Khôi Vũ: Nhà văn thế sự

946

Bùi Công Thuấn

(Vanchuongphuongnam.vn) – Cái khó, và rất khó của nhà văn là viết, viết cho hay, viết có ích cho đời, để rồi 72 giờ sau mọi người còn nhắc đến ông (?). Cái khó là làm sao giữ được ánh sáng lương tri của nhân loại và cốt cách kẻ sĩ, để không bị tha hóa trước cuộc đời.

Khôi Vũ và Bùi Công Thuấn

Tôi đã đọc được khoảng 80 truyện ngắn của Khôi Vũ, những truyện đã in hoặc đăng rải rác, trong các tập: Già lửa (nhà xuất bản Đồng Nai, 1988), Tri thiên mệnh (nhà xuất bản Văn Nghệ Thành phố Hồ Chí Minh, 2001), Phù Phiếm Bên Biển (nhà xuất bản Văn Nghệ, 2010), đây là tuyển tập truyện ngắn của Khôi Vũ do báo Tuổi Trẻ chọn đăng trong khoảng 25 năm (1984-2009), Đàn ống tre bên kia sông (nhà xuất bản Đồng Nai, 2013), và Người giỏi hơn chưa chắc đã thắng (nhà xuất bản Văn hóa – Văn Nghệ TP Hồ Chí Minh, 2014). Dõi theo thời gian ghi ở cuối truyện, 80 câu truyện ấy nằm trong một chặng đường sáng tác hơn 30 năm của Khôi Vũ (truyện Cây buông già, 1981), và đủ khẳng định những đặc sắc nghệ thuật truyện ngắn của ông.


1. Nhà văn thế sự và những câu chuyện thời sự

Không phải tình cờ mà báo Tuổi trẻ đăng nhiều truyện ngắn của Khôi Vũ. Là vì những truyện ngắn ấy đề cập đến những vấn đề thời sự. Viết về những chuyện báo chí đã đưa tin là rất khó, bởi tác phẩm văn chương không thể theo kịp tốc độ đưa tin của báo. Nhà văn phải có cách tiếp nhận và xử lý thông tin thế nào để câu chuyện không bị lạc hậu và góp được tiếng nói vào những vấn đề đang diễn ra. Khôi Vũ đã nhìn và tái hiện vấn đề thời sự dưới nhãn quan của chủ nghĩa nhân văn. Tôi thích cách lý giải này, bởi nhà văn không phải là người có nhiệm vụ giải quyết những vấn đề xã hội, nhưng nhà văn cần lên tiếng nói và góp một cách nhìn làm cho xã hội tốt hơn lên, khác với cách đưa tin câu view của báo chí và những kiểu “comment” của công luận.

Khôi Vũ quan tâm đến khá nhiều vấn đề thời sự. Chẳng hạn, chuyện người Việt sang Campuchia đánh bạc bị bắt làm con tin (Vé số quê nhà), chuyện có những cô gái Việt bị an ninh Singapore bắt ở phi trường vì bị nghi làm gái mại dâm (Cào cào tuổi nhớ). Đã có một thời rộ lên chuyện người nông dân bán đất, cầm tiển tỷ trong tay làm ăn, bị lừa mất sạch (Lỗ mọt), chuyện người công nhân làm cho công ty nước ngoài bị chủ ngược đãi (Say nắng). Nhiều “chuyện thường ngày” ở các cơ quan, như nhờ thói ngậm tăm mà “ông” được lên Phó Giám Đốc (Thói ngậm tăm), chuyện họp hành tẻ nhạt (Một cuộc họp), chuyện xin việc: làm sao… ”tìm được một nơi làm việc mà không phải làm điều quấy không phải nói dối và hối lộ” (Bản tự truyện thay đơn). Ở Đồng Nai, vấn đề ô nhiễm là vấn đề công luận đã lên tiếng. Dòng sông quê, dòng sông chảy qua Cù lao Phố, ”dòng sông đang bị giết chết” (Vòng luân hồi của nước). Khôi Vũ cũng quan tâm đến vấn đề bảo vệ loài vật (Con sáo nâu biết nói tiếng Việt). Nhà văn cũng phê phán những hiện tượng suy đồi về văn hóa, đạo đức: về những chương trình ca nhạc không nghệ thuật (Trái chín giú), lối sống thực dụng của đời sống kinh tế thị trường (Nhà trên ao), chuyện tình cũ không rủ cũng đến (Lần thứ ba), đánh ghen (Ngàn sao), những tình cảnh ngang trái (Trái dưa tây lép) và nhiều câu chuyện trong các chuyến du lịch (Chay ở Chai, Trẻ con không trẻ con, Con sáo nâu biết nói tiếng Việt, và phần tạp văn Ngày tháng trôi như nước sông)…

Từ những chuyện thời sự, Khôi Vũ nâng lên thành chuyện thế sự, chuyện đời, những chuyện của mọi thời. Đó là những cảnh đời, những thói đời, những quan hệ giữa phức tạp giữa người với người mà ông chứng kiến và suy gẫm. Từ đây, nhiều truyện của ông có ánh sáng minh triết. Truyện ngắn Tri thiên mệnh là một thí dụ. Ông viết: “Năm ấy tôi 23 tuổi may mắn đã ngộ ra nhiều điều từ lời dạy và cuộc đời của cha tôi.”

