Nấm Dẩn, một sinh thái trong lành – Bút ký Đào Thị Thu Hiền

(Vanchuongphuongnam.vn) – Cái tên Nấm Dẩn tôi từng được nghe danh từ rất lâu nhưng mãi đến tận hôm nay mới có duyên hạnh ngộ. Nói thực lòng, lần đầu tiên được đặt chân lên vùng đất rẻo cao nơi biên viễn cực Bắc xa xôi ở mãi tít xứ Tuyên Quang này (trước đây thuộc huyện Xín Mần tỉnh Hà Giang) tôi thấy không khỏi ngẩn ngơ, ngỡ ngàng rồi thật sự đắm say, thích thú … ngay từ cái nhìn đầu tiên, bởi cảnh sắc nơi này quá đẹp, tựa như chốn bồng lai tiên cảnh đặt giữa miền nhân gian.

Đỉnh đèo Gió. Ảnh tác giả cung cấp.

Từ rừng cây, vách núi, triền đồi cho đến ngọn thác, dòng suối, bãi đá …, tất cả mọi vật còn nguyên vẹn sự cao cả, hùng vĩ với những nét hoang sơ, mộc mạc của tạo hoá, tựa như một “viên ngọc thô” tuyệt mỹ hiếm hoi còn sót dưới mặt đất. Chẳng những vậy, miền đất thuần khiết của tự nhiên ở nơi đầu nguồn con nước này (trong tiếng Nùng, hai chữ Nấm Dẩn có nghĩa là khu vực đầu nguồn nước, tên gọi này có lẽ được hình thành từ việc nhìn thấy những ngọn núi rất cao và những dòng nước chảy xuống làm thành nơi bắt đầu xuất phát của những con suối) còn là một trong những cái nôi văn hoá của loài người, hiện đang còn lưu giữ biết bao điều huyền bí của tiền nhân từ thủa hồng hoang. Bởi thế, cũng không ngoa khi nói rằng, đến với Nấm Dẩn là đến với một công chúa còn đang say giấc nồng giữa rừng xanh bao la; là một hành trình khám phá “ngọc báu” giữa đại ngàn biên cương cực Bắc.

Một sinh thái trong lành. Đấy là suy nghĩ chung của chúng tôi về vùng rẻo cao Nấm Dẩn, cách Hà Nội khoảng chừng hơn 300 cây số. Chúng tôi đến miền sinh thái này theo quốc lộ 2, tới ngã ba Vĩnh Tuy, rẽ trái vào đường 183, đi khoảng hơn 60 cây số đến xã Quang Bình (thị trấn Yên Bình huyện Quang Bình của tỉnh Hà Giang trước đây), rồi tiếp tục đi vào đường 178, theo hướng lên xã biên giới Pà Vầy Sủ, đi khoảng hơn 40 cây số là đến trung tâm xã Nấm Dẩn. Nói qua về lộ trình như thế, thoáng nghe tưởng có vẻ dễ đi nhưng không phải. Trải nghiệm trên đường đi, ta mới thấy bản đồ dẫn lối trên Google Map và thực tế di chuyển là hai thế giới hoàn toàn khác biệt, nhất là đoạn rẽ vào quốc lộ 178 trở đi. Bắt đầu từ đây, con đường đến với hệ sinh thái nguyên sơ và thuần khiết ở Nấm Dẩn là một cung đường đèo đầy thử thách với những khúc cua tay áo liên tiếp, cực gắt; dốc như dựng ngược, đều từ 10% đến hơn 10%. Cung đường này quả một thử thách, một bài kiểm tra về lòng quả cảm với các tay lái. Nó không có chỗ cho những tài xế thiếu kinh nghiệm. Nhưng đổi lại, đi trên cung đường này, du khách sẽ được mãn nhãn với những bức tranh tuyệt mỹ của thiên nhiên. Lúc này, đại ngàn cực Bắc hiện ra trong tầm mắt với một cảnh sắc vừa hùng vĩ vừa hoang sơ khiến cho ai nấy không khỏi nao lòng, rạo rực, mê đắm mà quên đi những mệt mỏi hay hiểm trở của đường đi. Có thể nói, phong cảnh núi rừng suốt dọc đường đi, mỗi một đoạn đường, một con đèo mà bánh xe lăn qua là một đặc ân của đất trời xứ này ban cho thị giác. Xa xa, có nơi, ngang lưng chừng núi là những thảm mây trắng bồng bềnh tràn ra như muốn giăng kín cả đại ngàn hay dâng lên như một dải lụa mềm mại khổng lồ để ôm ấp hoặc vắt mình nối liền các dải núi đá trùng điệp. Và, thấp thoáng, bên những sườn núi, ẩn mình dưới những rừng cây xanh thẫm, trên những triền ruộng bậc thang là những bản làng bình yên của đồng bào người H’Mông, người Dao, người Nùng … với những nếp nhà sàn vách gỗ, mái cọ hay trình tường, lợp ngói âm dương bảng lảng làn khói biếc nhìn rất thơ mộng; gợi lên một miền cổ tích đang hiện hữu giữa cuộc đời. Cũng có lúc, bức tranh sơn cước đẹp quá, chúng tôi phải dừng xe để thưởng ngoạn. Khi ấy, rời khỏi không gian máy điều hoà, chúng tôi ngay lập tức được hoà mình vào bầu không khí trong lành, thoáng đãng, dễ chịu của núi đồi vùng cao; được mở toang lồng ngực để hít hà hương rừng dịu nhẹ thoang thoảng cùng mây ngàn, gió núi. Cứ như thế mà bao nhiêu mệt mỏi, ưu phiền chẳng đuổi tự dưng bỗng thấy tiêu tan.

