TRẦN NGỌC TUẤN
(Vanchuongphuongnam.vn) – Trong toàn bộ di sản sáng tác đồ sộ của nhà thơ Chế Lan Viên, thơ tứ tuyệt là một mảng sáng tác đặc sắc, thể hiện rõ nhất trí tuệ, khả năng cô đọng tư tưởng và phong cách trữ tình – triết lý riêng biệt của ông.

Nhà thơ Chế Lan Viên
Chế Lan Viên (1920-1989), tên khai sinh là Phan Ngọc Hoan, quê ở Cam Lộ, Quảng Trị, là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại. Ông đến với văn đàn từ rất sớm và gây chấn động ngay ở tuổi mười bảy với tập Điêu tàn (1937), được Hoài Thanh đánh giá trong Thi nhân Việt Nam là “một niềm kinh dị”. Sau Cách mạng tháng Tám 1945, ông hòa nhập vào đời mới và trở thành một nhà thơ lớn của thời đại mới với các tập thơ tiêu biểu: Ánh sáng và phù sa (1960), Hoa ngày thường – Chim báo bão (1967), Đối thoại mới (1973), Ta gửi cho mình (1986), Di cảo (1992-1993, 3 tập)…
Vài nét đặc trưng thơ tứ tuyệt của Chế Lan Viên
Thơ tứ tuyệt vốn là thể thơ ngắn, hàm súc, có nguồn gốc từ thơ cổ phương Đông. Với dung lượng bốn câu, thơ tứ tuyệt đòi hỏi nhà thơ phải có khả năng nén chặt cảm xúc, ý tưởng và hình ảnh vào một cấu trúc chặt chẽ, gợi nhiều hơn tả. Chế Lan Viên là nhà thơ của tư duy và triết lý, đặc biệt thành công ở thể loại này. Theo thống kê của PGS.TS Hồ Thế Hà, số bài viết theo thể tứ tuyệt của Chế Lan Viên trong các tập thơ là rất lớn, chẳng hạn như Ánh sáng và phù sa (có 36/69 bài), Đối thoại mới (45/68 bài), Hái theo mùa (44/76 bài), Hoa trên đá (32/86 bài), Ta gửi cho mình (17/39 bài)… Chế Lan Viên không chỉ có tài làm thơ tứ tuyệt, mà người ta còn nhớ đến ông là người đưa ra “tuyên ngôn về thơ tứ tuyệt”. Bài Tứ tuyệt, ông viết:
Uốn cả hồn anh thành tứ tuyệt
Kẹt trong hõm đá voi quỳ chân
Đã đưa ngà được lên trăng sáng
Vòi chửa buông xong để uốn vần.
Và cũng chính Chế Lan Viên thừa nhận rằng để có thơ tứ tuyệt hay là không phải dễ dàng, dù cả đời ông gắn bó với nó:
Cười mình vung lưới rộng
Thu về con tép con
Nhặt bốn câu bé bỏng
Sải cánh cả tâm hồn
(Tuổi già làm thơ tứ tuyệt).
Trên Tạp chí Văn học, số 8/1998, nhóm tác giả Lê Lưu Oanh và Đinh Thị Nguyệt đã chỉ ra đặc trưng thơ tứ tuyệt của Chế Lan Viên trong bài viết Thơ tứ tuyệt Chế Lan Viên là: Từ một góc nhìn hẹp nhìn ra thế giới vô cùng; Vĩnh viễn hóa khoảnh khắc, nhờ cái thoáng qua để nắm bắt cái vĩnh cửu; Cái nhìn đa diện về thế giới và con người; Tương ứng với quan niệm về thế giới và con người… Từ các đặc điểm đó, nhóm tác giả đánh giá: “Thơ tứ tuyệt Chế Lan Viên đã đem lại những đóng góp đáng ghi nhận cho lịch sử thơ tứ tuyệt Việt Nam”.