Khôi Vũ cười những kẻ háo danh (Nhà thơ), về những kẻ làm Trò khỉ, về thời đại ai cũng có quyền trên người khác như Vĩ nhân. Ông ghét những kẻ chuyên làm ma sống rình mò hãm hại người khác (Hội làm ma). Ông đau đớn chỉ ra rằng chữ của nhà văn thời nay toàn là Chữ giả. Nhà văn chẳng khác gì con bồ chao, dù nó đã thoát khỏi lồng, nhưng vẫn chui trở lại và thích hót ở trong lồng, vì trong lồng có đồ ăn thức uống (Con bồ chao đoạt giải). Khôi Vũ kể Tình mèo để nói về thói Sở Khanh: “Thế con người hơn con mèo ở chỗ nào mà người ta lại dám nghĩ xấu về loài mèo khi thường nói: đồ mèo mả gà đồng?”. Ngôi nhà chữ Đinh kể câu chuyện về một thầy giáo có học trò thành đạt, đối xử với thầy trọn tình trọn đạo. Học trò bỏ nhiều tiền sửa ngôi nhà chữ Đinh cho thầy và thầy mãn nguyện nhắm mắt. Nhưng thầy có biết đâu, ngay sau khi thầy rời xa cõi người, học trò đã phá bỏ ngôi nhà chữ Đinh ấy, nghĩa là phá bỏ tất cả những truyền thống, những giá trị thầy gìn giữ, để thay vào đó cái thực dụng.

Khôi Vũ sống gần với người lao động lương thiện, ông đứng trên nhân nghĩa của người lao động mà đánh giá các vấn đề xã hội. Ông tận mắt chứng kiến họa sĩ dân gian vẽ những kẻ hai mặt và nhận ra rằng những kẻ tham nhũng thường sợ bị phơi mặt thật (Họa sĩ biếm dân gian). Trên một chuyến xe Đa Lạt về, Nhà Văn chứng kiến và ngẫm nghĩ bao điều: ”…những chiếc xe tranh khách chạy với tốc độ trên trăm cây số biết lúc nào để xảy ra tai nạn. Như cô bé tuổi học trò đã sớm yêu đương. Như chị phụ nữ đếm tiền hàng chục triệu mà xài điện thoại đời cũ anh thanh niên kỳ kèo từng năm ngàn đồng… (Cái vết trắng). Khôi Vũ ca ngợi ông Bành Ky (Hảo hớn), một kẻ phải bú chó mà sống, đã bênh vực kẻ yếu, không tha thứ cái xấu, thông cảm tình cảnh cô gái giang hồ. Khôi Vũ đứng ở vùng trũng cổng chợ (Buổi sáng) để lắng nghe câu chuyện của những cảnh đời dưới đáy. Hoặc chia sẻ “Nỗi buồn dưa hấu” của nguồi bán dưa vào 30 tết, chia sẻ cảnh đời công nhân khó khăn (Máng trượt) hoặc ngậm ngùi trước khát vọng của con người bị chà đạp (Hoàng hôn). Ông đã miêu tả thật ấm áp tình người của xóm gầm cầu khi nơi họ ở vị giải tỏa (Đám bông 10 giờ bên mố cầu). Truyện ngắn Tiền sạch là một chút xót xa cho tình cảnh một người về hưu, muốn sống lương thiện nhưng bị lợi dụng mà không biết. Mùi phở là khát vọng của một người ăn nhịn để dành mong cho con cháu học hành làm quan. Người đàn bà nhặt bông sứ bị rắn cắn chết để lại trong lòng nhà văn nhiều day dứt: ”Mỗi buổi sáng nhìn qua vườn sứ tôi lại nhớ đến một người nhặt hương cho đời cuối cùng chỉ nhặt lại cho mình có chăng lòng nhớ thương của dăm ba người nào đó như tôi…”.

Tôi thích những câu truyện mà Khôi Vũ dẫn người đọc thâm nhậm rất sâu những cảnh đời dõi theo những số phận, để khám phá những vấn đề có ý nghĩa tư tưởng. Ở những truyện này, Khôi Vũ có vốn sống đầy đặn, có bút lực mạnh mẽ, có tình Người ấm nồng, nhờ đó truyện giàu ý nghĩa tư tưởng. Người đập tường đá là sự thăng trầm của kiếp người, hình như có nhân có quả. San hô nỗi buồn đau đáu về phận người xin ăn la liệt ở ngay dưới chân đức Phật (nơi tham quan), nhưng không biết Ngài có quan tâm không! Tìm ngọc là đi tìm cái hạnh phúc đích thực ở đời, tình yêu chân thực đó chính là ngọc. Lời của thác là chọn lựa thái độ trung thực, nương tựa vào chính mình. Mưa biển là một suy nghiệm triết lý, mình không thể giữ được những gì không thuộc về mình. Biển là sự tra vấn lương tâm: ”Tội lỗi của con người có thể che dấu trước mọi người chung quanh, trừ chính y”; “Biển già đến bạc đầu sóng mà vẫn cứ hồn nhiên, cớ sao con người chỉ lo đối phó với cuộc sống, với đồng loại thay vì sống hồn nhiên hơn, để đến nỗi chỉ có trăm năm một đời người, đầu đã bạc” . 72 giờ sau là câu chuyện linh hồn một người đã chết, kể truyện đời mình. Anh ta đã sống rất tốt, rất chuẩn mực và cuộc ra đi cũng được tổ chức tốt đẹp. Nhưng sau đó, chẳng còn ai nhắc tới anh ta nữa vì “cuộc đời anh chẳng có gì để nhắc. Trừ chuyện anh bị chiếc xe tải nhỏ không chịu dừng đèn đỏ tông chết. Nhưng chuyện ấy thì bà bán quán đã nói một lần rồi! Mà ai cũng biết!”. Khôi Vũ đặt vấn đề, đâu là giá trị của đời người? Là cách sống chuẩn mực? Hay là ở những gì mình làm được cho đời?