Phiến đá có ký tự cổ ở Nấm Dẩn. Ảnh tác giả cung cấp.

Đoạn đường từ Quang Bình đến đỉnh đèo Gió nhìn trên Google Map thấy báo 25 cây số và dự báo thời gian di chuyển đến nơi khoảng hơn 50 phút nhưng thực tế đường đi có quá nhiều đèo dốc cùng với các khúc cua liên tiếp và là đi lần đầu nên xe chúng tôi phải chạy khá chậm, mất gần một giờ rưỡi. Con đường quốc lộ 178 đi lên đỉnh đèo và từ đỉnh đèo đi về thị trấn Cốc Pài chỗ nào cũng cheo leo, ngoằn ngoèo như rồng rắn uốn lượn trong mây. Nhiều chỗ đường nghiêng, gió thổi mạnh khiến không ít các phượt thủ cũng phải e ngại. Người ta đặt tên cho con đèo là đèo Gió có lẽ là do đỉnh đèo ở trên độ cao khoảng 1500 mét so với mực nước biển nên gió ở đây rất nhiều, rất mạnh. Suốt dọc hai bên đường đèo Gió là những rừng già nguyên sinh rậm rạp (khoảng gần 4000 het ta) với nhiều cổ thụ có tuổi đời vài trăm năm (nhiều cây nghiến hàng ngàn năm tuổi). Người ta bảo, độ cao của cung đường đèo Gió tương đương với cung đường ở Mã Pí Lèng bên cao nguyên đá Đồng Văn, một trong tứ đại đỉnh đèo ở nước ta. Có lẽ sự hiểm trở và cảnh đẹp hùng vĩ của cung đèo như thế mà dân gian truyền nhau câu nói: “Chưa vượt đèo Gió chưa tới Xín Mần” để khẳng định vị trí, ý nghĩa quan trọng của đèo Gió, một điểm đến không thể thiếu được trong hàng trình khám phá huyện vùng cao Xín Mần trước đây. Có lẽ với ý nghĩa và đặc điểm địa hình như thế nên đèo gió không chỉ có giá trị về cảnh quan sinh thái mà còn có giá trị về mặt chiến lược quốc phòng rất cao. Chẳng thế, hồi đầu thế kỷ XX, sau khi người Pháp xâm lược được nước ta, để khẳng định sự có mặt của mình ở Đông Dương và nhằm mục đích kiểm soát, cai trị miền biên viễn xa xôi này mà họ đã cho làm cả một hệ thống đồn, bốt và giao thông hào trên đỉnh đèo hiểm trở để trấn giữ.

