Mùi đời!

PHAN ĐĂNG

Đêm, tôi tỉnh giấc và thấy không muốn nằm ngủ lại. Một thôi thúc vô thức nào đó xui khiến tôi viết vài dòng về “Nỗi buồn chiến tranh” của Bảo Ninh – tiểu thuyết vừa được Bộ Văn hoá vinh danh là 50 tác phẩm văn học nghệ thuật xuất sắc sau thống nhất. Đây là cuốn tiểu thuyết tôi đọc 2 lần, và rất nhiều lần thường giở một trang bất kỳ, ghé qua một chi tiết bất kỳ để chiêm nghiệm lại.

Lần đầu tiên tôi đọc “Nỗi buồn chiến tranh”, khi ấy có tên gọi “dễ chịu” hơn là “Thân phận của tình yêu” theo yêu cầu của giáo viên môn văn học Việt Nam, ở Học viện Báo chí. Lúc ấy chúng tôi là sinh viên năm thứ hai, được cô giáo nói rất rõ: “Phải đọc “Thân phận của tình yêu”, vì không thể tìm hiểu văn học Việt Nam hiện đại mà không đọc tác phẩm này, rồi viết bài luận, và thảo luận trên lớp”. Từ yêu cầu học tập, tôi lên Đinh Lễ mua “Thân phận của tình yêu”, đọc một mạch vài ngày và thầm biết ơn cô giáo đã giới thiệu một tác phẩm mà với cá nhân mình là có khả năng lay động tâm hồn con người đến như thế.

Tiểu thuyết “Thân phận của tình yêu” của Bảo Ninh

Sinh viên năm thứ hai, tôi chưa hiểu đời, nhưng đọc “Thân phận của tình yêu”, tôi ngửi được mùi đời. Cái cảm giác về việc mình ngửi ra được mùi đời để lại trong tôi những ấn tượng mạnh mẽ và sâu sắc hơn cả những câu chuyện chiến tranh được viết ra trong đó. Phải đấy, ngửi mùi đời, chứ không chỉ là ngửi về cuộc chiến. Một mùi đời gắn liền với mối tình đầu thanh tao, trong sáng dưới mái trường Chu Văn An của Kiên – tên nhân vật chính, lẫn những trải nghiệm khắc nghiệt, ma quái của những người lính trong những cánh rừng mịt mùng thực – ảo, và một sự sống cô đơn, lạc loài thời hậu chiến, nơi mà người đọc không hiểu những day dứt nội tâm đã biến Kiên thành “người”, thành “ngợm” hay thành một khối xác thịt và tâm hộ dị mọ ra sao nữa.

Cái cảm giác về một Kiên lạc loài thời hậu chiến luôn trở lại trong tôi – thoáng qua nhưng đậm nét mỗi khi tôi tình cờ nhìn thấy Bảo Ninh ở một sự kiện văn học nào đó. Tôi luôn có cảm giác Bảo Ninh lững thững và lặng lẽ đến các sự kiện đó nhưng con người thật của không bao giờ thuộc về nơi đó. Ông không thuộc về cái nơi mà thể xác ông đang hiện hữu. Ông không thuộc về cái nơi mà mọi ồn ào, tung hô, và cả những tranh cãi liên tu bất tận đã trở thành chất men nuôi dưỡng cảm hứng của bao người.

Lần gần nhất tôi thấy ông là cách đây khoảng 2 năm, trong sự kiện ra mắt sách của Tiến sĩ Lê Kiên Thành, khi ông cũng đến, hiện diện ở một góc khán phòng như bao nhiều lần khác. Hôm đó, chị Nguyễn Thúy Hằng – Giám đốc NXB Hội Nhà văn đã phải cầm tay ông, kéo ông lên những hàng ghế phía trên, ân cần, trịnh trọng mời ông ngồi xuống đó. Thế là ông ngồi, theo đúng tình thần ngồi cũng được, mà chẳng ngồi cũng được.

