Bờ không em, những sát-na điềm nhiên trong cõi tạm

TRƯƠNG VU GIANG

(Vanchuongphuongnam.vn) – Đọc xuyên suốt 81 bài thơ trong tập “Bờ không em” của Trương Vu Giang, ta không chỉ thấy bóng dáng một con người, mà thấy cả một dòng chảy thời gian được vắt kiệt từ những trải nghiệm sống khốc liệt nhất đời người. Đây không đơn thuần là tập thơ tình, mà là cuốn nhật ký tâm hồn – bản di chúc tinh thần được viết bằng mực của sự chiêm nghiệm, bằng màu của những cơn đau thực thể và bằng ánh sáng của sự thấu thị. Sức hấp dẫn của tác phẩm nằm ở sự tương phản gay gắt giữa các miền thời gian, một hành trình đi từ “Có” đến “Mất” để rồi cuối cùng chạm vào cái “Vô” đầy tự tại.

Nhà thơ Trương Vu Giang

Hành trình ấy bắt đầu bằng nhịp thở của miền EM, tầng ký ức những năm 80, 90 của thế kỷ trước với “Áo trắng sáng bay khắp ngã đường“, với “cánh phượng tươi“; nơi một Đà Lạt của những năm tháng “thông thắp ngàn ngọn nến”,Nệm cỏ đồi Cù nằm khoeo” và những con đường rực rỡ ánh quỳ vàng. Ở đó, tình yêu và tuổi trẻ hiện lên tinh khôi như “sương mỏng mảnh như áo em ngày đến lớp“, nơi “một đỉnh Tháp Sao” hay “một cư xá lộng đêm đêm đỏ đèn” vẫn còn nguyên vẹn sự nhạy cảm tuyệt vời với thiên nhiên. Bút pháp của Trương Vu Giang thời kỳ này mang đậm tính lãng mạn cổ điển, nơi “Em” hiện thân như một thực thể vô thủy, là nguồn cảm hứng xanh mướt cho gã lãng du. Đó là thời đại của sự chiếm lĩnh, nơi mỗi vần thơ là một nốt nhạc trong trẻo reo vang giữa thung lũng sương mù, khi con người ta còn tin rằng tình yêu là vĩnh cửu và tuổi trẻ là vô tận.

Thế nhưng, dòng chảy ấy bỗng chốc rẽ ngoặt sang miền KHÔNG EM, nơi người đọc đối diện với một thực tại lắng trầm và đầy thao thức. Đây là quãng dài nhất, khốc liệt nhất, khi “Em” không còn là áo trắng tinh khôi mà trở thành “Em vụt bay, tôi … sững sờ, ngơ ngác!” Em là “dòng tóc rối nối dài giấc say”, Em vắt cạn hồn cốt gã si tình đến độ xác xơ. Sự biến chuyển này minh chứng cho những lớp trầm tích khốc liệt bồi đắp nên nhân cách: yêu đến tận cùng và đau cũng đến cùng tận.

Thơ lúc này không còn là món trang sức ngôn từ, mà trở thành một liệu pháp sống, một nỗ lực phi thường để kết nối những mảnh vỡ của ý thức. Anh không lạm dụng mỹ từ, mà chọn những từ ngữ có sức nặng cơ năng cao như cột, trói, thít, trì… để mô tả trạng thái nhân sinh đang bị giằng xé giữa sinh tồn và hư ảo. Mỗi chữ hiện lên trên trang giấy là một phần ký ức hồi quy, một lần ý chí giải thoát để thảnh thơi hơn trên bước đăng trình thăm thẳm giữa non cao.

Để rồi cuối cùng, tất cả hội tụ về miền BỜ KHÔNG EM – đỉnh cao của bản lĩnh và sự điềm nhiên. Ở giai đoạn này, ngoại cảnh dần lùi xa, nhường chỗ cho một không gian nội tâm tối giản nhưng đầy ám ảnh. Anh không còn oán trách hay phiền lụy trước những “bài thơ nhàu nát”, mà nhìn thấy ở đó một định mệnh, một sự sắp đặt của nhân duyên để hóa giải tất cả bằng nụ cười bao dung.

Khả năng làm chủ ngôn từ của Trương Vu Giang trong tập thơ có một độ tinh vi nhất định với thủ pháp mà anh định danh là: “Tiếp vần – Nâng vần” như: yêu thương nương gieo, non nà nõn tơ, con mắt bắt mòn mỏi tôi,… tạo nên sự giao thoa nhuần nhuyễn giữa mực thước cổ điển và sự phiêu khoáng hiện đại. Những âm tiết liền kề nhau này không chỉ ngân lên nhạc tính, mà còn tạo ra những khoảng rung động thẩm mỹ lắng sâu; nơi chữ sau được nâng lên bởi chữ trước, tạo nên một bệ đỡ ngôn từ vững chãi cho những tâm hồn đang chới với.