Trả lời cho vấn đề đó, Khôi Vũ hướng về cuộc đời. Thái độ sống của các nhân vật trong tập truyện ngắn Đàn ống tre bên kia sông là một lời khẳng định. Đây là tập truyện ngắn Khôi Vũ viết riêng về con người Đồng Nai. Cây buông già ca ngợi ông Năm Đán, con người Đồng Nai tiên phong, kiên định, tình nghĩa. Thần nông lên đồi khắc họa con người Đồng Nai kiên cường trong đấu tranh, cũng kiên định trong lao động sản xuất; sống có nghĩa có tình, có lý tưởng. Thầy thuốc búi tó là ông già Hưởng, như thần Dớt nổi giận trước sự suy đồi văn hóa văn hóa. Quán xe thồ viết về Bảy Năng, cán bộ hưu trí, người tham gia kháng chiến từ thời chống Pháp. Bảy Năng giúp cho Hổ Trâu điên, nguyên là lính Cộng Hòa, tổ chức đoàn xe thồ làm ăn, vì Bảy nhận định Hổ không là người xấu, hướng cho anh ta đi đúng thì sẽ tốt. Đất sóng là vùng đất làm khó con người. Nhiều mảnh đời người cũng trăn trở như đất, cuối cùng đã hiểu mình hơn. Những con người như Sơn, Tuấn đang là con chim B’rling bay lên. Đàn ống tre bên kia sông là bài ca đầy tin yêu về đất nước này, về cuộc sống này, tình yêu Khôi Vũ dành cho quê hương Đồng Nai.


2. Sự phong phú nghệ thuật truyện ngắn của Khôi Vũ

Có thể nói Vé số quê nhà là một “kiểu mẫu” về cấu trúc truyện ngắn của Khôi Vũ, những truyện ngắn đăng trên báo Tuổi trẻ. Cấu trúc ấy có dáng dấp trong các truyện Thói ngậm tăm, Ngủ cùng rắn mối, Nỗi buồn dưa hấu, Họa sĩ Biếm dân gian, Hoàng hôn, Về hưu, Tiền sạch, Ghét học, Mùi phở, Đám bông mười giờ bên mố cầu, Cào cào tuổi nhớ… Truyện thường mở đầu bằng một cảnh ở hiện tại, rồi phát triển bằng những cảnh kể lại lai lịch nhân vật, đầu đuôi câu chuyện. Có thể xen kẽ những cảnh giữa quá khứ và hiện tại, và sau cùng trở về hiện tại giải quyết vấn đề nếu ra ở cảnh mở đầu.

Xin đọc Vé số quê nhà. Cảnh 1: (hiện tại) Anh em Sok Cung, Sok Va bán nước giải khát ở góc đường đối diện cửa chợ Pnom Pênh, ở góc đường phía bên kia, Siêng bán vé số. Siêng gửi xe đạp ở chỗ Cung. Cả ba nói chuyện… Siêng ngắt đôi số vé không bán hết tặng anh em Cung, Va, nói là trả “tiền giữ xe”. Cung cười: “Mình mà trúng số lớn mình sẽ bao Siêng về chơi Việt Nam”. Cảnh 2: (Lai lịch của Siêng) Siêng từ Việt Nam sang Campuchia đánh bạc, thua, vay nợ, bị bắt làm con tin. Ba năm phục vụ “đại ca” cật lực, Siêng đã trả hết nợ. Siêng may mắn giúp được một chị phụ nữ đánh bạc cũng bị bắt làm con tin và được chị ta đền ơn nên có tiền. Cảnh 3: (kể lại kỷ niệm của Siêng với Va), Siêng dạy cho Va học tiếng Việt và hứa nếu trúng số lớn sẽ cưới Va và đưa Va về Việt Nam. Lần ấy Siêng chỉ trúng hai số nhỏ. Cảnh 4: (ở hiện tại). Va đã lấy chồng, Siêng buồn lắm. Siêng muốn về quê. Lâu lắm rồi, Siêng không thể hình dung ra cảnh vật quê nhà đã thay đổi ra sao. Truyện hấp dẫn nhờ Khôi Vũ miêu tả khá “trần trụi” cảnh Siêng may mắn cứu được người phụ nữ bị bắt làm con tin, và lần Siêng trúng số nhỏ sau khi chơi gái…

Khôi Vũ kết hợp kỹ thuật dựng cảnh với trần thuật. Chọn một hành động hay lời thoại có sức đóng đinh vào ấn tượng bạn đọc, đồng thời phát triển thêm các tình tiết mới, khiến câu truyện ngày càng trở nên hấp dẫn. Chi tiết “Siêng về chơi Việt Nam” được phát triển như một tứ thơ, kết nối các cảnh, khiến cho kết cấu truyện chặt chẽ, truyện thấp thoáng một chủ đề lãng mạn. Tôi gọi là cách tạo chủ đề này là lãng mạn vì Siêng là người Việt, anh ta có thể về Việt Nam bất cứ lúc nào, đâu cần chờ đến khi trúng số. Miêu tả bằng ngòi bút hiện thực thì Siêng chỉ là một con bạc giang hồ, một kiểu nhân vật suy đồi, khó có được tình cảm của bạn đọc. Nhờ nghệ thuật dựng truyện, Khôi Vũ đã thành công chuyển hóa những tin thời sự về chuyện người Việt sang Campuchia đánh bạc thành một truyện văn học. Đó là tài năng.