Trên những tìm hiểu sơ bộ, theo người viết bài này, thơ tứ tuyệt của Chế Lan Viên mang các đặc điểm sau.
Một, yếu tố trữ tình gắn liền với suy tưởng. Chế Lan Viên hiếm khi chỉ dừng ở việc bộc lộ cảm xúc thuần túy mà luôn song hành với suy nghĩ, với những câu hỏi về đời sống, lịch sử, con người, thời gian, sự tồn tại. Trữ tình ở đây không phải là sự mềm mại, êm đềm, mà là trữ tình trí tuệ – một kiểu trữ tình được soi chiếu bởi tư duy. Nhà thơ đặt ra những vấn đề lớn về mối quan hệ giữa cái riêng và chung, giữa cá nhân và cộng đồng, giữa quá khứ và hiện tại, giữa lý tưởng và hiện thực. Ví dụ, bài thơ Hai câu hỏi:
“Ta là ai?”, như ngọn gió siêu hình
Câu hỏi hư vô thổi nghìn nến tắt
“Ta vì ai?” khẽ xoay chiều ngọn bấc
Bàn tay người thắp lại triệu chồi xanh.
Hoặc bài thơ giàu chất trữ tình trí tuệ, tiêu biểu cho sự vận động của tứ thơ rất… Chế Lan Viên sau đây trong bài thơ Màu:
Hạnh phúc màu hoa huệ
Nhớ nhung màu hoa lau
Biệt li màu xé rách
Lãng quên đâu có màu.
Hai, tư duy theo cấu trúc đối lập và nghịch lý cũng là đặc trưng tiêu biểu của thơ tứ tuyệt Chế Lan Viên. Chế Lan Viên thường sử dụng các cặp đối lập và nghịch lý: sáng – tối, được – mất, cao cả – tầm thường, cá nhân – nhân dân… Chính sự đối lập ấy tạo nên chiều sâu suy tưởng và làm bật lên ý nghĩa triết lý của bài thơ. Nhiều bài tứ tuyệt của ông có cấu trúc “xoay trục” rất nhanh: hai câu đầu gợi ra một hiện tượng, một cảm nhận quen thuộc; hai câu sau bất ngờ chuyển hướng, đưa ra một cách nhìn khác, một kết luận giàu tính phản biện. Nhờ đó, bài thơ ngắn mà không hời hợt, ít câu mà nhiều tầng nghĩa. Như bài Tháp Bay-on bốn mặt, Chế Lan Viên viết:
Anh là tháp Bay-on bốn mặt
Giấu đi ba, còn lại đấy là anh
Chỉ mặt đó mà nghìn trò cười khóc
Làm đau ba mặt kia trong cõi ẩn hình.
Hay:
Khi đến cùng ta bày cuộc sắc
Ra đi để lại cánh hoa không
Rừng xuân mộng lá thay chim bướm
Hư ảo còn hơn phấn bụi lòng
(Rừng xuân).
Ba, thơ tứ tuyệt Chế Lan Viên đặc sắc còn bởi sử dụng ngôn ngữ cô đọng, giàu hàm nghĩa. Ngôn ngữ thơ tứ tuyệt Chế Lan Viên được gọt giũa kỹ lưỡng, giàu tính khái quát. Mỗi từ, mỗi hình ảnh đều mang sức nặng tư tưởng. Ông ít dùng những từ ngữ trang trí, ước lệ đơn thuần, mà thường chọn những hình ảnh có khả năng “mở ra ý nghĩ”: hạt phù sa, giọt nước, hòn than, ánh sáng, bóng tối, con đường, tiếng chim… Chính sự cô đọng này khiến thơ tứ tuyệt Chế Lan Viên có khả năng “đọc ngắn mà nghĩ dài”. Người đọc không chỉ tiếp nhận bài thơ bằng cảm xúc mà còn bị cuốn vào quá trình suy ngẫm, đối thoại với nhà thơ và với chính mình. Chẳng hạn bài thơ sau:
Em biết Phật Thiền xưa lạ thật
Nghìn năm ngài tọa một mình thôi
Đôi ta trên cỏ hiền như Phật
Đắc đạo nằm trong chỗ Phật ngồi
(Đắc đạo).
