Nhà tù Sơn La và cây đào Tô Hiệu

(Vanchuongphuongnam.vn) – Mỗi lần trở lại nhà tù Sơn La, gót chân tôi như bị níu chặt trước cây đào mang tên người chiến sĩ cộng sản Tô Hiệu. Giống như lần trước, tôi lại trông thấy rất nhiều người vây quanh và lặng yên chụp ảnh bên tấm biển nhỏ cắm ở dưới gốc cây đào. Cội đào cổ thụ kiêu hãnh bên nền móng cổ xưa như thể tựa mình vào vách đá của tù ngục; sừng sững ngay bên lối vào với cành lá tươi xanh, tán xoè rộng khắp như thể đang che chở cho những miền ký ức.

Nơi nhà cách mạng Tô Hiệu hy sinh

Lần nào cũng vậy, mỗi khi ngược ngàn lên Điện Biên, đi qua dải đất Sơn La, tôi thường hay rủ bạn bè ghé vào nghĩa trang Gốc Ổi để thắp nén tâm nhang tưởng nhớ công lao của các bậc cách mạng tiền bối. Và, sau khi khói hương quấn quyện vào đất trời, tôi lại cùng mọi người sang thăm Nhà tù Sơn La nằm ngay kế bên, trên đỉnh đồi Khau Cả lộng gió. Cũng như những lần trước, chiều nay đứng trên đỉnh đồi, ngắm nhìn phố núi nhộn nhịp, sầm uất trước mặt, tôi không khỏi suy tư về cái nhà ngục từ cái thời còn khét tiếng là một “địa ngục trần gian” của thực dân Pháp ở giữa “xứ sở hoa ban” xinh đẹp này mà trong lòng lại lắng lại những nỗi niềm yêu mến và thương đau.

Giờ đây, miền đất Chiềng An, Chiềng Lề đã khoác lên mình một tấm áo mới, khác hẳn hồi đầu thế kỷ trước, khi tỉnh lỵ Vạn Bú được di chuyển từ bản Pá Giạng xã Ít Ong về đây với tên gọi mới là tỉnh Sơn La. Trải qua hơn một trăm năm thăng trầm, vùng đất từng bị coi là “rừng thiêng nước độc” năm nào nay đã vươn mình trở thành một thành phố đẹp đẽ, duyên dáng giữa đại ngàn hùng vĩ. Nơi đây không còn là viên ngọc ẩn mình nữa mà đang ngày ngày khoe sắc lung linh giữa núi rừng Tây Bắc bình yên. Từ trên đồi cao Khau Cả nhìn xuống, thu vào trong mắt tôi là hình ảnh sống động của quảng trường Tây Bắc rộng mênh mông, cùng những toà nhà cao tầng bề thế nằm dọc theo các trục đường thênh thang, uốn lượn bên các triền núi xanh tươi đang tràn trề nhựa sống. Thế nhưng giữa dòng chảy thay đổi hối hả của phố thị ấy, tôi vẫn ám ảnh bởi một góc lặng đang được núi rừng neo giữ lại để làm một chứng nhân tôn nghiêm của lịch sử. Đó là nhà tù Sơn La, nơi một thời được xem là một trong những địa ngục tàn khốc nhất của thực dân Pháp ở Đông Dương, chỉ xếp sau nhà tù Côn Đảo.