Cùng một cách dựng truyện, nhưng Khôi Vũ tạo được nhiều màu sắc thẩm mỹ riêng. Tìm ngọc có dáng dấp truyện đường rừng. Các cảnh trong Mưa biển được dựng như trong phim hành động. Nhiều truyện mang đặc điểm truyện khôi hài có hàm ý phê phán nhẹ nhàng như Chay ở Chai, Thói ngậm tăm, Mùi phở, Nhận giải thưởng, Nỗi buồn dưa hấy, Vai Phục, Một cuộc họp, Con bồ chao đạt giải, Bong võng mạc, Ghét học… Nhiều truyện như những ẩn dụ: Chữ giả, Tình mèo, Trò khỉ, Ngôi nhà chữ Đinh, Hội làm ma, Ngựa ô, 72 giờ sau, Giờ Thiền… Những truyện hiện thực giàu tình cảm nhân đạo có sức hấp dẫn riêng: Người đàn bà nhặt bông sứ, Đám bông mười giờ bên mố cầu, Người đập tường đá, Hoàng hôn, Ngàn sao, Say nắng, Trái dưa tây lép, Đất sóng, Người bệnh cuối ở Long Giao…

Nếu để ý, bạn đọc thể phát hiện Khôi Vũ có những sáng tạo chi tiết rất “độc”, thí dụ, tư thế nằm ngồi của ông Phó Bí thư trong Bong võng mạc. Sau phẫu thuật, ông phải ở trong tư thế “nằm thì phải nằm sấp ngồi thì phải cúi gập đầu thẳng góc với mặt đất… một tư thế chẳng giống ai… Nhiều lúc ông chỉ muốn bật cười khi nghĩ rằng mình đang ở thời kỳ phải “cúi đầu sám hối” “không được ngẩng mặt nhìn đời”. Nhưng cái thế nằm úp sấp lại giúp đôi tai ông phát huy được tối đa thính lực nghe rõ từng lời thăm hỏi hoặc trò chuyện với nhau của khách… và… Ông biết được nhiều chuyện của nhân viên mà ông không ngờ tới. Cũng vậy, chi tiết kết truyện bất ngờ trong Hội làm ma làm bật ra chủ đề vừa vừa đau đớn vừa cay đắng, vừa nâng một câu chuyện được tả rất thực thành như là một ẩn dụ. Tình huống sáng tạo giàu tính tư tưởng là tình huống truyện trong Chữ giả. Sáng sớm, trong khi xem lại bản thảo lưu trong laptop, các nhân vật trong truyện hiện ra trò truyện. Đó là anh thanh niên bốc vác trong một truyện ông viết cách đây hơn ba chục năm. Anh ta yêu cầu ông viết đúng sự thật cuộc đời đau khổ của anh ta. Trong một truyện khác, một ông Giám đốc nhờ truyện Vụ án oan của ông giới thiệu mà thăng lên đến Phó Chủ tịch tỉnh, ông Phó Chủ tịch nhờ ông viết truyện về thằng con ông (hàm ý để nó thăng tiến như ông)… Kết truyện, Gió mưa ập đến làm rơi vỡ kệ sách trưng bày những đứa con tinh thần của ông làm chúng rơi vãi trên nền nhà. Laptop của ông chỉ còn là một khoảng trắng với dòng chữ “This folder is empty”. Và ông tự hỏi “Liệu ông có đủ tinh thần để tái nhập liệu những gì mà giờ đây trong tâm tư của mình, chúng chỉ còn như một mớ chữ giả!” Tôi cho rằng Chữ giả là một sáng tạo nghệ thuật-tư tưởng rất hay của Khôi Vũ. Truyện hòa trộn nhiều màu sắc thẩm mỹ. Phẩm chất nhà văn chính là ở sự sáng tạo độc đào này.

Tôi thích văn Khôi Vũ còn ở bút lực mạnh mẽ trong nhiều truyện như: Người bệnh cuối ở Long Giao, Đất sóng, Hảo hớn, Biển, Người đập tường đá, Mưa biển… Những truyện này thể hiện đúng cái khí cốt mạnh mẽ, dữ dội, khoáng đạt của Khôi Vũ, nhà văn “cầm tinh con hổ”. Ở chiều ngược lại, Khôi Vũ lại có những trang văn miêu tả rất chừng mực những cảnh sex “trần trụi”. Trong Vé số quê nhà, Cào Cào tuổi nhớ, Lần thứ ba… Khôi Vũ miêu tả vừa đủ để thể hiện chủ đề và dù trần trụi thế nào, ông giữ được vẻ đẹp ngòi bút giàu chất nhân văn.

