Chiếc nóp quê hương – Tùy bút Đan Thanh

57

(Vanchuongphuongnam.vn) – Thời kháng chiến chống Pháp, trong giai đoạn đầu cuộc đấu tranh gian lao vì sự nghiệp giải phóng dân tộc còn thiếu thốn quân dụng, có một hình tượng đặc biệt mang đậm màu sắc quê hương, không thể thiếu cho nhân dân lao động và những chiến sĩ yêu nước tham gia kháng chiến. Đó là chiếc nóp bàng mà người dân Nam bộ sống cách đây khoảng bảy thập niên đều biết đến.

Chiếc nóp bàng Nam bộ 

Ngày ấy, nông dân ta thường đan đệm bàng để phơi lúa hay trải làm chiếu. Bàng thuộc loại lát (hay cói) thân trụ tròn và mềm, giống như loài năn (hay nen) thường mọc ở triền sông hoặc nơi ruộng đồng ẩm nước vũng Nhà Bàng – Thất Sơn (An Giang). Chiếc đệm hình vuông, mỗi cạnh rộng khoảng 1 mét 7. Về sau, người ta có sáng kiến gập nó lại rồi may dính theo hình chiếc bao thơ để ngủ thay mùng. Khi chui vào ngủ, người ta nằm đè lên phần dư ra của mí nóp; từ ngoài nhìn hai góc dựng cạnh đứng lên trông như chiếc mũ ca-lô của thiếu nhi.

Trong thời kỳ dân ta còn chịu cảnh sống đói nghèo thiếu thốn vật chất, chiếc nóp bàng là một vật dụng hữu ích. Nó vừa dùng để phơi ngũ cốc, vừa làm chiếu và cũng vừa làm mùng ngủ lúc lao động. Nơi nào ta cũng có thể lật nóp ra ngủ. Muỗi mòng, rắn, rết đều không thể chui vào. Có thể lật nóp ngủ trên bộ ván, dưới nền nhà khô ráo, trước sân nhà, trên xuồng hoặc mui ghe thương hồ, ngoài đồng, thậm chí sử dụng nó để ngủ cả trong rừng lúc đi chiến đấu. Ngủ nóp chưa quen có thể cảm thấy  phần tù túng, ngột ngạt khó chịu. Nhưng thà như vậy mà tránh được muỗi mòng, bù mắt của vùng đất đai, đồng ruộng Nam bộ còn khá hoang vu thuở ấy.

Khoảng những năm 1940 – 1945, khi chúng tôi đang ở lứa tuổi thanh niên, cây cỏ vùng này còn um tùm, hoang vu, nơi nào muỗi cũng bay mịt mùng như trấu vải, nhất là loài bù mắt thì không kể ngày đêm lúc nào cũng có. Do vậy, chiếc nóp đã trở thành vật bất ly thân của người nông dân và chiến sĩ cách mạng vùng này.

Cách mạng Tháng Tám thành công không bao lâu, thực dân Pháp lại gây hấn, thanh niên quê tôi lớp lớp ra trận theo tiếng hát giục giã lên đường cứu nước “Mùa thu rồi ngày 23 ta đi theo tiếng kêu sơn hà nguy biến”(1).  Hầu hết nam nữ thanh niên tự trang bị tầm vông vót nhọn và mang theo chiếc nóp như đeo ba lô bây giờ. Chiếc nóp rất thuận lợi. Khi cần thiết, ta có thể cho vào nóp mọi thứ đồ dùng lặt vặt như quần áo, khăn tắm sau đó cuốn gọn lại đeo trên lưng. Ngủ ban ngày, chiếc nóp dùng làm gối. đi xuồng nếu gặp gió xuôi, có thể xổ nóp ra, chống cây biến thành buồm.