Du khách bên di tích nhà tù Sơn La

Bước qua chiếc cổng sắt và bức tường đá cao ngất bao quanh nhà ngục, di tích nhà tù Sơn La hiện ra trước mắt tôi đầy u tịch. Nơi đây giờ chỉ còn lại những chòi canh, trại giam, xà lim và mấy mảng tường dày cộp được xây kiên cố bằng gạch đỏ nhưng cũng đã sụp đổ nham nhở đang nằm phơi mình bên những chân móng bằng đá màu xám xịt của các đại lao năm xưa. Tất cả những bức tường lạnh lùng thuở trước nay cũng ngả màu phôi pha theo thời gian, trơ trọi như một chứng tích hoang tàn của lịch sử. Những phế tích đổ nát này là kết quả bước đầu phục dựng, mới được một phần, của những gì còn lại sau hai lần tàn phá của kẻ thù. Lần thứ nhất vào năm 1952, thực dân Pháp cho máy bay ném bom hòng xoá bỏ những dấu vết của tội ác man rợ mà chúng đã gây ra cho các tù nhân cách mạng ở nơi đây. Lần thứ hai vào năm 1965, khi đế quốc Mỹ leo thang đánh phá miền Bắc, chúng tiếp tục dội bom phá huỷ những gì còn lại của nhà tù sau lần ném bom trước đó.

Đặt chân vào nhà tù Sơn La, lắng nghe thanh âm của lịch sử vọng về, tôi mới bàng hoàng trước dòng chảy thời gian của nơi từng được mệnh danh là “địa ngục trần gian” này. Thuở mới di dời từ Tạ Bú về thị xã Sơn La, vào năm 1908, dưới bàn tay của Công sứ Jean Monpéra, nơi đây chỉ là một nhà giam nhỏ nhoi, rộng vỏn vẹn khoảng 500 mét vuông, dùng để lưu giữ thường phạm địa phương. Khi ấy, nhà tù chỉ có hai buồng giam lớn và bốn buồng giam nhỏ, xây bằng đá xám xịt, đậy bằng mái tôn, mùa lạnh thì tê tái, mùa nóng thì hầm hập, nằm chéo nhau như những mũi dao hình tam giác. Ngày ấy, thực dân Pháp hành hạ người tù bằng một gian xà lim tam giác cân ở góc chéo, nằm liền kề với một góc khuất lạnh lẽo, dùng để chứa xác tù nhân. Trên những chiếc bục xi măng xám lạnh của nhà tù còn những gắn cùm chân rỉ sét. Người tù phải còn sống chung với mùi xú uế của những chiếc thùng xí nổi. Nhưng sự tàn bạo ấy mới chỉ là bắt đầu. Cuối năm 1930, trước ngọn lửa cách mạng bùng cháy mạnh mẽ, thực dân Pháp run sợ. Chúng điên cuồng mở rộng nhà tù, thêm 1684 mét vuông và chính thức biến nơi này thành một địa ngục theo đúng nghĩa với năm nhà giam chính cùng bốn lô cốt, chòi canh sừng sững mọc lên ở bốn góc. Hàng ngày, xen lẫn những đòn roi đẫm máu là các công việc khổ sai như xay lúa, giã gạo … đã hành hạ, làm kiệt sức tù nhân. Nhưng đáng sợ nhất phải kể đến cuộc sống trong xà lim ngầm. Đó là các khu giam giữ tù nhân được đào sâu xuống dưới lòng đất, khoảng hơn 3 mét để đày đoạ các chiến sĩ cách mạng. Dưới xà lim, trong bóng tối đặc quánh của lòng đất, nơi ở của người tù hiện ra như những chiếc hộp kín mít khi cánh cửa gỗ sập lại. Ở đấy, con người bị khoá chặt trong những chiếc cùm sắt lạnh ngắt, rất khó cựa quậy và không thể phân biệt được ngày hay đêm. Sự sống ở đấy được níu lại bằng một cái lỗ thông hơi nhỏ nhoi đưa lên mặt đất. Tội ác ấy cứ thế tiếp diễn đến đầu năm 1940, khi Thống sứ Bắc Kỳ cho xây thêm một trại lớn, 3 gian ở phía sau trại lính khố xanh. Rồi đến tháng 7 năm 1941, Nha Công Chính lại tiếp tục phóng tay, vạch ra những bản thiết kế ma quỷ nhằm xây dựng một nhà giam lớn gấp đôi nhà tù cũ để sẵn sàng nuốt chửng từ 500 đến 800 tù nhân chính trị. Cứ vậy, qua ba lần cơi nới mở rộng nhà ngục, tội ác của bọn thực dân ngày càng chồng chất. Và chúng đã biến nhà ngục thành một con quái vật khổng lồ với tổng diện tích 2184 mét vuông, gồm 49 phòng giam lớn nhỏ. Đương thời, kẻ thù rất tự tin và tuyên bố: “nếu ở Hỏa Lò các anh lo đối phó với chính phủ thì lên Sơn La các anh phải lo đối phó với sốt rét”. Với dã tâm “một thời gian không lâu, sốt rét, bệnh tật và công việc khổ sai sẽ tiêu hao chúng một cách êm thấm”, thực dân Pháp đã không từ một thủ đoạn khắc nghiệt nào về ăn, ở và các công việc lao dịch hàng ngày hòng dập tắt ý chí yêu nước của những người cộng sản. Nhưng chúng đã nhầm. Chính từ bóng tối sâu thẳm của nhà nhà tù và những xiềng xích cùm gông, những đóa hoa thép cách mạng lại nở rộ rực rỡ và kiên cường hơn bao giờ hết. Ngược lại với ý chí của kẻ thù, những tù nhân cách mạng ở nhà ngục Sơn La đã biến cái “địa ngục trần gian” thành một ngôi trường cách mạng vĩ đại, tôi luyện cho tổng cộng 1007 lượt tù nhân cộng sản. Trong số ấy, sau này có rất nhiều người đã trở thành những nhà lãnh đạo ưu tú, những tướng lĩnh cao cấp của Đảng, của đất nước như Lê Duẩn, Trường Chinh, Lê Đức Thọ, Nguyễn Cơ Thạch, Nguyễn Lương Bằng, Văn Tiến Dũng, Trần Quốc Hoàn, Xuân Thủy, Song Hào…