Với ông, những cái ghế trang trọng ở hàng đầu tiên đó như không phải được thiết kế để cho mình. Với ông, những cái ghế đó dường như vô nghĩa. Với ông, đời sống đích thực dường như không còn nằm ở những cái ghế trong một thực tại, mà nằm trong những triền miên day dứt ở đại dương nội tâm mình. Tôi luôn có cảm giác ông giống như Kiên, nhân vật để đời của ông: sống trong thực tại, nhưng luôn vẫy vùng giữa một nội tâm không bao giờ được chữa lành. Cái nội tâm đã được đóng băng, được hình khối hoá, biên giới hoá thành một vương quốc mà ngoài ông, không có bất cứ ai có thể bước chân vào. Tôi còn nghĩ, một ngày nào đó ông ra đi, cái vương quốc đó cùng sẽ cùng ông ra đi.

Lần thứ hai tôi đọc “Thân phận của tình yêu” cách đây chừng 6,7 năm. Lúc đó tôi nghĩ mình cần đọc lại một cuốn tiểu thuyết mà có thể khi còn là Sinh viên Đại học năm thứ hai mình còn chưa hiểu hết. Và, tôi cũng thực hiện việc “đọc lại” với rất nhiều tác phẩm khác, như một thói quen thưởng thức văn chương cá nhân, chứ không chỉ riêng với tác phẩm của Bảo Ninh. Lần đọc lại này vẫn y như lần đầu: cái mùi đời mặn mòi và dị mọ của những trang viết ngày xưa vẫn ùa vào tôi, đôi lúc khiến tôi nghẹt thờ, và muốn đi tìm một lối thoát.

Lối thoát cho ai?

Thoát như thế nào?

Thoát để làm gì?

Tại sao phải thoát?

Trong những ngụm cà phê ở phố Võ Thị Sáu – nơi tôi thường ngồi đọc văn chương hồi đó, có một câu trả lời vô thức đã vang lên: tất cả chúng ta đều đến và đi khỏi trái đất này không hẹn trước. Chúng ta đến không hẹn trước, và đi cũng không hẹn trước. Trong quá trình đến – đi không hẹn trước, chúng ta nghĩ ra rất nhiều hệ giá trị, rất nhiều tiêu chuẩn, và đôi lúc có xu thế áp khung tiêu chuẩn của mình vào người khác. Cái khái niệm “thoát” mà tôi nghĩ đến có thể cũng chỉ nằm trong một khung tiêu chuẩn nào đó. Nó thậm chí có thể là những khung tiêu chuẩn mà ở thời điểm đó tôi bị ảnh hưởng (mà không biết mình bị ảnh hưởng), chứ chưa chắc đã là khung tiêu chuẩn đích thị được khám phá ở trong tôi.

Nhà văn Phan Đăng (Tác giả bài viết)

Bây giờ nghĩ lại, tôi không còn thấy sự nghẹt thở và cái nhu cầu “đi tìm lối thoát” như hồi ấy nữa. Tôi chỉ thấy cái “mùi đời” mà Bảo Ninh phác thảo trong thế giới chữ nghĩa của ông là một “mùi đời” trong hằng hà sa số những “mùi đời” làm nên cuộc sống đích thực này. Trong “Nỗi buồn chiến tranh” có một chi tiết mà không hiểu sao cứ nhắc đến tác phẩm này tôi lại nhớ đến nó đầu tiên, đó là một lần Kiên và những đồng đội của anh tiến sâu vào một cánh rừng, và thấy một con vượn ở sau những lùm cây xa xăm. Tôi không nhớ là họ có nổ súng về phía con vượn đó không, nhưng chắc chắn là sau đó tất cả đều rùng mình nhận ra, đó không phải là một con vượn. Đó là một người đàn bà sống trong rừng. Trông bà ghẻ lở, mốc meo, lông lá, hoang dã như một con vượn.

Tôi nghĩ đấy cũng là một “mùi đời”, và cái cảm giác của Kiên khi chạm vào “mùi đời” ấy có lẽ cũng y như cảm giác của lũ sinh viên chúng tôi khi chạm vào “mùi đời” trong thế giới chữ nghĩa của Bảo Ninh.

Rồi chính Bảo Ninh nữa, một “mùi đời” không định trước đã đến với ông, cả con người thật lẫn con người văn chương của ông, đang đi cùng ông, gắn liền với những khen chê bất tận dành cho cả hai con người này của ông.

Mùi đời mà. Tôi trộm nghĩ, với một người như ông: trong cuộc đời này, mùi gì cũng không còn quan trọng nữa!?

Nguồn: VanVn