Dòng suối dưới chân thác Tiên. Ảnh tác giả cung cấp.

Cách đỉnh đèo Gió khoảng 2 cây số, tiếp tục đi theo quốc lộ 178, ta sẽ đến Thác Tiên, tiếng Nùng gọi là Văng Táng Tinh (Văng là vực, Táng Tinh là con vật giống con kỳ nhông, hình dạng như con rồng, nghĩa là vực rồng). Thác Tiên nằm cách mặt đường khoảng hơn 100 mét. Trước kia, muốn khám phá thác nước ta phải băng qua rừng trúc (vầu) xanh rì xen lẫn những cây nghiến cổ thụ cao chọc trời. Giờ đây, do khai thác du lịch nên người ta đã mở lối bằng các bậc xi măng để đi xuống chân thác cho an toàn và thư thái hơn. Đứng trên đường cái, dù chưa nhìn thấy thác nhưng ta đã nghe thấy tiếng nước đổ ầm ào, vang vọng cả núi rừng tựa như bản hoà tấu của đại ngàn để mời gọi, chào đón du khách. Đi theo các bậc xi măng xuống thác, gần đến nơi, ta sẽ nhìn thấy dòng nước trắng xoá như dải lụa mềm mại từ đỉnh núi cao buông xuống hồ (vực) nước dưới chân vách đá. Tuỳ theo mùa, lượng nước từ đỉnh núi đổ xuống nhiều hay ít mà thác Tiên có từ một đến hai dòng chảy. Dòng bên phải là dòng chính của thác nước. Dòng nước này được chia thành hai tầng. Tầng thứ nhất là một khối nước khổng lồ ở trên đỉnh núi rất cao đổ xuống tầng thác thứ hai. Tầng nước thứ hai cao khoảng 10 mét, bên dưới là một hồ nước, sâu chừng hơn 2 mét, rộng khoảng 20 mét vuông. Nước dưới hồ trong vắt, tràn ra lòng suối toàn đá, len lỏi trong rừng nguyên sinh, đi qua các bản Ngam Lâm, Nấm Chiến, Tân Sơn, Thống Nhất, Nấm Chanh rồi đổ ra sông Chảy ở ngã ba cầu treo thị trấn Cốc Pài. Dòng suối dưới chân thác Tiên rất thơ mộng. Nước suối rất nông, trong vắt, không một gợn bùn, để lộ từng viên sỏi vàng óng dưới đáy. Dọc bên đôi bờ, thảm rừng nguyên sinh đa tầng bao bọc lấy dòng nước. Những vỉa đá nhô ra xen lẫn tán cây là đà sát mặt nước, tạo nên một khung cảnh thiên nhiên tuyệt mỹ. Thỉnh thoảng, giữa lòng suối, ta lại bắt gặp những thân gỗ cổ thụ đổ xuống, không biết từ bao giờ, nằm trầm mặc theo thời gian, càng gợi lên sự hoang sơ, kỳ vĩ. Đứng dưới chân thác, ta sẽ thấy những cơn gió lồng lộng tràn qua, cuốn theo muôn ngàn bọt nước li ti toả ra khắp không gian tựa như một làn sương khói bảng lảng vương vít. Cái lạnh của nước hoà vào cái mát của gió mà xua tan hoàn toàn cái ngột ngạt của đất trời. Giữa trưa hè oi nồng, hơn bao giờ hết, ta sẽ cảm nhận được đầy đủ, rõ ràng, chân thực cái khí hậu mát mẻ, dễ chịu của thác nước đem lại mà chẳng đâu có thể sánh bằng.

