Một ánh lung linh đang tự làm mới mình

VÕ THỊ NHƯ MAI

(Vanchuongphuongnam.vn) – Nếu lục bát là một phần của tâm hồn Việt, thì Tuyển thơ lung linh lục bát của Nguyễn Nguyên Phượng đặt ra một câu hỏi thầm lặng nhưng không thể né tránh: Tâm hồn ấy hôm nay đang ngân lên bằng giọng nào?

Bìa thơ Lung linh lục bát của tác giả Nguyễn Nguyên Phượng

Không còn là tiếng ru thuần nhất của đồng quê, không còn chỉ là những nhịp thương nhớ êm đềm, lục bát đã đi qua một hành trình dài để đến với hiện tại. Con người vừa gần gũi hơn lại vừa xa cách hơn chính mình. Trong sự chuyển động ấy, lục bát không thể đứng yên. Và thơ của Nguyễn Nguyên Phượng, ở một nghĩa nào đó, chính là nỗ lực giữ cho thể thơ này tiếp tục lung linh trong một đời sống đã đổi khác.

Điều đáng nói là: lục bát trước hết sống bằng câu thơ. Mỗi câu lục, câu bát vừa là một đơn vị âm thanh vừa là một khoảnh khắc thở của ngôn ngữ. Câu thơ có thể chưa trọn nghĩa, nhưng phải trọn nhịp; có thể chưa khéplại, nhưng phải mở ra. Chính ở điểm dừng của mỗi câu có âm vang lắng xuống, thơ bắt đầu hiện diện.

Trong lục bát, hai câu không tách rời mà nương tựa vào nhau. Câu lục da diết, câu bát ngân dài. Một bên khơi gợi, một bên mở rộng. Sự phụ thuộc ấy tạo nên chiều sâu cho lời thơ. Người viết lục bát, vì thế mà viết từng câu và khoảng cách giữa các câu, viết cái chưa nói hết, cái còn dư vang.

Đọc Nguyễn Nguyên Phượng, có thể nhận ra một ý thức khá rõ ràng về điều này. Thơ không vội khép lại. Nhiều câu dường như dư, dư chữ, dư nhịp, dư cả ý nhưng chính cái dư ấy lại mở ra một không gian cho người đọc bước vào. Đó là một lựa chọn: để thơ không đóng kín, để cảm xúc có chỗ lan ra ngoài câu chữ.

“Chưa xa nghe đã mịt mờ

Em như giọt mộng cuối bờ đại dương

 

Lay phay mưa nắng vô thường

Biết đâu cỏ lá một phương diệu tình

 

Chốn về thơm ánh hương quỳnh

Cầu vồng khát nhớ biến hình sau mưa!”

(Thơ tình viết dưới mưa)

Ở những câu thơ như thế, ta nhận ra một khuynh hướng đáng chú ý: cảm xúc lan ra trong một trường liên tưởng. “Giọt mộng, cuối bờ đại dương, cầu vồng, hương quỳnh”, những hình ảnh vượt qua tả thực, những điểm sáng trong một không gian cảm giác. Lục bát ở đây gợi và làm mờ đi để mở rộng. Đặc biệt, cách kết hợp giữa những yếu tố mong manh, “giọt mộng”, “lay phay” với những không gian rộng lớn như “đại dương”, “cầu vồng” tạo nên một độ căng thẩm mỹ thú vị. Câu thơ vì thế vừa nhẹ, vừa sâu; vừa như thoảng qua, vừa để lại dư vang. Đó chính là một biểu hiện của lục bát khi được đẩy ra khỏi quỹ đạo quen thuộc của nó với nhịp điệu và một trường cảm xúc nhiều tầng.

Đây cũng là đặc điểm đáng chú ý trong lục bát của Nguyễn Nguyên Phượng là sự dịch chuyển của giọng điệu. Nếu lục bát truyền thống thường nghiêng về một giọng kể đều đặn, êm ái, thì ở đây, giọng thơ không ngừng thay đổi: khi thủ thỉ, khi bâng quơ, khi chợt sắc lại như một nhận thức bất ngờ. Chính sự chuyển giọng ấy làm cho bài thơ mở ra nhiều lớp rung động khác nhau. Lục bát vì thế vừa là lời ru vừa trở thành một cách nghĩ và một cách tự vấn.