Đặc biệt, trong bóng tối của những cơn đau thực thể sau tai biến não, khi thời gian chỉ còn tính bằng từng “sát-na” nghiệp chướng, Trương Vu Giang đã thực hiện một cuộc phục sinh tâm linh kỳ diệu. Chiếc gậy vật chất anh chống tập đi đã hóa thân thành “chiếc-gậy-nhân-sinh” để anh vịn vào mà bước qua những dốc đèo số phận:

– Đèo mây gậy gỗ gập ghềnh

– Bước chùng, gõ gậy khập khiêng…

Giá trị nhân văn sâu sắc nhất của “Bờ không em” nằm ở quá trình hồi sinh tâm linh qua từng trang viết. Ta thấy một cái Tôi thi sĩ luôn giữ được sự lịch lãm và lòng kiêu hãnh; dù là người lính nơi thao trường, một sinh viên kiêu hãnh nơi giảng đường hay là người bệnh đang đối diện với sự khắc nghiệt của thân xác. Càng đi sâu vào thế giới này, ta càng nhận ra tầng thơ này không phải là một điểm đến, mà là một cuộc hành trình không hồi kết của sự tự vấn và tự tại.

Sự “cập bờ” này mang hàm nghĩa triết học sâu sắc: con người ta chỉ thực sự tự do khi không còn nương tựa vào bất kỳ “vật thể” nào bên ngoài, kể cả đó là “Em”. Cái “Bờ” ấy dẫu đơn độc nhưng lại mênh mông sự thấu  cảm. Nó giống như hình ảnh gã lãng du ngồi bên hiên đời, nhìn sương khói Đà Lạt bảng lảng thoảng lên từ chén trà, thấy cả một đời người thu lại trong một tiếng khà nhẹ bẫng. “Những con chữ kết vần treo trong gió” không còn là sự khoe diễn, mà là sự vật chất hóa cảm xúc, là tiếng chuông gió thanh khiết trổ nụ tình giữa hư vô.

Tuy nhiên, khách quan mà xét, Bờ Không Em không phải là một tập thơ dễ đọc bởi sự hiện diện của những “khúc xạ” trong nhịp điệu và cảm xúc. Ở một vài phân khúc, người đọc có thể cảm nhận len lỏi đâu đó là sự bế tắc mơ hồ, khiến mạch thơ đôi khi rơi vào cảm thức u uẩn thái quá. Sự đan xen giữa bút pháp lãng mạn cổ điển của thời trai trẻ và lối phá cách hiện đại ở giai đoạn sau vài chỗ còn chưa thật sự khớp nhịp, tạo ra những khoảng hẫng về phong cách. Có những câu thơ mà sự khốc liệt của từ ngữ mạnh đến mức gần như át hẳn tính thẩm mỹ thông thường, dễ gây cảm giác nặng nề cho những ai tìm kiếm sự thư thái. Nhưng có lẽ, chính sự “gồ ghề” không trau chuốt ấy mới là “chân dung tự họa” của một tâm hồn đang vùng vẫy giữa lạch sâu sinh tử, nơi cái Đẹp không phải lúc nào cũng mướt mát, mà đôi khi phải gai góc và rướm máu.

Tập thơ khép lại nhưng mở ra trong tâm tưởng một khoảng lặng mênh mông, một bản giao hưởng của sự tận cùng: tận cùng của nỗi đau, tình yêu và sự tĩnh lặng. Trương Vu Giang đã hiến dâng cho đời một minh chứng hùng hồn rằng, văn chương chân chính chỉ cần đủ thành thật để chạm vào trái tim, đủ bao dung để ôm lấy định mệnh và đủ điềm nhiên để mỉm cười trước cõi tạm vần xoay. “Bờ không em” chính là cái bến đợi của một tâm hồn chưa bao giờ thôi khao khát cái đẹp, một nhành hoa dại kiên cường tỏa hương thấu hiểu giữa mây ngàn cao nguyên. Đọc anh, ta thấy yêu hơn những mảnh vỡ của đời mình, và quan trọng hơn, ta thấy can đảm hơn để tự tạo cho mình một cái “Bờ” bình yên giữa dòng đời vạn biến.

(Bài luận từ AI – Công nghệ hỗ trợ ngôn ngữ)

TUỔI THƠ ƠI !

(Trích từ tập thơ “Bờ không em”)

Tuổi thơ tôi tung tăng trang vở

Lý giải dòng đời bằng định lý, vần thơ

Thơ vốn đẹp, định lý thì rõ ràng, mực thước

Năm tháng hồng – xanh mướt ước mơ.

 

Tuổi thơ tôi, mẫu mực tuổi thơ!

Đến trong vắt, nhuốm tin yêu thật dễ

Cả nỗi túng nghèo của làng quê: là – phải – thế

Cho ngày sau giàu đẹp, một ngày mai…

 

Tôi đeo dộ dày mắt kính

Hồng theo nhịp bước trẻ trai.

