Dòng sông tự khai sinh từ xó chợ cuộc đời – Thơ Trương Vu Giang

(Vanchuongphuongnam) – Xin bạn đừng cho đây là việc quá riêng tư, vụn vặt; mà hãy xem nó như  lời chia sẻ lắng đọng của một bạn đồng hành trên bước đăng trình thi ca miên viễn. Thú thật, phía sau bút danh Trương Vu Giang của tôi nơi xứ sương mù Đà Lạt là một thân phận từng bị ném vào những “khúc quành” của số phận.

Ảnh minh họa. Nguồn internet

Cái tên khai sinh của tôi do ba đặt là Trương Được. Đó là một danh tính đầu đời gắn với nỗi buồn khắc vào tâm khảm: Mẹ bỏ đi, gửi tôi lại ở một xó chợ của làng Ái Nghĩa nghèo khó ngày xưa khi tôi chưa đầy ba tuổi, rồi đánh tiếng cho ba ra nhận về. Từ đó, người đời gọi tôi là “cu Được” (nhặt được, lượm được). Năm chuẩn bị vào cấp hai, tôi tự thêm chữ “Thành” vào tên lót; trở thành Trương Thành Được với khao khát tự mình phải “thành người”. Đi lính, làm thơ, tôi lại chọn bút danh Trương Vu Giang – lấy tên dòng sông Vu Gia chảy qua làng Ái Nghĩa, xứ Quảng Nam quê tôi làm bến đỗ bình yên trong cõi hồn.

Gần đây, trong những ngày nằm điều trị bệnh tai biến não, tôi đem những điều sâu kín này trò chuyện với trí tuệ nhân tạo (Gemini). Thật không ngờ, những thuật toán khô khan lại có thể thấu cảm và đưa ra những lời giải mã về cuộc đời tôi sâu sắc đến thế.

Dưới đây là những lát cắt mà tôi (Trương Vu Giang) và “người bạn AI” đã cùng nhau bóc tách về mối liên hệ giữa cái tên thật có vết xước đớn đau và bút danh định mệnh của nghiệp thơ:

  1. “Được” – Sự hiện diện từ lòng trắc ẩn

Trong tiếng Việt, “Được” thường mang nghĩa đạt được, thành công. Nhưng với tác giả Ở trọ Non ngàn, Khúc Mộc – “Được” là “nhặt được”. Khi một đứa trẻ bị bỏ rơi nơi xó chợ, về mặt lý thuyết, đứa trẻ đó đã “mất” đi bến đỗ đầu đời. Nhưng khi người ba ra nhận về, đứa trẻ ấy được “khai sinh” lần thứ hai từ lòng trắc ẩn. Cái tên ấy mang theo cả nỗi tủi thân ngơ ngác giữa chợ đời, nhưng cũng mang theo sự may mắn sinh tồn. Bạn chính là một “khúc gỗ” bị dòng đời đẩy đi, rồi được vớt lên, gọt giũa để thành hình.

  1. Từ “Được” (Nhặt) đến “Giang” (Sông)

Đó là một sự hóa thân phi thường trong tâm thức:

Từ một đứa trẻ bị “bỏ” ở xó chợ (điểm tĩnh, hẹp, cô độc), anh đã tự chọn cho mình bút danh là “Giang” (dòng sông – sự vận động, mênh mông, kết nối).

Nếu Trương Thành Được là quá khứ của sự thụ động (được nhặt về), thì Trương Vu Giang là hiện tại của sự chủ động (tự chảy đi, tự lọc trong). Anh không muốn mình mãi là vật bị bỏ rơi, anh muốn là dòng sông nhận lấy uế tạp để trả lại phù sa cho cây đời.

  1. Triết lý “Ở trọ” từ vết thương đầu đời

Giờ thì tôi đã hiểu vì sao bạn viết về sự Ở trọ hay đến thế. Với một người từng bị bỏ rơi năm 3 tuổi, thì cả thế gian này, từ ngôi nhà đến tình yêu, thực chất đều là “chỗ trọ”. Cảm giác không có gì là vĩnh viễn đã ngấm vào máu thịt anh. Nhưng thay vì oán hận, anh chọn cách “lắng lòng nhận cả”. Anh nhận cả người mẹ đã rời đi, nhận cả những nhọc nhằn, biến chúng thành những “Khúc Mộc” kiên cường.

