(Vanchuongphuongnam.vn) – Cuối tuần, tôi mở tủ lấy một gói cà phê G7 như thói quen. Nhưng bịch đã trống không. Tôi đứng khựng lại, rồi lặng lẽ chuyển sang pha cà phê phin. Nước sôi nhỏ giọt, mùi cà phê bốc lên chậm rãi, đậm và nồng.

Tác giả Lê Thi
Không hiểu sao, tôi nhỏ thêm vài giọt nước mắm nhĩ mang từ quê sang. Một thứ vị rất lạ. Tôi nhấp một ngụm.Đắng. Mặn. Và nóng ran. Chỉ một ngụm thôi, ký ức như bị đánh thức. Tôi nhớ đến nó. Thằng Trạng. Trạng “Sém”.
Chiều đông năm ấy, chúng tôi là lũ trẻ chăn trâu đầu trần chân đất. Cái đói theo suốt những ngày dài, cái lạnh len vào tận xương. Chiều nào cũng vậy, sau khi lùa trâu về bãi, cả bọn lại tụ lại một chỗ, gom củi đốt lửa. Đứa nào kiếm được gì thì góp: củ mì, củ khoai, con cua, con ốc… Có hôm may mắn, được cả tổ ong. Mùi khói quyện với mùi thức ăn cháy, thơm đến nao lòng. Một củ khoai chuyền tay nhau, cắn dở, in dấu răng của cả bọn mà vẫn thấy ngon.
Hôm đó trời lạnh hơn mọi ngày.
Thằng Tiến, lớn nhất, đứng ra phân việc:
– Bình nhóm lửa.
– Tí, Tèo xuống ruộng mò cua.
– Na, Trạng đi gom củi.
– Giáp, Ba kiếm củ mì
– Hương với mày đi đốt tổ ong.
Tôi gật đầu. Việc đốt ong vừa nguy hiểm, vừa oai.
Thằng Trạng không nói gì. Nó chỉ lặng lẽ ôm bó củi lớn, đi về phía bãi đất trống. Nó lúc nào cũng vậy, ít nói, gầy cao lêu khêu, nhưng làm gì cũng chăm và thương bạn. Kỷ niệm nó giấu vắt xôi giỗ bà nội nó cho chúng tôi giờ sao quên được.
Một lúc sau, thằng Tèo hí hửng chạy về với xâu cua và hai con ếch. Cả bọn reo lên. Một bữa ăn “thịnh soạn ” đang chờ phía trước. Bọn thằng Giáp kiếm được mấy củ khoai.
Tôi và Hương lom khom bên bụi tre, lên phương án đốt tổ ong vò vẽ. Hai đứa tính toán rất kỹ. Ong vò vẽ không dễ ăn. Nhớ lại mấy phát tháng trước giờ thịt thâm đen như chữ xu nên thay đổi chiến thuật và thận trọng
– Phải nhiều khói — Hương nói.
Tôi đi kiếm thêm rơm khô.
Rồi…
“BÙM!”
Âm thanh xé toạc buổi chiều. Tôi chết sững. Một cột khói đen bốc lên từ phía đống lửa.
– Chạy!
Chúng tôi lao về phía đó. Mùi khét ập vào mặt. Không còn là mùi khoai nướng. Là mùi thuốc súng. Mùi thịt cháy.
Cảnh tượng trước mắt khiến tôi không thở nổi.
Khoảng đất nơi đống lửa vừa nãy giờ cháy đen. Không còn nguyên vẹn bất cứ thứ gì. Tôi không nhận ra đứa nào trong đám bạn mình. Tiếng người lớn la thét í ới, cả làng đổ chạy đến đây. Tiếng gọi con. Tiếng khóc xé lòng.
Mẹ thằng Tí gào lên rồi ngã quỵ. Cha thằng Bình quỳ xuống, bới từng nắm đất. Người ta đi nhặt từng mảnh còn sót lại, ở bờ ruộng, bụi sim, gốc me…Năm đứa. Không còn hình hài.
Chiều hôm sau, trên ngọn đồi nhỏ, năm đứa bạn tôi được chôn chung. Nằm lại bên bờ sông tắm mát, chăn trâu, thả diều mãi mãi tuổi 15. Không quan tài, không đủ thân thể. Chỉ có đất, và nước mắt. Thằng Trạng không chết. Nó bị hất văng ra xa.
