sau khi Asle không về còn ai phải chịu cảnh này? Bao nhiêu người phải góa bụa khi mất chồng như Signe? Nói là gần gũi nhau không có nghĩa mọi thứ cứ đơn giản hiện ra. Thời hiện đại nhưng để hiểu được nhau cũng khó? Chính Signe mãi mới hiểu được tính cách của chồng, người luôn trầm lặng, lại hay rụt rè vốn không ưa những lời to tát ngay khi nhận được thư cô, cũng là người có những hành vi bất định. Yêu thương cô muốn ở nhà với bếp lửa nhưng cũng không thể bỏ con thuyền giữa cảnh trời nước bão bùng. Thích đi câu, đi bộ nhưng nhiều lúc cũng cảm thấy chán. Còn người trong dòng tộc này cái gì cũng đen, từ mái tóc thường dài và đen, áo đen phải chăng đã lưu lại dấu vết từ xa xưa, như không thể khác? Câu hỏi dành cho mỗi người nhưng không dễ tìm được câu trả lời.

Cuộc sống vẫn theo dòng chảy của nó. Thật khó nắm bắt. Nói làm chủ số phận mình, sống cho thời hiện tại, nhưng để làm chủ được nó con người phải trải qua biết bao nghịch cảnh. Lời than cuối tác phẩm của Signe liệu Chúa có nghe thấu, hay cũng là sự bộc phát khi gặp trắc trở của số phận như một động thái buông xuôi. Cuối cùng dường như số phận mỗi con người do siêu nhiên định đoạt. Hãy sống cho mình, cho hôm nay vẫn là lời nhắn nhủ.

Quả tạo nên tác phẩm xứng tầm với tài năng của mình, người viết không thể không kế thừa hoàn cảnh điển hình, nhân vật điển hình…của chủ nghĩa hiện thực dày công xây dựng.

Với một văn phong trữ tình, lối tiếp cận hậu hiện đại nhưng qua sự nhào nặn hiện thực một cách nhuần nhuyễn; dù tác giả không hiện diện trực tiếp mà đứng khuất sau tấm bình phong, nhưng mọi tâm trạng, cảnh huống của nhân vật đều được miêu tả tường tận, tác phẩm đã định hình một phong cách độc đáo.

L.L

ALISS BÊN ĐÁM LỬA1– Người mất tích có trở về?- Nobel văn học 2023

Nxb Lao động- Bùi An Bình dịch, Nguyễn Hùng Huy hiệu đính- 2024