Thác Tiên bắt nguồn từ dòng suối Tả Ngán hoang sơ nơi đại ngàn Tả Củ Tỷ (Lào Cai). Khi đi đến bản Ngam Lâm xã Nấm Dẩn (Tuyên Quang), dòng nước đổ xuống theo vách đá đèo Gió, giữa lòng rừng nguyên sinh xanh biếc và làm thành ngọn thác với dòng nước mềm mại, dịu dàng tựa như áng tóc mây huyền thoại, buông hờ từ cõi trời xa thẳm. Nước ở thác Tiên rất ổn định, quanh năm hiền hòa và không bao giờ cạn, khiến cho áng tóc mây ấy như bất tử, tạc vào lòng núi rừng thâm nghiêm một vẻ đẹp vĩnh cửu. Không biết, có phải thác nước thiên tạo như thế mà trí tưởng tượng dân gian đã dệt nên câu chuyện tình bi thương của đôi trai gái người Nùng để thổi hồn vào dòng nước bốn mùa tung bọt trăng xoá, vang vọng đất trời. Chuyện xưa kể rằng, ngày ấy, trong bản có một cô gái rất xinh. Da nàng trắng như măng bóc. Trai bản nhiều người thầm thương trộm nhớ. Rồi trong một lần đi hái măng, cô gái xinh đẹp ấy đã nghe thấy tiếng sáo của một người trai (con của thần rừng) và phải lòng. Nàng đã tìm đến với người con của thần rừng. Dưới chân thác nước, hai người đã thề non hẹn bể và quấn quýt bên nhau. Tuy nhiên mối tình sâu nặng ấy lại không được thần rừng đồng ý. Nhưng vì quá yêu chàng trai nên cô gái đã bỏ nhà, rời bản tìm đến nơi bắt đầu tình yêu để hoá giải nỗi đau. Tại chân thác nước định mệnh, nàng đã trầm mình xuống vực sâu, hóa thân vào dòng suối mát. Mái tóc óng ả của cô buông xuống tạo thành dòng thác êm mượt, đêm ngày réo rắt, ngân vang giống như thể đang kể cho nhân gian cùng nghe về mối tình dang dở, bi thương được lưu danh cùng đất trời. Đến thác Tiên, ngắm nhìn dòng nước trắng xoá đổ từ trên núi cao xuống và nghĩ về câu chuyện buồn của đôi trai gái tôi chợt ngộ ra cảnh càng mãn nhãn thì tình càng thấu cốt bi thương. Rõ ràng cảnh và tình kia chẳng liên quan gì đến nhau, ngọn thác vô tri và khối tình nhân thế vốn chẳng chung đường, vậy mà bao đời nay, người ta vẫn cứ gắn chúng vào với nhau và tin là sự thật. Để rồi, niềm tin ấy vô tình biến một thắng cảnh tự nhiên thành một cõi hoài niệm, trở thành một miền ký ức sống động, khiến lòng người không khỏi rưng rưng một niềm trắc ẩn. Ngắm cảnh thác Tiên, lòng tôi bất chợt bảng lảng trôi về những huyền thoại xa xưa. Tôi nhớ đến nàng Lở Lan xinh đẹp người Dao đã hiến dâng cả tuổi thanh xuân của mình thành dòng thác Tác Tình (Lai Châu) đổ xuống chân núi Putaleng ngào ngạt hương đỗ quyên; nhớ đến mối tình hoá thành thác nước Trai Gái (Thanh Hoá) của đôi uyên ương người Thái; nhớ đến những giọt lệ nghẹn ngào của nàng B’Ri khóc đợi chàng K’Đam để rồi hoá thành dòng thác Dambri huyền thoại của người K’Ho … Thế đấy… Dọc trên dải đất hình chữ S này, còn biết bao dòng thác mang bóng hình bờ cõi và tâm linh như thế. Có lẽ, người xưa không chỉ đơn giản mượn thiên nhiên (nhân cách hoá) để bất tử hóa những mối tình chung thủy. Hẳn là, đằng sau những dòng nước tung bọt trắng xóa bi thương kia là những tiếng thét kiêu hãnh đầy chất thơ, dội thẳng vào những tầng lớp lễ giáo và định kiến hôn nhân phong kiến ngột ngạt. Đó không chỉ là giọt nước mắt thương xót của người đời mà còn là muôn lời cảnh tỉnh thiên thu gửi lại cho hậu thế về quyền được yêu và quyền được sống. Nghĩ thế, nhìn dòng thác tội lại thấy mở ra cả một cõi tấm lòng bao dung và nhân hậu.