“Loang chiều bước đẫm tâm tư

 Mùa rơi phía nắng tạ từ thu xa

 

Áo xanh từ độ khép tà

Trái tim ứa lệ. Ta bà biết tên

 

Trăng tình một thuở soi nghiêng

 Rỗng rang nỗi nhớ… bạc miền sương bay

 

Nổi nênh sợi bạc hao gầy

Hóa ra hạt bụi cũng đầy chiêm bao

Tiêu đời vào cõi bể dâu

Dòng trôi nhân thế một màu mang mang

 

Nghe xưa vọng tím địa đàng

Không hoàng hôn sóng. Ngổn ngang kinh chiều…”

(Kinh chiều)

Một dòng cảm xúc nghiêng về suy tư, một không gian suy tưởng về thời gian và thân phận. Các hình ảnh như “mùa rơi, áo xanh, trăng tình, bể dâu hay hạt bụi” nối tiếp nhau vừa cổ điển vừa mơ hồ tạo nên cảm giác trôi dạt, bảng lảng. Nhịp thơ chậm, nhiều chỗ như khựng lại giữa chừng, khiến cảm xúc lắng xuống thành những lớp âm thanh. Điều đáng chú ý là sự pha trộn giữa chất trữ tình và ý vị triết lý, khiến mỗi câu thơ gợi nghĩ và mở ra một cảm thức về đời sống vừa mong manh vừa vô tận.

Bên cạnh đó, có thể thấy một nỗ lực đưa vào lục bát những chi tiết của đời sống hôm nay. Thơ bắt đầu hướng đến những không gian khác: đô thị, những va chạm thường nhật, những cảm giác rời rạc mà con người hiện đại thường trải qua. Khi những chất liệu ấy đi vào lục bát, chúng tạo ra một độ “lệch” cần thiết, một sự không hoàn toàn ăn khớp với nhịp điệu truyền thống và chính sự lệch ấy làm nên cái mới.

“Lời thương mắt đếm thật thà

 Trái tim không tuổi đuối tà áo bay

 

Em về cúc nở vàng vai

Chết từ vô lượng áo ai thôi vàng

Sổ lồng chim sáo không sang

 Đáu đau rét ngọt thả tràn vào đông!”

(Thơ tình tháng Chạp)

Vẻ đẹp mong manh và ám ảnh. Cảm xúc được đẩy đến độ tinh vi của sự tan chảy. “Mắt đếm lời thương, tà áo bay, cúc nở vàng vai”, một thế giới vừa gần gũi vừa siêu thực, tình cảm được đo bằng độ sâu của rung động. Nhịp thơ chậm và mềm nhưng ẩn chứa những điểm gãy tinh tế, khiến nỗi buồn thấm dần như cái rét ngọt cuối mùa. Cảm thức về mất mát hiện lên như một sự phai đi của sắc vàng, của hơi ấm, để lại một khoảng trống đầy trăn trở trong lòng người đọc.

Tuy nhiên, điều làm nên sức bền của những câu thơ là ở khả năng giữ được một nhịp điệu nội tại, một thứ nhạc nghe bằng tai và cảm bằng trí nhớ. Những câu thơ đọc xong tưởng như rất giản dị, nhưng lại ở lại rất lâu, bởi chúng gây thương tạo nhớ. Lục bát khi đạt đến độ chín cứ ngân vang.

“Ba mươi năm. Cuộc tình mơ

 Hai ta chung một chuyến đò nhân gian

 

Trái tim thuở đập mơ màng

Hẹn nhau cuối đất. Đa mang với đời!

 

Chan chiều mặn đắng hạt vui

Chênh chao sông thẳm nối lời gừng cay

Qua đông đếm sợi hao

ua thu bờ tưởng vẫn đầy chiêm bao

 

Thơ tôi thả tận phương nào

Miền em neo đậu phía sau đá mòn

 

Ba mươi năm. Cuộc tình son

Xôn xao trái mộng, vuông tròn cõi xuân…”

(Đò tình ba mươi năm)

Dòng hồi tưởng thấm đẫm thời gian. Tình yêu được nhìn lại trong chiều dài ba mươi năm với tất cả những ngọt đắng đã lắng lại. Chuyến đò nhân gian mở ra một cảm thức định mệnh, còn những chi tiết như “sông thẳm, gừng cay, đá mòn” lại làm dày thêm trải nghiệm đời sống. Nhịp điệu lục bát ở đây vừa đều đặn vừa chênh chao, như chính hành trình của tình cảm qua năm tháng. Điều đáng chú ý là sự hòa quyện giữa cái riêng và cái chung, giữa một cuộc tình cụ thể và một cảm thức rộng hơn về kiếp người, khiến bài thơ thể hiện sự kiên trì cũng như những biến đổi của yêu thương.

