Có một Hải Phòng luôn nghẹn ngào thương nhớ trong thơ Nguyễn Thị Hoài Thanh

NGUYỄN THÁI HƯNG

(Vanchuongphuongnam.vn) – Đọc tập thơ” TÔI Ở HẢI PHÒNG” vào những ngày Tháng 5 phượng về rực đỏ trời thành phố, mới thấy hết tình yêu và nỗi nhớ sâu đậm về một Hải Phòng dấu yêu luôn nghẹn ngào nhớ mong khắc khoải trong thơ Nguyễn Thị Hoài Thanh.

Tập thơ “Tôi ở Hải Phòng” của nhà thơ Nguyễn Thị Hoài Thanh

Từ con thuyền về bến với “lưa thưa lửa nhám” mỗi chiều, một sông Cấm “như người bạn mới quen” mà có “nửa đời tôi ở đó” với “Buồm ai say sóng – la đà trên sông” đến cầu Treo qua sông Lấp, chuyến đò sông Tam Bạc, một Lán Mông Giăng “đường thơm nắng ủ”, một cầu Xi Măng “như đồ chơi trẻ nhỏ” cùng với vườn xanh Hoa Động trăng thề  “…hoa ô môi tím ngát… say đắm cả trời quê”, một “xóm nhỏ Thùy Giang – sớm chiều nghe sóng vỗ”, một “chú bò đi vào thành phố” , một vệt “nắng trên cành chưa nỡ rời cây”…Tất cả hòa xen dưới nền một trời hoa đỏ … đã tạo nên một Hải Phòng luôn đi về trong nỗi nhớ da diết của nhà thơ.

Hải Phòng thân yêu luôn được dành những tình cảm nâng niu cao quý nhất, thường trực ghi dấu trong tim:

“…Thành phố này mỗi bận đi xa tôi cất kỹ

Trong trái tim ở chỗ phập phồng”

“…Thành phố này mỗi bận đi xa tôi cất kỹ

Trong trái tim ở chỗ nghẹn ngào

Có lẽ nào tôi một lần ích kỷ

…Ngày tôi về hoa đỏ có chờ mong…”

“Quê cũ” ấy luôn gắn liền ký ức sống động bồi hồi; như còn đây – tiếng gọi “đò ơi…” qua sông Tam Bạc  vọng về quá khứ xa xăm… Một vệt nắng vắt qua cầu Treo, một chiều đông sậm sà mưa bay chợ Sắt vẫn hiển hiện qua từng con chữ xúc động lòng người về thuở thiểu thời tóc xanh áo trắng:

“…Tôi lại qua cầu treo Tam Bạc lắt lay

Như nằm võng mẹ ru ngày nhỏ

Con đò xưa còn chờ ai đó

Đợi tôi sang chợ Sắt với nào

Dòng nước lợ có mang hình cô gái

Tan trường về nắng gió lao xao”

Một lối nói thật mới theo phản đề mà không kém phần rung động thiết tha về thời trăng tròn ngây thơ đầy đam mê mộng ước:

“Tôi lại qua cầu Lạc Long như một tên ăn trộm

Rình hoa mận trắng ngủ chân cầu…”-

Không chỉ tên đất, tên người là niềm thương nỗi nhớ…mà mỗi chùm hoa Phượng đỏ như lửa cháy không nguôi, là nơi neo đậu tình cảm yêu thương thành phố quê hương của Nhà thơ. Hoa Phượng – biểu tượng của Hải Phòng – đất Cảng luôn đi về day dứt trong thơ Hoài Thanh. Điều đó được gắn kết xen hòa ngay cả lúc tâm tình với người mẹ thân yêu đã khuất:

“Mẹ ơi lại mùa Phượng vĩ

Con về thềm vắng hoa rơi

Hoa rơi như rơi trong mộng

Con về mẹ đã đi rồi

Bây giờ lại mùa phượng vĩ…” nhưng hình bóng mẹ chỉ còn trong tâm tưởng.