Những đoạn miêu tả bối cảnh, miêu tả chân dung, tả diễn biến tâm lý nhân vật được giản lược đến mức chỉ vừa đủ giúp người đọc hình dung ra nhân vật trong không gian thời gian. Khôi Vũ dành bút lực cho dựng truyện, xây dựng nhân vật, viết lời thoại và đặt vấn đề. Những nhân vật thành công của Khôi Vũ là nhân vật có tính cách Nam Bộ (ông Bành Ky trong Hảo hớn, Chín Tàng trong Biển, nhân vật Ba tôi trong Lời của Thác, Bảy Năng trong Quán xe Thồ…). Nhưng tôi cho rằng tài nằng của nhà văn là ở việc đặt được vấn đề để suy gẫm.

Có lần tôi ở chung phòng khách sạn trong một trại sáng tác với Khôi Vũ. Ông xoay trần ra viết. Lúc thư giãn, ông kể cho tôi nghe chuyện gia đình. Lần ấy ông đang dự trại sáng tác và nhận được tin con trai nhập viện vì sốt xuất huyết, ông phải đón tàu về gấp và tức tốc vào bệnh viện thăm con. Tôi nghe truyện không mấy hào hứng vì những chuyện như vậy ai cũng có lần gặp phải. Nhà văn phải có những chuyện mới lạ, lớn lao. Chuyện gia đình riêng đâu có gì lạ. Tôi chỉ nghĩ, ông nhà văn này tưởng vô tình, hóa ra cũng thương con như mọi người cha trên đời… Và rồi khi tôi đọc truyện Đời thường của ông. Nội dung truyện đúng như những gì ông đã kể cho tôi nghe. Và tôi vỡ nhẽ ra rằng, chính chủ đề, tư tưởng Khôi Vũ gửi gắm trong truyện đã làm cho câu chuyện đời thường rất ít tính truyện ấy lại thành truyện. Ông tin rằng trong cuộc sống còn rất nhiều người tử tế, người tốt. Viet Nam News chọn dịch Đời thường ra tiếng Anh với tựa đề: Such is life không phải là tình cờ… Nảy ra vấn đề từ hiện thực, đặt được vấn đề từ những cái đời thường không có gì đáng quan tâm và cảm nhận được vấn đề giữa dòng đời đang cuốn phăng đi tất cả, đó là tài năng của Khôi Vũ, là căn cốt làm nên truyện ngắn của Khôi Vũ (xin đọc Chữ Giả, Thói ngậm tăm, Hội làm ma, Giờ Thiền, Người thừa kế…).

Có một giọng văn điềm đạm, đằm thắm, khúc chiết trong suốt các truyện ngắn của Khôi Vũ. Giọng văn này cũng chính là giọng nói đời thường khi anh kể chuyện, mang tính cách thẳng thắn, mạnh mẽ và rất trân trọng đối với người đối thoại. Dù đó là một truyện có tính “phê phán hiện thực” (Thói ngậm tăm, Chữ giả, Nhận giải thưởng…), hay truyện có tính “ngợi ca”, biểu dương cái đẹp (Trạm xá ngoại thành, Già lửa, Trong đêm…), hay những truyện giàu chất suy gẫm (Chữ giả, 72 giờ sau, Ngôi nhà chữ Đinh, Tri thiên mệnh, San hô…) thì Khôi Vũ vẫn giữ được giọng văn trong sáng nhân hậu đáng quý. Chất nhân hậu toát ra từ cách Khôi Vũ kết thúc truyện có nhân có nghĩa, có tình có lý, lấy sự trân trọng con người làm chuẩn mực. Khôi Vũ đứng trên đạo lý của nhân dân và tư tưởng nhân văn của dân tộc để lý giải vấn đề, thành ra tiếng nói của Khôi Vũ giàu chất thuyết phục. Truyện Người bệnh cuối ở Long Giao là một truyện rất căng thẳng trong một trại cải tạo. Ở đó, kỷ luật trại rất nghiêm ngặt, những mối hận thù còn âm ỉ, sẵn sàng bùng lên, những phản ứng bạo lực là khó tránh khỏi và những tổn thất vẫn tiếp tục trên mảnh đất này. Nhưng truyện đã kết thúc trong tình yêu thương hóa giải hận thù, đem đến niềm tin yêu ấm áp tình người.

Để truyện diễn ra tự nhiên, Khôi Vũ có cách chuyển ý liền mạch, tinh tế và hợp lý. Ít khi Khôi Vũ xáo trộn làm vỡ cấu trúc để tạo ra cái mới lạ. Ở những truyện mà nội dung hiện thực quá mỏng và cốt truyện đơn giản (Giở Thiền, Ngủ cùng rắn mối, Trẻ con không trẻ con, Điều quên dặn, Quét mạng nhện, Nhận giải thưởng…), Khôi Vũ có cách viết những đoạn liên tưởng để làm đầy trang văn. Cách viết của Khôi Vũ khá “có duyên”, vì những liên tưởng ấy cũng có những điều thú vị, đọc không thấy chán, Truyện Giờ Thiền kể lại việc nhân vật Anh đã đi bộ thể dục buổi sáng gần một năm. Trên đường đi, anh quan sát mọi người hai bên đường và ngẫm nghĩ. Tất cả đều im lặng, chỉ có chị phụ nữ chở rau và trái cây bằng xe đẹp nhờ anh sửa lại giúp cái túi trái cây giữa xe bị chệch qua một bên. Chị đạp xe đi, sau đó chị ta trở lại, ấn vào tay anh trái quýt và nói “Biếu chú trái quýt”. Truyện kết thúc bằng câu: ”Gần một năm rồi, anh mới nghe tiếng người nói vào buổi sáng sớm đi bộ tập thể dục… Mà nói đúng ba câu!”. Quả thực, nếu không có chi tiết chị phụ nữ chở rau và trái cây trở lại, giúi vào tay Anh trái quýt và nói câu tình nghĩa, thì Giờ Thiền không thể thành truyện được.