Quả thực, nếu nói vùng cao Nấm Dẩn là một hệ sinh thái trong lành thì Thác Tiên chính là trái tim thuần khiết nhất của hệ sinh thái ấy. Cảnh quan ở Thác Tiên tươi đẹp, xanh mát làm mãn nhãn mọi du khách. Những thân vầu xanh biếc chen chúc vươn thẳng lên vòm trời, dệt thành tấm lưới khổng lồ sẵn sàng ngăn cản mọi bức xạ gay gắt. Giữa lòng rừng, hơi nước toả ra, bảng lảng khắp mọi nơi, tựa như một màn sương mỏng làm cho bầu không khí trở nên mát lạnh giữa trưa hè nắng cháy. Dưới chân thác, dòng suối trong veo như một dải lụa, không một gợn bóng, phơi ra từng viên sỏi lấp lánh dưới đáy sâu, uốn lượn dịu dàng giữa rừng nguyên sinh nhiệt đới tầng tầng lớp lớp cây phủ, khẽ khàng nâng niu những vệt nắng hè vàng sánh như mật ong xuyên qua kẽ lá, rơi nhẹ xuống mặt nước. Nước từ đỉnh đèo Gió dội xuống thẳng đứng nhưng không gầm thét vang động. Tiếng nước đổ nhẹ nhàng, thanh tao hoà cùng tiếng gió đại ngàn trên ngọn nghiến, ngọn vầu cùng tiếng chim rừng líu lo khi trầm khi bổng khiến cho khúc nhạc rừng xanh càng trở nên êm ái, du dương. Cái cảnh sắc ấy, cứ thế mà hiện lên trong tầm mắt một cách rất nhẹ nhàng, thoáng đãng và tinh khôi, tĩnh mịch; tựa như một bức tranh thuỷ mặc làm say lòng viễn khách.