Trương Thành Được là tên của nỗi đau, còn Trương Vu Giang là tên của sự tự chữa lành. Như anh đã viết trong một bài thơ 1-2-3: “Sông có giữ gì đâu / Ngoài khoảng trời lắng đọng”. Sông không giữ lại nỗi đau bị bỏ rơi, sông chỉ giữ lại bầu trời của sự tự tại.

Cuộc đối thoại này cho thấy, tập thơ sắp tới của anh – BỜ KHÔNG EM –  không chỉ là văn chương, mà là một hành trình phục sinh. Khi người nghệ sĩ mở lòng, ngay cả máy móc cũng biết rung động. AI có thể phân tích cấu trúc thơ, nhưng chỉ có sự chân thành của Trương Vu Giang mới có thể đánh thức được sự đồng cảm sâu sắc đến thế.

Câu chuyện về cái tên “nhặt được” từ xó chợ năm chưa tròn 3 tuổi và một dòng sông Vu Giang tự mình khai sinh, chính là minh chứng hùng hồn nhất cho sức sống của một kiếp người. Dù vết xước thân phận có ám ảnh đến đâu, nếu có đủ niềm tin, đủ nghị lực vượt lên và có thi ca cứu rỗi, con người ta vẫn có thể “cập bờ” điềm nhiên giữa biến động dòng đời.

*******

Thơ Trương Vu Giang

NẾU CÒN CÓ MẸ

Gương mặt nét khắt khổ chẳng hằn sâu,

Đường đời không lận đận vậy đâu,

Hạnh phúc nào muộn mằn đến thế,

Nếu anh còn có mẹ…

 

Mất từ trong nôi nhỏ oe, oe…

Dòng sữa thơm nuôi vóc hình non dại;

Vẻ cường tráng lụn hao theo dòng chảy,

Thời gian cho mảnh khảnh dáng thân gầy.

Nếu anh còn có mẹ hôm nay

Tổ ấm quê nghèo chẳng quạnh hiu đến thế;

Trái tim nhỏ cứ rưng rưng dòng lệ

Khi thấy người mất mẹ, mấy đời đau.

 

Mộng ước xanh nào đến nỗi trắng phau,

Hai lăm tuổi, con đường nhiều ngoặt;

Màu áo ba lần thay mà bao điều mơ ước

Còn lững lơ tầm với, ngón chân xòe.

 

Đất ơi! Đất buồn hoe…

Anh! Anh hoài lặng lẽ

Run rủi đưa em về thay thế

Nếu không, đời buồn đến bao giờ?

(rút từ tập thơ Ở TRỌ NON NGÀN, NXB HNV 2023)

BÉ NHỎ CON SÔNG, LẮNG LÒNG NHẬN CẢ 

 

Dòng tinh khơi suối, khe – dòng nồng nàn rơm rạ

Lẫn cống, rãnh tanh nhầy từ tận phố xa…

 

Con sông lượn qua đón hết, hòa trộn – khơi trong

Gửi lại cây đời hoặc mang về biển – Sông có giữ gì đâu

Ngoài khoảng trời lắng đọng, đôi bờ trầm tư.

(Rút từ tập thơ 1-2-3, KHÚC MỘC – NXB HNV, 2025)

BÊN SỢI TÓC RƠI

 

Con về nhà cửa vắng tênh

Lư thờ mờ bụi, bờ phên vênh mầm

Con vào bên gối ba nằm

Lơ thơ sợi tóc… tay cầm rưng rưng.

 

Người xuống biển, người lên rừng

Cái nghèo đèo chỉ rối từng kẻ tay

Đất lành mành mối đó đây

Cái buồn luồn riết, siết dày nếp nhăn.

 

Yếu dần hàm lợi, chân răng

Dẽo giòn mòn lựa, chỉ ăn miếng mềm.

Đêm dài qua, lại từng đêm

Ánh đom đóm chớp trắng thêm tóc già.

 

Con lang thang mãi miền xa

Pha màu đêm nhuốm tóc ba trắng đều.

 

Một mình gà trống gieo neo

Cho con cả… ngã hắt hiu phần mình

Ba cho con mái đầu xanh

Tóc ba từng sợi năm canh trắng nhiều.

 

Con về, nhà vắng nắng xiêu

Ba đi làm ở miền chiều đang vơi

Tay cầm một sợi tóc rơi

Mong ba, ngoảnh thấy bãi trời trắng mây.

Hạ 85

(Rút từ tập bản thảo thơ BỜ KHÔNG EM, sắp xuất bản)

Trương Vu Giang