Khác với cái tôi lãng mạn đầy u uẩn thời Điêu tàn, cái tôi trong thơ tứ tuyệt giai đoạn sau của Chế Lan Viên là cái tôi tự ý thức, tự vấn, luôn đặt mình trong mối quan hệ với nhân dân, với đất nước, với lịch sử, đó là đặc điểm thứ tư. Nhà thơ không ngần ngại nhìn lại chính mình, nhận ra những giới hạn, những sai lầm, những day dứt của người cầm bút. Thơ tứ tuyệt vì thế trở thành nơi Chế Lan Viên “đối thoại với mình”, ghi lại những khoảnh khắc tỉnh thức của tư duy và lương tri nghệ sĩ. Như bài Đi thực tế, ông viết:
Suốt một đời ăn hạt gạo nhân dân
Lần thứ nhất nhà văn đi học cấy
Bỗng hối tiếc nghìn câu thơ nước chảy
Chửa “vì người” bằng một bữa cơm ăn.

Thơ Chế Lan Viên sẽ còn “bón sắc hồng” trên “những cánh đồng thơ lớn”
Thơ Chế Lan Viên nói chung và thơ tứ tuyệt nói riêng đã để lại những đóng góp quan trọng cho sự phát triển của thi ca Việt Nam hiện đại. Chế Lan Viên không lặp lại mô hình tứ tuyệt cổ điển một cách máy móc, mà thổi vào đó tư duy hiện đại và những vấn đề của con người thế kỷ XX. Nhờ ông, thơ tứ tuyệt không chỉ là tiếng vọng của truyền thống mà còn trở thành phương tiện biểu đạt những suy tư mới mẻ, sâu sắc. Điều này có ảnh hưởng rõ rệt đến nhiều thế hệ nhà thơ sau, đặc biệt là những cây bút theo khuynh hướng thơ triết lý, suy tưởng.
Giã từ cõi trần thế một “người làm vườn vĩnh cửu” (tên bài viết của Trần Mạnh Hảo), tâm nguyện Chế Lan Viên đã được toại nguyện. Tro cốt của ông đã được người thân rải xuống ba con sông của Việt Nam (sông Hồng, sông Hương và sông Sài Gòn).
Hiếm có nhà thơ nào của Việt Nam mà khi mất đã để lại nhiều tiếc nhớ trong lòng bạn văn thơ như Phan Ngọc Hoan. Nhà thơ Tế Hanh viết:
Hôm nay anh ra đi
Về bên kia thế giới
Nhưng thơ anh vẫn còn
Trong chúng tôi vọng mãi.
Còn nhà thơ Yến Lan thì xúc động khóc:
Xin như huyền hoặc chuyện chiêm bao
Xin mãi là sao rực tuyến đầu
Xin vẫn đầu đàn “chim báo bão”
Khối “U” hoàn lại khối trân châu
(Chẳng lẽ, 5-2-1989).
Còn Tố Hữu thì nhận định tầm vóc bất tử của Chế Lan Viên:
Mai sau những cánh đồng thơ lớn
Chắc có tro anh bón sắc hồng.