Lục bát vốn là thể thơ cho phép nói lại, nói dài, nói chậm. Nhưng nói dài không có nghĩa là lặp lại vô ích. Sự lặp, nếu có, phải tạo nên nhịp điệu, phải làm dày thêm cảm xúc. Ở những câu thơ hay, ta thấy chữ như được đặt đúng vào chỗ của nó, không thể thay, không thể bớt. Và đôi khi, chính một chữ rất nhỏ lại giữ toàn bộ linh hồn câu thơ.

Một trong những thử thách lớn nhất của lục bát hôm nay là làm mới mà không đánh mất mình. Làm mới không chỉ là đảo câu, ngắt dòng, hay thay đổi hình thức bên ngoài. Những cách ấy có thể tạo ra cảm giác khác lạ, nhưng chưa chắc đã tạo ra giá trị. Cái mới đích thực phải đến từ bên trong: từ cách nhìn, cách cảm, cách nghĩ về đời sống.

Trong Lung linh lục bát, điều đáng ghi nhận là sự tìm kiếm ấy không dừng lại ở ngôn từ. Những câu thơ rất hay và cảm động bởi những chi tiết nhỏ, những cảm xúc rất riêng. Lục bát ở đây đối diện với hiện tại, vừa dịu dàng, đằm thắm lại vừa chênh chao, đứt đoạn.

Đoạn thơ mang nhịp điệu tự do nhưng vẫn giữ được linh hồn trữ tình của lục bát, tạo nên một cảm giác vừa gần vừa xa, vừa cụ thể vừa mơ hồ. Em hiện lên như một trung tâm cảm xúc, vừa là đối tượng của tình yêu vừa là điểm hội tụ của thời gian và không gian. Những câu thơ ngắn dài đan xen làm nhịp điệu trở nên đứt nối có chủ ý, như nhịp tim khi xúc cảm dâng lên. Ngôn ngữ giàu tính gợi, nhiều khoảng lặng, khiến bài thơ mở ra một trạng thái, tình yêu được cảm nhận như một sự hiện hữu toàn vẹn, vừa dịu dàng vừa ám ảnh.

Thực ra, lục bát chưa bao giờ là một thể thơ hoàn tất. Nó luôn dang dở, luôn mở. Mỗi bài thơ như một đoạn giữa của một câu chuyện dài hơn, câu chuyện của tiếng Việt, của đời sống, của con người Việt qua các thời đại. Vì thế, viết lục bát hôm nay không lặp lại quá khứ mà tiếp tục một cuộc đối thoại. Nguyễn Nguyên Phượng bước vào cuộc đối thoại ấy, với một giọng điệu riêng không quá ồn ào trong cách tân, nhưng cũng không bằng lòng với những gì đã có. Có lúc thơ nghiêng về sự mộc mạc, có lúc lại có những chỗ phá nhịp, lệch giọng như thể người viết đang thử xem lục bát còn có thể đi xa đến đâu. Điều quan trọng hơn cả, có lẽ, là thơ vẫn giữ được một sự thành thực. Trong một thời đại mà ngôn ngữ dễ trở nên sáo rỗng, sự thành thực ấy trở thành một giá trị hiếm. Lục bát, với tất cả những ràng buộc của nó, buộc người viết phải thật, thật với cảm xúc, thật với ngôn ngữ.

“Lung linh” gợi một ánh sáng không cố định, không chói lòa mà lay động, không đứng yên mà biến đổi. Có lẽ đó cũng là cách lục bát tồn tại hôm nay: một chuyển động liên tục giữa truyền thống và hiện đại. Và nếu phải nói một điều sau cùng, thì có lẽ là thế này: lục bát sẽ còn sống, chừng nào vẫn còn những câu thơ khiến ta muốn dừng lại, đọc chậm hơn một chút, và lắng nghe tiếng Việt vang lên, vừa quen thuộc, vừa mới mẻ, trong chính lòng mình.                                                                                           

V.T.N.M

                                          (Thạc sĩ, nhà thơ Trưởng Ban Quản Trị Nhịp Điệu Việt)

(Võ Thị Như Mai viết về Tuyển thơ lung linh lục bát của Nguyễn Nguyên Phượng)