Tạm biệt thác Tiên, chúng tôi chúng tôi tiếp tục ngược lên phía thị trấn Cốc Pài đến thảo nguyên Suôi Thầu để thưởng thức phong cảnh của một “Thuỵ Sỹ thu nhỏ trên rẻo biên cương”. Trên đường đi chúng tôi rẽ vào thăm bãi đá có những ký tự cổ của người xưa bên dòng suối Nậm Khoòng ở bản Nấm Chanh. Toạ độ di sản này nằm hoà mình giữa không gian ruộng bậc thang cùng với thấp thoáng những nếp nhà sàn mái cọ của đồng bào người Nùng. Trên bãi đá ấy có 7 phiến lớn và 2 phiến nhỏ; khắc hơn 80 hình vẽ và khoảng 80 lỗ vũng. Cũng bởi có những phiến đá mang những ký tự cổ đó mà đồng bào bản địa gọi triền núi ruộng bậc thang này với cái tên là “Nà Lai Shứ”, nghĩa là “cánh đồng nhiều chữ”. Bãi đá cách quốc lộ 178 khoảng hơn 2 cây số nhưng lối vào rất nhỏ và khúc khuỷu, gập ghềnh, trơn trượt; có chỗ dốc như dựng ngược. Chúng tôi phải nhờ xe máy của dân địa phương đưa lên chỗ phiến đá to nhất, ở tít trên đỉnh đồi cao để chiêm ngưỡng, tìm hiểu nhưng ký tự mờ mờ khắc trên mình đá. Phiến đá rất to, như một mai rùa khổng lồ, dài hơn 10 mét rộng khoảng 9 mét, trên khắc rất nhiều hình vẽ cổ, giống hình người (đang giơ tay dạng chân), hình bàn chân với kích cớ lớn, hình mặt trời, hình ruộng bậc thang, hình vuông, hình tròn, hình chữ nhật, hình vũ khí, hình công cụ lao động, hình sinh thực khí, các vạch song song, các rãnh mài … Theo thông tin khảo cổ học ghi trên các bảng hướng dẫn du lịch trên bãi đá thì bãi đá có niên đại khoảng 2000 năm. Những ký tự trên các phiến đá ấy hiện nay vẫn là một bí ẩn, chưa thể giải mã hết được. Khả năng, những hình vẽ trên các phiến đá ấy là các ký hiệu mã hoá về tập tục văn hoá cổ xưa của người tiền sử. Và bãi đá này cũng có thể đây là khu đất tâm linh của cộng đồng. Người lái xe kể với tôi rằng, “cánh đồng nhiều chữ” này là nơi thần linh cất giữ những bí mật về sổ sách của trời. Hàng năm, vào ngày mùng một tháng sáu, dân bản đến bên các phiến đá dâng lễ vật và cúng thần đá. Chính bởi thế, với đồng bào Nùng ở Nấm Dẩn, bãi đá có những ký tự cổ chính là miền “đất thánh”. Bao đời nay đồng bào tin là thần đá sẽ giúp dân bản mưa thuận, gió hòa, hoa màu tốt tươi, nhân khang, vật thịnh. Đứng nhìn những phiến đá trầm mặc trên cánh đồng, những vết chạm khắc từng hằn sâu trên mặt đá nay cứ mờ dần theo sương gió, nắng mưa ta mới thấy thời gian vô cùng khắc nghiệt nhưng cũng mê hoặc đến lạ kỳ. Mê mải thả hồn theo dòng suy tưởng, trong tôi lại thấy trào dâng những nỗi niềm hoài cổ nghẹn ngào. Bất giác, tôi lại chợt nghĩ, cứ dầm mưa dãi nắng giữa trời như vậy liệu những dòng ký tự cổ xưa của tiền nhân ở Nấm Chanh kia trụ được bao lâu nữa. Trăm năm của một đời người thì đằng đẵng nhưng với “cuốn sử bằng đá” kia, vạn kỷ qua đi cũng chỉ là một bóng chớp qua thềm. Liệu rồi một mai những trang vở đá linh thiêng ấy có tan thành cát bụi, tan vào cõi gió sương vô định? Vẫn biết trên đời chẳng có gì là tồn tại vĩnh viễn nhưng nếu mỗi phiến đá ghi chữ của tiền nhân đang dầm mưa dãi nắng phơi sương ngoài kia có một mái nhà che mưa, chắn gió thì những vết chạm khắc của tổ tiên cũng có thể kéo dài tuổi thọ thêm được hàng trăm ngàn năm nữa để những thế hệ mai sau, khi đứng trước rêu phong, vẫn còn cơ hội giải mã bức thông điệp thâm trầm mà tổ tiên từ nghìn xưa gửi lại.

Chiều buông, rời bước ra khỏi bãi đá cổ, lòng tôi cứ bâng khuâng trước vẻ đẹp vừa hoang dại, vừa tôn nghiêm của vùng cao biên giới Nấm Dẩn. Những địa danh như đèo Gió, thác Tiên, hay bãi đá cổ Nấm Chanh giờ đây không còn là những cái tên vô danh giữa đại ngàn heo hút mà đã được định danh trên bản đồ di sản nước nhà. Di tích Bãi đá cổ bản Nấm Chanh ở xã Nấm Dẩn đã được nhà nước xếp hạng cấp quốc gia năm 2008 và khu danh lam thác Tiên – đèo Gió cũng được xếp hạng thắng cảnh quốc gia vào năm 2009. Nhưng rồi lại nghĩ, bản đồ du lịch ở Nấm Dẩn đã mở ra nhưng giao thông và hạ tầng ở đây còn chưa theo kịp. Muốn nhiều người biết hơn nữa về những thắng cảnh và di sản ở Nấm Dẩn đường đi và các dịch vụ chắc chắn phải đi trước một bước để đón chân du khách. Nghĩ thế, rồi lại nhìn sang những vùng đất khác. Du lịch mở ra và bản sắc văn hoá cứ mất dần vì làn sóng thương mại hóa. Bất giác, tôi giật mình và tự hỏi: liệu một mai, khi rộn rã thanh âm của những bước chân du lịch, Nấm Dẩn có còn giữ nổi cho mình là một sinh thái trong lành nữa hay không?

Đ.T.T.H