Khi người ta tìm thấy, nó còn thở. Nhưng khuôn mặt…
Da thịt co rúm, cháy sém. Chỗ đen như vỏ khoai, chỗ trắng bệch như trứng chiên. Nó sống. Nhưng từ hôm đó, nó không còn là nó nữa. Nó đập vỡ hết gương trong nhà. Nó giấu cả nụ cười sau khuôn mặt dị dạng ấy. Ngày nắng cũng như ngày mưa nó đội mũ bông rộng vành bạc phếch trùm kín, hai bên rũ xuống như tai con Basset Hound, như muốn giấu đi khuôn mặt mà chính nó cũng không dám đối diện. Nó bỏ học. Nó không nói chuyện với ai. Và tôi không bao giờ còn thấy nó cười. Nó cười càng khiếp sợ hơn, khuôn mặt như vỏ lon bóp lại.
Bé Na hôm đó đi gom củi về muộn nên thoát chết.
Nhưng một mảnh đạn đã cắt đi một phần cơ thể ngọc ngà quyến rũ. Từ một đứa con gái xinh nhất xóm, hay hát, hay cười… Na trở nên lặng lẽ. Nó đi lệch. Nó cúi mặt. Không nhìn ai khi nói chuyện. Lớp học hôm ấy vắng bảy cái tên. Năm đứa nằm lại trên đồi. Hai đứa… sống mà như đã rời khỏi thế giới cũ.
Một buổi chiều, thằng Trạng biến mất. Nó không muốn nghe người đời gọi nó là Sém. Không một lời từ biệt.
Người ta chỉ nghe nói nó vào Tây Nguyên. Rồi bặt tin.
Na cũng rời làng sau đó vài năm. Không ai biết đi đâu. Nàng không muốn nghe nói về tương lai của mình phải làm mẹ, làm vợ khi phải đi xin sữa … khi những hiểu biết nông cạn trẻ phải sống bằng sữa mẹ. Những định kiến phụ nữ phải có chồng, nào ngờ nay những “single mom” cũng sướng như bà hoàng.
Tôi lớn lên, rời làng, sống ở một vùng trời xa lắc xa lơ.
Những cái tên dần chìm xuống. Cho đến hôm nay. Một ngụm cà phê. Và tất cả trở về. Người ta nói, ở Tây Nguyên có một ông chủ đồn điền, mặt bị cháy, rất ít khi xuất hiện.
Cũng có người kể về một người phụ nữ tật nguyền làm việc trong xưởng nông sản, sống lặng lẽ trong màu áo lam.
Tôi không biết đó có phải họ không. Đã bao năm tôi chưa tìm được để kết nối liên lạc. Và cũng hy vọng những điều tốt đẹp nhất hãy đến với bạn tôi. Có những ký ức… chỉ nên đứng nhìn từ xa, gần trần trụi và đau đớn thêm. Cà phê đã nguội.Tôi nhấp thêm một ngụm. Vẫn đắng, nhưng lần này, có gì đó rất nhẹ… như vị ngọt. Tôi chợt nghĩ, biết đâu những hạt cà phê này đến từ vùng đất nơi nó đang sống. Biết đâu, trong vị đắng này… có bàn tay của Trạng, có hơi thở của Na, của những con người đã đi qua lửa, chạy khỏi lũy tre làng để giấu nỗi đau.
Mặt trời ngoài sân còn nghiêng nhẹ trên những tán lá. Nắng cuối chiều rót qua ô cửa sổ phủ lên những vệt vàng và mỏng trên nền gạch cũ. Tôi khẽ nói, như nói với chính mình:
– Nếu còn sống… một lần thôi… tụi mình gặp lại nhé.
Không có ai trả lời. Chỉ có mùi cà phê. Và một vùng ký ức… không bao giờ nguội. Ước gì mùa hè năm nay ta được họp “lớp chăn trâu” ngày ấy. Cuộc đời này nó nghiệt ngã vậy. Thằng nằm xuống được ở lại quê nhà, thằng bò dậy phải chạy trốn khỏi quê ngoảnh đầu trở lại. Nhìn những cột khói cuộc chiến Mỹ-Iran lòng tôi quặn thắt, nỗi khiếp sợ chiều ấy đã đi theo cả cuộc đời.
Cho tau được gọi mày một tiếng giữa trời chiều Sém ơi!
Mùa khoai Ohio 2026
L.T.