Tác giả Trần Ngọc Tuấn
Riêng người viết bài này, xuất phát từ sự ngưỡng mộ với nhà thơ quá cố, xin có mấy dòng cảm nhận về đời thơ Chế Lan Viên kèm theo chú thích cho ý thơ được tỏ tường:
CHẾ LAN VIÊN
Mòn chân xuống đá ngày đi
Hài tro nằm xuống hồi quy đất mùa
Người đã đến với một “niềm kinh dị” (1)
Đem “Điêu tàn” rũ bóng xuống muôn nơi
Người đã đi trong tháp đổ “dân Hời” (2)
Lấy hư ảo rũa sắc màu rễ sống
Trái tim non nghe kiếp đời xa vọng
Bao sọ người, bao loang lổ rong rêu… (3)
…
Đường hồi hương xa tít tắp bóng chiều (4)
Câu thơ cũ đã “bao lần nước chảy”
Ăn “hạt thóc” thương dân tình cày cấy (5)
Nên “phù du” nay đã hóa “phù sa” (6)
Hoàng Lê gươm mấy độ bóng nguyệt tà
Những Nguyễn Trãi, Tố Như và Nguyễn Huệ… (7)
…
Ngày của “lực điền” mà đêm về ngấn lệ
Bốn mặt đời ẩn giấu một mặt đau (8)
“Hoa ngày thường” đã hóa “đá” thâm sâu (9)
Lệ Kiều nhỏ trên những dòng “Di cảo” (10)
Triết lý, tinh anh, thông minh, sáng tạo
Thơ vắt từ tim mà khối óc ngẫm suy (11)
…
Mòn chân xuống đá ngày đi
Hài tro nằm xuống hồi quy đất mùa! (12)
(Cảm tác sau khi đọc Tuyển tập Chế Lan Viên, 2014)
Thới An, TP.HCM, tháng 3/2026
T.N.T
Chú giải:
(1) Hoài Thanh (Thi nhân VN): “Quyển Điêu tàn đã đột ngột xuất hiện ra giữa làng thơ Việt Nam như một niềm kinh dị”.
(2) Bài “Trên đường về”:
Đây, những Tháp gầy mòn vì mong đợi
Những đền xưa đổ nát dưới Thời Gian
Những sông vắng lê mình trong bóng tối
Những tượng Chàm lở lói rỉ rên than
Đây, những cảnh ngàn sâu cây lả ngọn
Muôn Ma Hời sờ soạng dắt nhau đi
Những rừng thẳm bóng chiều lan hỗn độn
Lừng hương đưa, rộn rã tiếng từ qui!
(Điêu tàn)
(3) Bài “Cái sọ người”:
Này chiếc sọ người kia, mi hỡi!
Dưới làn xương mỏng mảnh của đầu mi
Mi nhớ gì, tưởng gì trong đêm tối?
Mi trông mong ao ước những điều chi?
(Điêu tàn)
(4) Bài “Ngoảnh lại mười lăm năm”:
Đi xa, về hóa chậm
Biết bao là nhiêu khê
(5) Bài “Đi thực tế”:
(6) Bài “Nay đã phù sa”:
Xưa phù du mà nay đã phù sa
Xưa bay đi mà nay không trôi mất
Cho đến được… lúa vàng đất mật
Phải trên lòng bao trận gió mưa qua.
(7) Bài “Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng?”:
Hỡi sông Hồng tiếng hát bốn nghìn năm
Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng?
– Chưa đâu! Và ngay cả trong những ngày đẹp nhất
Khi Nguyễn Trãi làm thơ và đánh giặc
Nguyễn Du viết Kiều, đất nước hoá thành văn
Khi Nguyễn Huệ cưỡi voi vào cửa Bắc
Hưng Đạo diệt quân Nguyên trên sóng Bạch Đằng…
(8) Bài “Thấp Bay-on bốn mặt”
(9) Nhan đề các tập thơ của CLV
(10) Tập “Di cảo” của CLV được Trần Mạnh Hảo coi là “1 trong 3 niềm kinh dị”
(11) Đặc trưng phong cách của thơ CLV là tính triết lý
(12) Sinh thời, tâm nguyện của CLV là tro cốt của mình sau khi hỏa táng chia làm 4 phần: 1 gửi chùa, 3 phần rải xuống 3 con sông Hồng, Hương và Sài Gòn.