3. Làm thế nào để Khôi Vũ có thể viết được nhiều truyện ngắn như vậy?

Mỗi nhà văn chuyên nghiệp có cách khai thác chất liệu, khám phá chủ đề và thể hiện cái đẹp riêng. Khôi Vũ khai thác “cái đời thường”, nói về những vấn đề có tính thời sự và khám phá vẻ đẹp của người “dưới đáy” xã hội. Khôi Vũ không viết về đề tại cách mạng và kháng chiến. Ông không có những truyện sử thi, hay gợi cảm hứng anh hùng ca. Cuộc sống cứ trôi chảy mạnh mẽ về phía trước, và vì thế, Khôi Vũ không bao giờ sợ cạn nguồn, cũng không sợ lặp lại cái đã viết. Nếu nhà văn chỉ viết dựa vào những trải nghiệm đã qua, thì một lúc nào đó sẽ cạn vốn, và anh ta sẽ không viết được nữa. Hoặc nếu nhà văn viết chỉ dựa vào sự tưởng tượng, hư cấu, thì đến một lúc nào đó cánh cửa không gian tưởng tượng cũng đóng lại, hoặc đôi cánh tưởng tượng sẽ dẫn nhà văn vượt qua cõi người. Đã có lúc Khôi Vũ lăn vào đời làm nhiều việc để có trải nghiệm mà viết. Cách làm đó có giúp Khôi Vũ tăng vốn sống, song lại mất nhiều thời gian và không ít phiền toái. Và khi nhà văn đã đến tuổi hưu, ông không thể làm theo cách “đi thực tế sáng tác” như cách làm của các Hội văn học nghệ thuật đã làm từ xưa đến nay.

Đọc truyện ngắn Khôi Vũ, tôi thấy ông có ba cách khai thác chất liệu để viết truyện. Trước hết, nhiều truyện ông khai thác từ nguồn truyện ông có dịp thâm nhập thực tế. Những truyện này, vốn sống của ông đầy ắp. Những vấn đề hiện thực hết sức căng thẳng quyết liệt, các nhân vật đầy cá tính, góc cạnh. Những chi tiết truyện rất lạ, không gian mở rộng nhiều vùng miền. Đây là những truyện rất hay của Khôi Vũ. Ngòi bút của ông tỏ ra rất bản lĩnh trong sáng tạo, trong việc xử lý mâu thuẫn phức tạp, dẫn đến cái kết thuyết phục. Xin đọc: Đất sóng, Quan xe thồ, Lời của Thác, Già lửa, Người bệnh cuối ở Long Giao, Người đập tường đá, Biển, Mưa biển, Tìm ngọc, Say nắng, Hội làm ma…

Nguồn truyện thứ hai của Khôi Vũ là những gì ông quan sát, ghi nhận trong sinh hoạt “đời thường” xung quanh mình. Những điều đôi khi chẳng mấy ai quan tâm lại trở thành truyện khi ông khám phá ra “vấn đề”có ý nghĩa nhân sinh chứa đựng trong nó. Những truyện ngắn trong tập Người giỏi hơn chưa chắc đã thắng chính là những gì ông chiêm nghiệm thời gian ở Singapore: Chuyện một gái điếm người Việt bị bắt ở Sing và bị trục xuất về Việt Nam (Cào cào tuổi nhớ). Từ câu chuyện về nhạc nước ở đảo Sentosa, nhà văn ước mơ Cù lao Phố quê hương ông trở thành cù lao du lịch (Thức dậy thôi công chúa Ami). Đời sống ở Chung cư chẳng ai biết ai, ý nghĩa Bụi sả ngoài hành lang trước cửa căn hộ nhà hàng xóm, chuyện bảo vệ loài vật trong Con sáo nâu biết nói tiếng Việt. Nhiều truyện khác trảỉ rộng trong nhiều mặt sinh hoạt: Khát vọng trở thành nhà thơ (Nhà thơ), chuyện du lịch Campuchia (Chay ở Chai), chuyện ăn dưa hấu chín ép và nghe ca sĩ chín giú hát (Trái chin giú), những câu chuyện ở vùng trũng cổng chợ (Buổi sáng), Giá trị thực của giải thưởng (Nhận giải thưởng), những người đàn ông thất thế phải phụ việc cho vợ (Vai phụ), và nhiều tình huống, nhiều cảnh đời trong Một cuộc họp, Bản tự truyện thay đơn, Họa sĩ biếm dân gian, Vĩ nhân, Trò khỉ, Hoàng hôn; chuyện hoang tưởng về đổi đời (Nhà trên ao), chuyện ngoại tình (Lần thứ ba), chuyện đánh ghen (Ngàn sao), về hưu, người đàn bà nhặt bông sứ bị rắn cắn, Con bồ chao đoạt giải vì nó là con chim của sếp, Lỗ mọt là truyện người nông dân bán đất lấy tiền kinh doanh, rồi thua lỗ trở về vá xe đạp, ông Phó Bí thư nhờ bị Bong võng mạc mà biết được nhân viên của mình chỉ lo thu vén cá nhân, (Đọc thêm: Con ngựa ô, Gió biển không thổi tới, Mùi phở, Giờ Thiền, Đám bông mười giờ bên mố cầu…).

