Nguyễn Chí Thiện
(Vanchuongphuongnam.vn) – Con người vẫn sống dẫu khắc khiệt bào mòn đến sức cùng lực kiệt, đó không phải là chiến đấu mà đó thích nghi, sự chung thủy dạy con người ta sống giữ vẹn câu thề dẫu gian truân bủa vây tứ phía, để rồi dấu chân lúa đã trổ sâu biền bãi, đó là kết tinh, thành quả cho sự vẹn tròn lời hứa sắt son.

Tác giả Bùi Bá Đông (Trà Minh)
Tác giả Bùi Bá Đông, bút danh Trà Minh, sinh năm 1990, quê ở xã đảo cù lao Hòa Minh, tỉnh Vĩnh Long. Nơi anh lớn lên là bản giao hưởng giữa đất và nước, nơi những hạt phù sa đắp bồi thành đất, thành bờ rồi sau nhịp đập thời gian đằng đẵng đã hình thành nên khoảng đất cù lao chứa chan ân tình sông mẹ. Có lẽ do vậy nên tiếng thơ anh là những khắc khoải về ảnh hình của quê, những nỗi niềm chan chứa trong từng lượng sóng bao la cồn cào vỗ vào bờ rồi bật ra thành những lời thơ mang đậm dấu ấn châu thổ. Từ những giềng mối đó, anh đã cho ra đời tập thơ Nương mùa cố thổ được xuất bản bởi NXB Hội Nhà Văn – Tập thơ là những cung bậc cảm xúc của “nương mùa” và “cố thổ”, là mối giao hòa giữa nỗi nhớ và tình yêu chốn cắt rốn chôn nhau.
“Nương mùa” – Tấm lòng đứa con lữ thứ lìa quê tìm chốn náu nương nơi nội đô xa lạ.
Nỗi lòng xa quê trong anh hiện lên với những đường nét rất đẹp, với những nét chấm phá vô cùng tinh tế trong cách sử dụng ngôn từ ẩn dụ. Những đêm “Phố mồ côi” cô đơn đến nỗi:
“xin
đừng ru thêm vành môi phố
đừng nói gì
biết chiều ngã về đâu…” đó là những khắc khoải cuộn dâng trong lòng dạ, những nỗi niềm không biết gửi vào đâu, chia sẻ cùng ai khi chỉ một mình đơn độc nơi phố thị. Nơi tấp nập phồn hoa này đã dung chứa biết bao phận đời lận đận từ tứ xứ xuôi về, trăm vạn mặt người cùng chung nhịp sống. Phố bao dung đến vậy nhưng không thể nào gói tròn được nỗi nhớ về quê mẹ được thốt ra từ tâm tưởng của đứa con xa quê. Để rồi trong những giây phút bất chợt của cuộc đời anh đặt cho mình những băn khoăn “Có khi/ sông quê mình/đã gầy thêm tuổi/ còn chảy không em rửa dấu vết chua phèn…” Những nỗi nhớ cứ ồ ạt dội về trong những đêm vắng bao la giữa phố, con người ta sẽ khóc nấc nghẹn ngào từng cái nhộn nhịp, trong từng cái xô bồ của nơi mình nương náo, giây phút ấy, có lẽ lại thấy nhớ thấy thương những bình lặng nơi quê nghèo, những âm thầm nơi cố quận. Nhà thơ Bùi Bá Đông cũng vậy, anh đã đau đáu nhớ, cồn cào thương những ảnh hình thân thuộc. Nơi chấp dưỡng cho anh từ tấm bé cứ chập chờn trong giấc ngủ, trong những lần bất chợt nhớ đến rơi nước mắt, đó là khi:
“ta về ngồi giữa mênh mông
khói cay khóe mắt hay lòng vừa rơi
nghe con cúm núm bên trời
tiếng kêu rát cả một đời cút côi…”
Chẳng biết là thật hay mơ nhưng trong từng câu chữ, ngày anh về nghe buồn thấu tận tâm can. Bao năm bôn ba nỗi nhớ dày theo ngày tháng, quê là vậy, buồn nhưng thương nhớ đến vô ngần, bởi tiếng con cúm núm gọi bầy vừa vang lên ở một góc sông nào đó làm khóe mắt chợt cay cay, tiếng kêu nó như khoét sâu vào tấc dạ. Trong những năm “ơn nghĩa Sài Gòn” phố vẫn “thương cho kẻ lạc bầy/ chở che qua những tháng ngày bão giông…” – Bao dung, rộng lượng nhưng lòng tác giả vẫn muốn “…về dưới mái hiên/ khóc cười quên cả muộn phiền áo cơm.” Đó là những cung bậc khi “Ta còn ngày cũ để thương”, để nhớ, để tìm về nơi khởi nguyên của những cuộc di cư cơm áo.