Thành phố ấy luôn là tâm điểm của nỗi lòng thổn thức, khát khao, thường trực trong tim như hình với bóng, ngay cả khi giữa cõi đời có lúc chị đã “chợt nhớ chợt quên” (mà có quên được đâu!):

“…Thế là tôi chợt nhớ chợt quên

Hôm xưa bên dòng sông Cấm…

…Những tốp thợ áo xanh về xóm thợ…

Tiếng còi tàu làm ngơ ngác hàng cây…”

Dòng sông xưa với cánh buồm trời lãng quên trong huyền thoại, càng thiết tha, bởi chị đã gắn kết:

“Ôi dòng sông, dòng sông

Nửa đời tôi ở đó

Những cánh buồm tắm gió

Đi về như trong mơ”

Ở đó, hồn thơ thi sỹ luôn được dưỡng nuôi, hòa quyện thiên nhiên của màu trắng mây trời, màu xanh sóng nước:

“Mỗi ngày đến bên sông

Một câu thơ tôi viết

Dưới trời xanh da diết

Câu thơ thành mênh mông”

Nơi ấy có xóm chài bé nhỏ làm sao có thể nguôi ngoai:

“Một tiếng gà trưa một giọt sao khuya

Một xóm chài cửa sông chập chờn cát trắng”

Nhớ con sông mùa nước lợ, được tác giả truyền thổi linh hồn làm người bạn “mới quen”, để mà tâm tình, sẻ chia, gửi gắm…

“Sông Cấm ơi, sông như người bạn mới quen…

Thân thiết thế mà sao không hiểu được

Chiều tan ca tôi đi bên dòng nước

…Sông với tôi với bóng là ba

Bóng tôi nghiêng với bao la

Sông mang về biển.

Bóng tôi còn nguyên ven không sông”

“Tôi”, “Sông” và “Bóng tôi” trên dòng sông ấy đã đã thành mối kết giao, hòa hợp tri kỷ đồng hành. “Sông” mang “Bóng” tôi đi cũng là chở những ước mơ, khát khao của “Tôi” về một tương lai, biển cả, chân trời…thì thật độc đáo và tài tình, đó cũng là nét đặc trưng phong cách sáng tạo, lối nói mới lạ trong thơ chị Hoài Thanh.

Và đây bức tranh thủy mặc về nơi ấy – quê mẹ thân yêu:

“Tôi nhìn sang bên kia

Một vùng xanh bờ bãi

Như một bức tranh xưa

Ai còn quên để lại

Ở đó có mái nhà của mẹ, nơi chôn rau, cắt rốn của con lúc mới chào đời:

…Mẹ sinh con vào lúc đã vợi chiều

…Cái giờ chim chưa về tổ

Nắng trên cành chưa nỡ rời cây

Tiếng con khóc chào đời vẫn quanh quẩn đâu đây…

Ngay cả phút giây hồi tưởng về mẹ, thì hình ảnh quê hương vẫn xen hòa điểm danh như một phần tâm tưởng:

“Trước ngày đi xa mẹ dặn

Các con đưa mẹ về quê

Ý hẳn nhớ thời thiếu nữ

“Vườn xanh mấy độ trăng thề”

Hay:

“Nét chữ bồn chồn sóng chiều sông Cấm

Hoa Động quê ta mùa này vui lắm

Gạch trong lò lên da thịt hồng tươi

Cô gái đội vôi…đội một ít nắng trời…”

Một Hải Phòng dấu yêu đau đáu trong niềm nhớ:

“Tôi ở Hải Phòng

Với cầu Xi măng như đồ chơi trẻ nhỏ”

…Trong lòng những bông hoa dại ven đê

Dây lạc tiên tran lan như nỗi nhớ

Trong nắng đồi Kỳ Sơn mùa hạ

Trong hương hoa Hạ Lũng vườn trưa

Trong tiếng xe bò lọc cọc ngoại ô

Trong con nước triều lên sông Lấp.