Nguồn nguyên liệu thứ ba mà Khôi Vũ khai thác thành truyện ngắn là sinh hoạt đời thường của bản thân ông và gia đình. Truyện Đời thường (tôi đề cập đến ở trên) là một thí dụ. Lấy chuyện của bản thân mình làm chất liệu sáng tác trực tiếp là điều rất khó, bởi không tinh tế, ngòi bút rất dễ phóng lên, làm cho “cái tôi” trở nên vênh váo. Khôi Vũ đã dùng cách mã hóa mình như một khách thể, quan sát chính mình như một nhân vật để đặt một vấn đề có ý nghĩa chung. Khôi Vũ thường gọi nhân vật là “ông” phiếm chỉ (không phải nhân vật xưng tôi). Có thể coi đây như một lọai tự truyện: Tri thiên mệnh là sự “giác ngộ” của tác giả lúc 23 tuổi từ lời dạy và cuộc đời của cha. Khôi Vũ tự phê phán ngòi bút của mình khi nhà văn đối diện với nhân vật trong đời thực. Nghe nhân vật nói thực về họ, ông nhận ra những gì mình đã viết về họ đều là Chữ giả. Ngủ cùng rắn mối kể chuyện ông ngủ ở một khách sạn tỉnh Q đầy muỗi và có cả rắn mối. Đôi bàn tay bà xã, Mẹ hay Ôsin là những chuyện sinh hoạt trong gia đình, Ngày không như mọi ngày, là một ngày làm việc của nhà văn Khôi Vũ. Trẻ con không trẻ con là nhận xét có tính người lớn của trẻ con trong một chuyến đi Đà Lạt. Quét mạng nhện, Giờ Thiền, cũng là những việc thường ngày ở nhà của Khôi Vũ. Phù phiếm bên biển là những suy nghĩ về cuộc sống kinh tế về nghề viết khi tác giả cùng gia đình đi tắm biển: Viết là phù phiếm. Chẳng giúp ích được gì cho vợ con. Chỉ xây những lâu đài cát. Sóng biển, sóng đời dữ dội quá.
,
Ở cả ba nguồn truyện, Khôi Vũ đều có những truyện hay, nhưng tôi đánh giá cao những truyện ông khai thác trực tiếp từ đời sống thực tế. Đó là những câu chuyện dữ dội, quyết liệt nhưng cũng đầy tính nhân văn. Khôi Vũ, với tư cách nhà văn, tự ém mình đi để cho nhân vật và sự việc trực tiếp lên tiếng nói. Người bệnh cuối ở Long Giao, Biển, Hảo hớn, Người đập tường đá, Lời của thác, Quán xe thồ, Say nắng, Hội làm ma, Trái dưa tây lép là những truyện ngắn đặc sắc mang cốt cách Khôi Vũ cả về nội dung tư tưởng và nghệ thuật.


3. Khôi Vũ gửi gắm những điều gì?

Trong Phù phiếm bên biển, Khôi Vũ cho rằng viết là phù phiếm, chẳng giúp ích gì cho vợ con, chỉ xây những lâu đài cát. Sóng biển, sóng đời dữ dội quá, “nó buộc mình phải lui bước để bảo vệ sự sống, trước hết là bảo vệ miếng ăn”, “…còn lại cái nhu cầu có thực, muốn được giãi bày tâm tư tình cảm của mình về cuộc đời, về con người, với những người đọc văn mình, quen và chưa quen. Thế thôi mà càng lúc càng thấy khó”.

Tôi không nghĩ rằng Khôi Vũ viết là để kiếm sống. Ông thổ lộ: ”Ôi! Nhà văn nổi tiếng nào thì tôi không biết chứ nhà văn cái kiểu tôi thì chắc chắn không thể sống bằng nhuận bút rồi dẫu nó có là hai ba triệu một cái truyện ngắn. Còn sống bằng gì ư? Thì bằng tiền kiếm được từ “trăm” thứ nghề khác chứ sao! Miễn là bỏ công sức lao động của mình ra đổ mồ hôi của mình ra và là việc làm… lương thiện!” (Trích Nhà văn sống bằng nghề gì?)

Trong truyện Cây siêng bông, qua nhân vật bác Trương, Khôi Vũ nói rõ, viết không phải vì tiền, không phải đánh bóng tên tuổi. Viết để mình hoàn thiện hơn. Đây là sự chọn lựa từ kinh nghiệm và cuộc đời của thân phụ ông, giữa một bên là làm giàu, một bên là viết văn. Thân phụ nói với ông: ”Thuở nhỏ con mộng làm bác sĩ, bây giở tuy ra trường là dược sĩ nhưng cậu lại thây con mê viết hơn nghề làm thuốc. Ỏ đời không thể làm cùng lúc nhiều việc được đâu. Sức người có hạn. Ham muốn càng nhiều thì thất vọng càng lắm…”, rồi ông nói thêm: “- Ở đời khó nhất là biết mình!”(Tri thiên mệnh).

Vâng, – Ở đời khó nhất là biết mình! Triết gia Socrates (470-399 tr.CN) cũng đã nhắc nhở nhân loại: “Hãy tự biết mình”.