Ảnh tập thơ Nương mùa cố thổ
Nương mùa phố, náo mùa quê, gá mình vào tất thảy những những nỗi nhớ, nỗi đau để tiếng lòng vang lên thành những lời thương tiếng nhớ vô bờ. Mang theo bên mình “Lòng châu thổ”, một tấm lòng bao la với trăm vạn mạch nguồn của sự sống. Như thể anh và quê hương là một, tất cả những gì của nơi mình sinh ra đã được anh nhặt nhạnh, cất giữ và gợi nhắc lại bằng những vần thơ mộc mạc, đơn sơ mà chan chứa của một tâm hồn yêu quê hương xứ sở. Anh cảm nhận từng cái thay đổi nhỏ, mỗi lượn sóng, mỗi dòng nước lớn ròng, tinh tế đến nỗi “gá mình vào đâu cũng đau nỗi đau bờ bãi/ da thịt đồng bằng nứt nẻ lời ru…”. Bởi đó là mùa quê hương khát nước, phù sa hóa bụi mờ trong nắng rát của cơn hạn còng khô. Nhánh bần de ngày nào còn chấm nước ven sông vẽ nên những lượn sóng thong dong, nay hạn mặn về, cháy lá, trơ thân. Khi cái khó khăn cùng cực bủa vây bởi nắng hạn “từng giọt nước ngọt lành/ trên chuyến xe về lòng châu thổ thêm đau…” đó là nỗi đau khi nhìn mảnh đất ruột thịt bị thiên nhiên bào mòn trong nắng gió, không thể làm khác đi, chỉ biết chắp tay nguyện cầu cho trời mau cơn nước giải khát đồng bằng. Tình yêu ấy đẹp đến vô cùng, bởi khi biết thương quê, thương nơi mình sinh ra thì ta mới biết thương người.
Đó là những tình cảm của “Nương mùa”, những tình cảm được cô đọng, chưng cất từ tình yêu rất thật với bản quán của mình. Bùi Bá Đông không cầu kì chỉ nhẹ nhàng kể lại những gì từ tận đáy tim mình bởi anh với quê dường như đã là một. Anh chỉ đơn giản khắc họa lại cho độc giả những gì từ cõi lòng chân thật của mình. Nỗi nhớ và thương, mỗi con chữ là mỗi nhịp tim đang đập nhịp nhàng hòa với nhịp đập của mảnh đất cội nguồn xứ sở.
“Cố thổ” – Tình quê đọng buồn trong từng hạt phù sa
Tác giả Trà Minh, bút danh được kết hợp từ chính nơi chôn nhau cắt rốn của mình: Trà Vinh (nay là Vĩnh Long) và Hòa Minh. Chính từ cái bút danh mộc mạc này đã khắc họa nên một người con yêu đất, thương quê vô ngần, đến nỗi muốn tên tuổi của mình có ảnh hình của quê.
“Cố thổ” – đất cũ, xứ sở ngày xưa, nơi tuổi thơ được dung dưỡng bằng tình thương vô bờ bến, nơi “Đôi mắt đồng bằng” luôn dõi theo từng bước chân của những đứa con mình. “Từng con sông chảy trên gương mặt cũ/ ném một ánh nhìn/ Ngọn đuốc đồng bằng đỏ một lần thương…” Quê hương được hình dung như một gương mặt, ở đây có thể là gương mặt của một bà mẹ dịu hiền, sông như những nếp nhăn mà anh muốn khắc họa lại bằng lời thơ mang tính biểu tượng, sông giờ là sự nhọc nhằn, sự in hằn của thời gian lên gương mặt mẹ, để rồi nỗi niềm thương đỏ nặng như hạt phù sa bao dung và trìu mến.
Những câu hò cất lên từ đâu đó trên dãy dất cù lao, là tiếng lòng của nhà thơ hay tiếng não nuột buồn thương của những người gói tròn đời mình trong dằn vặt. Do vậy mà “Tiếng hát cất lên từ cánh đồng cứa da thịt rát đau…” đã làm cảm xúc dâng lên cao trào nhất. Cánh đồng, dòng sông đã hóa làm da thịt, đau của đất cũng là đau của con người. Tiếng hát không còn vui, giờ đây là sự chịu đựng rồi thành chống chọi giữa bao gian truân và nhọc nhằn.