Và:

“Chiều hoa ô môi bên sông tím ngát

Ơi cái màu say đắm cả trời quê”

Nhưng lại thầm tiếc nuối:

“Con đường ấy có còn không

Hoa tanh tách kể tím hồng đến nay”.

Mãi còn đấy chị ơi! Dù cho nhân gian vần xoay biển đổi, nhưng một thời ngây thơ, trắng trong như lúa thì con gái, vẫn nồng nàn hương cỏ ven đê…

Xa rồi – nơi ấy – Hải Phòng khi giờ đây đã thành “quê cũ” nhà thơ bất ngờ gặp một dáng hình Phượng vĩ mà mừng vui tâm tình như gặp bạn cùng quê:

“Đứng đó làm chi Phượng Vĩ ơi

Tuổi cây nay đã mấy mươi rồi

Đồng hương mình với ta bầu bạn

Quê cũ bây giờ hoa đỏ rơi…”

Một Hải Phòng phía trời xa thăm thẳm… vẫn canh cánh niềm mong khắc khoải có lần về lại cố hương:

“Có lẽ nào một lần tôi ích kỷ

Ngày trở về hoa đỏ có chờ mong”

Chờ đấy! Đất Cảng vẫn mong chờ chị nhiều lắm qua sắc Phượng đỏ trời tháng 5, dù vẫn biết, do “Dòng Tam Bạc thiếu chân trời” nên sẽ “có người Nam- Bắc ngược xuôi tìm dòng”.

Nỗi nhớ ấy, luôn đau đáu trong tim như lời hứa đầy trách nhiệm, nặng tình, nặng nghĩa với quê hương khi Nhà thơ nói với con:

“Bóng mẹ vào ra trong bóng lá xanh tươi

Có những món nợ nần mẹ phải trả bằng đời

Một bài thơ về cầu Xi Măng chiếc cầu tuổi thơ đưa mẹ qua con sông nhỏ”.

Đấy cũng chính là nỗi niềm về nguồn cội, về thành phố ấy:

“Nhớ cội nguồn tha thiết

Ôm chiếc là lìa rừng

Như lòng mẹ rưng rưng

Ngàn đòi ru tiếng sóng”

Sinh ra, lớn lên, niềm vui và nỗi buồn, hạnh phúc và cay đắng như chị đã “…ngồi bấm đốt ngón tay” nhưng “bấm đi bấm lại vẫn hai nẻo buồn” (thơ Trần Thị Bảo Thư); hay “Không có gia tài để lại cho con/

Chỉ có nước mắt rơi ngày vui chưa trọn/Và thơ cười đi suốt những đêm đau”, nhưng miền quê ấy với dòng Cấm thân thương, lấp lánh làm duyên như người bạn gái, mây mảng xanh màu áo thợ tan ca, hồi tàu hú ngoài ga hay quầng trời đêm đêm sáng đèn bến Cảng vẫn theo cùng tỏa sáng trong tâm trí Nhà thơ.

Và ngay cả khi “cả trời xanh ta cũng phải giã từ” bởi “đời người tựa giấc chiêm bao” thì vẫn mãi đắm say một Hoài Thanh toàn tâm toàn ý, luôn da diết nghẹn ngào về thành phố quê hương:

“Dù mai sau tôi sẽ chẳng còn

Thì hoa Phượng khắp nẻo đường

vẫn cháy lên mong ngóng

Thành phố hôm nay cất mình gió lộng

Tôi xin làm gió

Đời đời ôm thành phố hát ca”.

(Kính tặng nữ thi sỹ Nguyễn Thị Hoài Thanh)

NTH-T5/2018

Ghi chú: bài viết năm trước khi nhà thơ qua đời.

N.T.H