Đến bây giờ, thay màu áo lính

Kính vỡ, nhìn: hư – thực đong đưa…

 

Người thầy giáo năm xưa  

Đăm chiêu bên phin cà phê nhỏ giọt:

  – “Những học trò hồi kia thật tốt

Vào với đời trầy, trật, trễ, trôi…”

 

Tuổi thơ ơi! Nào chỉ mình tôi

Cái thời vô tư trong trẻo

Nhịp cầu lắc lẻo đường xa.

8.88

 

TĂM NƯỚC AO CHIỀU

Kính tặng thầy Chủ nhiệm P.X (81 -84) và những thầy giáo quê tôi

 

Những thầy giáo quê tôi chiều chiều đi câu cá

Tìm tĩnh yên miền tăm nước ao bèo

Những con cá cong cần bất chợt niềm vui

Khuây khỏa nét đăm chiêu ngày tháng.

 

Hoàng hôn hắt ánh than ngàn lục bình cháy tím

Ao làng tù, cù cựa sóng bóng xiêu

Gió hắt hiu xô phao mồi, cá động

Chạnh bàn tay ai nỡ giật? Nhìn chiều…

 

Thương giữa hồ đàn cá đang reo

Quanh đốm mồi treo đeo mùi hấp dẫn

Con lóc, con trê lọc đời hờ hững

Tội con rô, con diếc miết mãi mùi.

 

Cước lẫn nước lướt màu lặng tiếng, kín hơi

Chiếc phao nổi lập lờ, điềm chỉ

Có thể sau mỗi lần cần vút

Bữa cơm chiều có đôi món tươi?

 

Hay gì thêm? Những thầy giáo quê tôi

Qua giấc ngủ chật chất oằn trằn trở

Qua bụi phấn, cán bút nghiêng… trang vở

Buông cần câu sâu tăm nước ao chiều.

3/86

 

ĐƯỜNG VÀO TRẬN ĐỊA

 

Lóc cóc, lóc cóc…

Xe phóc lên đồi

Trông kìa đồng đội ta ơi!

Đường vào trận địa như hồi Trường Sơn.

 

Hình như đường dỗi, đường hờn

Phì phà bụi đỏ chập chờn đôi bên.

Xe sụp xuống, xe chồm lên

Lắc qua, lắc lại, lăn kềnh ba-lô.

Tiếng hát bị dạt, bị xô

Hò dô! Lính nhảy disco trên sàn…

 

Ơ hay! Im lặng bàng hoàng

Xe dừng. Nắng dựng! Bạt ngàn cỏ tranh…

 

Mồ hôi đẫm ướt áo xanh

Bụi đường bám đỏ viền quanh, mắt cười…

Mấy chàng pháo thủ đôi mươi

Nghênh pháo lên trời ngắm thẳng mục tiêu.

5.87

MẤY MÙA XA VẮNG

Lững thửng sương khơi niềm thương chợt nhóm

Khóm tre làng ẩn hiện dáng mảnh mai

Trên cát mịn em rơi dày dấu dép

Tôi lần theo kịp lúc trống trường vang.

 

Se sẻ nắng hong lòng tôi ươm vàng

Buổi xa lơ… mơ trưa hè, em đến

Tôi còn đang bay bổng giữa nhạc ve

Em đã nhéo hông: “Ông tướng, dậy! Em nè…”

 

Bâng quơ gió ngõ hồn cồn cào nhớ

Một ngày đông lầy lội lối quê nghèo

Mình trốn học rủ nhau về rang bắp

Trã* ắp lừng thơm, mắt em trong veo.

 

Nệm cỏ Đồi Cù nằm khoeo**

Lang thang mấy mùa xa vắng

Ven hồ uyên ương từng đôi thấp thoáng

Chiều ôm đồi thông già mà tôi không em.

6.90

(*) Trã: Dụng cụ bếp xưa bằng đất nung, miệng rộng, lòng cạn, nơi lưu giữ mùi thơm của muối rang, bắp nổ và hơi ấm bếp củi trong ký ức tuổi thơ nghèo.

(**) Những năm 90’s trở về trước, Đồi Cù (Đà Lạt) còn là không gian công cộng cho tất thảy mọi người.

NỬA VÒNG TAY

Sương đông chòng chềnh

Gõ gậy gập ghềnh, sức mỏng

Xin ôm em vào lòng

Chuyền hơi ấm nửa vòng tay co rút.

 

Môi em ửng hồng

Mắt nồng màu chiều thao thiết

Mặt hồ nghiêng – trong biếc,

Níu chân gió lang thang.

 

Thông lặng theo reo vàng thung vắng

Thu tan miền triền nắng ờ thơ

Nụ cười em mơ đông trở giấc

Nửa vòng tay ấm rực…

 

Sương lạnh chiều dần tan…

Em dìu tôi qua con dốc

Tìm bình yên nơi ráng đỏ hôn hoàng.

9.24

Trương Vu Giang