Nhưng rồi, dẫu bao khó khăn và nhọc nhằn của cố thổ, con người vẫn giữ được ánh thiên lương, sống nương vào đất, vào sông vào bãi bờ thân thương, yêu dấu:
“những dấu chân lún sâu biền bãi
em vẫn thủy chung một thời con gái
điệu nhớ ru hời mấy nhánh sông quê.”
Con người vẫn sống dẫu khắc khiệt bào mòn đến sức cùng lực kiệt, đó không phải là chiến đấu mà đó thích nghi, sự chung thủy dạy con người ta sống giữ vẹn câu thề dẫu gian truân bủa vây tứ phía, để rồi dấu chân lúa đã trổ sâu biền bãi, đó là kết tinh, thành quả cho sự vẹn tròn lời hứa sắt son.
Sau những đau đáu phận người là nỗi nhớ da diết về những cũ càng, “Nhớ cù lao” – Nơi mà nỗi nhớ quánh đặc trong ý nghĩ, nỗi nhớ về những kỉ niệm quen thuộc gắn bó cả cuộc đời tác giả Trà Minh. Dãy đất cù lao hiện lên bên “ngọn đuốc lá dừa/ ba đi tìm con cá con tôm…”, những “mùa nước cạn/ cánh đồng phơi hạt nắng/ những bàn tay nứt nẻ đường cày/ và mẹ tôi chiều chiều ra bậu cửa/ dõi theo cánh cò trong câu hát vừa bay.” Tất thảy những hình ảnh thân quen ấy đã làm một dấu ấn Trà Minh rất đậm đà phong vị đồng bằng. Cái bậu cửa nơi mẹ đứng chờ cha mỗi chiều, cánh cò trắng bay theo câu hát – những chi tiết ấy đã làm nên một nỗi niềm hoài nhớ đẹp đến nao lòng trong cái khung cảnh thanh bình miệt cù lao xa vắng.
Để rồi khép lại chặng hành trình nhớ về “Cố thổ” cũng là khép lại cuộc miên di của cả tập thơ “Nương mùa cố thổ” tác giả Bùi Bá Đông đã gửi lòng mình “Theo sông”. Có vẻ như không có sự kết thúc nào ở đây, mọi cảm xúc vẫn tiếp tục theo dòng sông mẹ đổ ra biển Đông hòa mình vào dòng chảy thiêng liêng của đất trời cố xứ. Như một sợi dây nối kết cảm xúc, tác giả đã kể lại:
“có những lần đi
theo sông
bỏ quên chiều đuối nước…”
Bằng nhịp thơ ngập ngừng như tiếng thở, như những con sóng vỗ bờ liên hồi miệt cù lao, để lại trong lòng người nỗi niềm gì đó khó tả, mà có lẽ chính tác giả cũng thấy chênh vênh, đến nỗi “chỉ nghe lòng mình/ vỗ nhịp chèo khuya.” Bỏ lại tất cả để theo sông, bỏ quên “chiều đuối nước” mang tính hình tượng về nỗi buồn, buồn đến nỗi day dứt cõi lòng cộng thêm những câu hỏi không có lời giải đáp “Sông dài không em/ sao ta chưa lần chạm…” hay “con bìm bịp/ hôm qua/ đã khàn tiếng gọi/ ngủ vùi trên nhánh bần de…” – Con bìm bịp gọi gì? Gọi ai? Sao nó lại gọi đến khàn tiếng, khản hơi? Không ai rõ, đó mãi là những dấu chấm hỏi được chôn sâu vào lòng sông quê mẹ, trộn lẫn với hạt phù sa bồi đắp cho xứ sở thêm trù phú. Có lẽ những cái nghi vấn ấy đã làm nên một hành trình đầy nghệ thuật, tất cả tạo nên những khoảng lặng bơ thờ làm dâng lên nỗi bâng khuâng khó tả trong lòng độc giả.
Hành trình đã khép lại nhưng nỗi nhớ vẫn dài thêm mỗi ngày bởi xứ sở quê nhà là máu mủ ruột rà chứ không đơn thuần chỉ là những ảnh hình vô giác. Tác giả Trà Minh (Bùi Bá Đông) đã luân chuyển hết mạch hồi ức của mình qua từng câu chữ tạo nên một “Nương mùa cố thổ” đậm chất bưng biền, thấm đẫm nỗi hoài hương tha thiết, tiếng lòng và cũng là tiếng thơ của phù sa quê mẹ.
N.C.T