Hãy nghe Khôi Vũ tâm sự: ”Mình trở thành hội viên Hội Nhà Văn từ năm 1990, tính đến nay đã 22 năm rồi. Mình cũng được Hội Nhà Văn cho một cái giải thường niên cũng vào năm 1990. Vậy mà rất nhiều lúc mình phải giật mình tự hỏi: “Mình có xứng đáng là một Nhà Văn chưa?”… Thôi! Mình cứ sáng tác. Nhà xuất bản nào in cho thì cảm ơn. Ai khen thì cảm ơn. Ai chê càng cảm ơn. Ai gọi là “nhà văn” thì cảm ơn (với chút ngượng ngùng). Ai gọi “lều văn” cũng cảm ơn (không giận hờn gì cả). Ai trao giải thì vui vẻ nhận. Tham dự cuộc thi sáng tác nào đó mà bị “rớt” thì cũng vui vẻ nhận là mình viết chưa “đạt” yêu cầu và “gu” của Ban giám khảo…

Ngày cuối năm, gác tay lên trán nghĩ mà buồn. Rồi… cười! Xin thông báo, mình vừa nghĩ xong ý tứ về một cái truyện ngắn. Còn sáng tác được là vui rồi, hỏi sao không cười nhỉ!”
(trích Nghĩ về hai chữ ‘nhà văn’)

Đoạn “gác tay lên trán” trên của Khôi Vũ thấm thía lời dạy của thân phụ ông, càng sâu sắc thêm lời nhắc nhở của Socrates. Đó là những lời rất “thành ý-chính tâm” mà không phải nhà văn nào cũng có thể tự biết mình.

Cái khó, và rất khó của nhà văn là viết, viết cho hay, viết có ích cho đời, để rồi 72 giờ sau mọi người còn nhắc đến ông (?). Cái khó là làm sao giữ được ánh sáng lương tri của nhân loại và cốt cách kẻ sĩ, để không bị tha hóa trước cuộc đời (Chữ giả). Nhìn hành trình văn chương Khôi Vũ đã đi, từ Già Lửa (1988), Tri Thiên Mệnh (2001) đến Người giỏi hơn chưa chắc đã thắng (2014), tôi biết Khôi Vũ không thể đi ngược lại con đường nghệ thuật mình đã đi. Đó là cái khó. Lúc đầu, Khôi Vũ lăn lộn vào cuộc sống, dấn thân thâm nhập thực tế để viết chuyện đời. Sau đó, Khôi Vũ không “lăn lộn” nữa, ông đứng bên đời, quan sát, ghi nhận và ngẫm nghĩ. Và bây giờ, ông chiêm nghiệm ngay chính những sự việc của bản thân ông để viết. Ở mỗi chặng đường ông đều có nhiều truyện hay, tuy vậy, có sự khác biệt về giá trị tư tưởng – nghệ thuật ở những truyện trong các chặng đường sáng tác này (Xin thử đọc Người bệnh cuối ở Long GiaoĐời thường; Biển và Ngày không như mọi ngày…).

Tôi nghĩ rằng Khôi Vũ còn đau đáu khôn nguôi về những giá trị văn chương mà ông đã viết. Lời yêu cầu của nhân vật anh thanh niên tên Tòng nói với nhà văn là một lời cảnh tỉnh? ”-Tôi đâu có trách ông. Tôi chỉ nêu một điều ước với ông: nếu có viết lại chuyện đời tôi, ông hãy thay cái đoạn kết có hậu kia bằng đoạn đời thật của tôi. Đau khổ lắm ông ạ. Ông hứa với tôi nhé?” (Chữ giả). Tôi cũng hiểu cái khó là, Khôi Vũ làm thế nào để không dính mắc vào những lời “dụ dỗ” của nhân vật Phó Chủ tịch tỉnh khi ông ta yêu cầu nhà văn hãy bịa như thật một truyện, để con vị Phó Chủ tịch tỉnh có cơ hội thăng tiến?

Thực ra Khôi Vũ đã vượt qua những cái khó ấy bằng chính tài năng và nhân cách của ông, cũng như ông đã vượt qua cái khó của thời đại mà không phải nhà văn nào cũng tự giác ngộ được. Truyện ngắn Con ngựa ô có thể là một ẩn dụ mà Khôi Vũ đã “vượt qua”. Con ngựa ô chấp nhận kéo xe cho chủ, nhưng nó chỉ ao ước: “Tôi chỉ có tội là có ước muốn cháy bỏng, ước muốn được gỡ hai miếng da bịt mắt để có thể nhìn mọi phía, để được yêu được ghét nhiều hơn, giống như ông vậy. Nhưng ông chẳng hiểu được tôi. Tôi không giận ông đâu. Phần ông, hãy tha thứ cho tôi, ông Út nhé!”. Con bồ chao đoạt giải phải chăng cũng là một ẩn dụ (?): “Nghệ sĩ lớn hay mô típ trẻ chi chi cũng một chủ thôi!”, vì đã quen thức ăn nước uống trong lồng, thì dù có thoát ra, con bồ chao lại cũng chui đầu vào lồng, ăn no rồi hót. Khôi Vũ bây giờ đã thênh thang trên con đường của riêng mình?

Con đường thênh thang ấy là con đường rộng mở trái tim mình cho quê hương Đồng Nai trong nhiều truyện lấp lánh tâm huyết của ông (tập truyện Đàn ống tre bên kia sông, Vòng luân hồi của nước, thức dậy thôi công chúa Ami…)

Tháng 6. 2016
B.C.T