Nóp và giáo mang ngang vai

Năm 1948, tức là một năm sau chiến thắng Thu Đông ở Việt Bắc của quân dân ta, tôi được đi học lớp hội họa kháng chiến 3 tháng trong rừng U Minh Thượng cận miền cuối Việt. Tôi và các bạn học kể cả thầy giáo dạy chúng tôi đều ngủ nóp. Bạn tôi, có đứa dùng nóp quá lâu, sợi bàng bị giản thưa sắp rách nên chiều nào cũng phải phun nước cho bàng nở khít lại, để muỗi mòng không thể “đột kích” vào. Bạn tôi, họa sĩ Vũ Ba may mắn không biết tìm đâu ra được một mảnh nhỏ khăn tắm cũ, anh ta khoét một lỗ vuông ở thành nóp rồi vá miếng vải khăn cũ vào cho thoáng khí, dễ thở khi ngủ. Chúng tôi rất thích sáng kiến này, nhưng mấy ai tìm ra được mảnh khăn như vậy.

Có một lần, tôi và một bạn cán bộ được phân công đến làm thay và chăm sóc một đồng chí bị bệnh nặng đang giữ trại sản xuất tự túc ở khá xa cơ quan. Không may, đêm đó, đồng chí ấy qua đời, lại vừa lúc có tin giặc sắp càn vào khu vực trại đóng quân. Chúng tôi chỉ kịp bó anh vào chiếc nóp rồi vội vã chôn người bạn ngay trong đêm. Anh bạn vắn số của chúng tôi nằm đó, chiếc nóp quấn thân anh như chàng tráng sĩ ngày xưa da ngựa bọc thây chốn sa trường!

Những ngày qua, tôi có dịp xem phim Đất phương Nam quay cảnh nông dân miệt trên hay kéo nhau xuống Rạch Giá, Sóc Trăng làm mướn cho chủ điền. Trong xuồng của họ có đủ liềm hái, vòng gặt nhưng tôi ngạc nhiên không hề thấy bóng dáng chiếc nóp đa dụng của thời điểm xa xưa đó. Phải chăng các đạo diễn trẻ đã vô tình quên đi chiếc nóp vốn là vật dụng khắc đậm dấu ấn thời sự của nhân dân Nam bộ trong một giai đoạn lịch sử không thể nào quên.

Hôm nay, trời vẫn còn hiu hắt gió may trong những ngày thu muộn. Mỗi khi bất chợt nghe lại âm vang câu hát “nóp với giáo mang ngang vai nhưng thân trai nào kém oai hùng”(2), tôi cảm thấy dạt dào nhớ nhiều kỷ niệm về chiếc nóp trong kháng chiến 9 năm. Thời ấy, dù ngủ nơi đâu, bằng cách nào, chúng tôi vẫn hăng hái yêu đời. Mỗi năm sắp Tết, mùa gió chướng hiu hiu thổi về trong không gian lồng lộng hay lúc đất trời âm u, lạnh lẽo, tôi có ý nghĩ muốn được chui lại vào chiếc nóp bàng thuở ấy mong tìm lại chút dư vị riêng của những ngày thoát ly đi kháng chiến. Vì lẽ trong giấc ngủ nóp, chúng tôi có dịp mơ đến ngày chiến thắng rộn ràng trở lại làng quê, thỏa mãn nỗi nhớ ngôi nhà tuổi thơ êm đềm, nơi có ông bà, cha mẹ, em út và có cả người yêu. Nằm trong nóp bốn bề chật hẹp nhưng vẫn cảm thấy là không gian ấm áp của riêng mình. Vì lẽ chúng tôi vẫn có thể cùng nhau trò chuyện, vui đùa và đàn hát lạc quan trong tình đồng chí bạn bè.

Bóng dáng chiến tranh tang tóc đã lùi xa, chuỗi ngày gian nan vào sinh ra tử không còn tồn tại. Nhân dân, chiến sĩ ta đang sống hòa bình trong điều kiện vật chất ngày càng đầy đủ. Quân đội ta hôm nay đã trưởng thành với trang bị hiện đại, chính quy ngang hàng với thế giới. Nhưng thế hệ chúng tôi làm sao quên được cái thuở ban đầu ra đi vì đại nghĩa của dân tộc với chiếc nóp quê hương.

                          Đ.T                                                            

 

(1), (2): Lời ca trong bài hát Nam bộ kháng chiến của Tạ Thanh Sơn và Nguyễn Bính