Cội đào Tô Hiệu

Mỗi lần trở lại nhà tù Sơn La, gót chân tôi như bị níu chặt trước cây đào mang tên người chiến sĩ cộng sản Tô Hiệu. Giống như lần trước, tôi lại trông thấy rất nhiều người vây quanh và lặng yên chụp ảnh bên tấm biển nhỏ cắm ở dưới gốc cây đào. Cội đào cổ thụ kiêu hãnh bên nền móng cổ xưa như thể tựa mình vào vách đá của tù ngục; sừng sững ngay bên lối vào với cành lá tươi xanh, tán xoè rộng khắp như thể đang che chở cho những miền ký ức. Rất tiếc chuyến đi này của tôi không đúng mùa hoa nên không được mãn nhãn với sắc hồng phai vốn nổi tiếng và đã trở thành giai điệu đặc trưng của núi rừng Tây Bắc. Tuy thiếu mất sắc hoa nhưng trong tôi lại được bù đắp bằng âm vang của câu chuyện lịch sử mà cây đào hiện lên như một giá trị biểu tượng. Cây đào gắn với tên tuổi và những năm tháng oanh liệt của nhà cách mạng Tô Hiệu. Nó đứng bên bức tường của lao tù địa ngục nên không chỉ đơn thuần là cây đào biết đơm bông khoe sắc vào mỗi độ xuân về. Hơn những thế, từ lâu, nó đã đi vào tâm tưởng biết bao người là một “cây đào biết nói” của lịch sử cách mạng Việt Nam. Giờ đây, cội đào ấy giống như một chứng nhân lịch sử trong chốn tù đày khắc nghiệt nhưng vô cùng bất khuất kiên cường của những người cộng sản. Đứng dưới gốc đào đang xoè ô che mát, tôi như nghe thấy tiếng thì thầm của ngày xưa vọng lại, kể về người Bí thư Thành ủy Hải Phòng năm nào khi về đây thắp lửa cho chi bộ nhà tù trong những ngày đông lạnh giá cuối năm 1939 cho đến khi ngã xuống ở chính nơi này, vào tháng 3 năm 1944. Cho nên, gốc đào ấy trong tôi còn là một giá trị bất tử của Tô Hiệu để lại. Cây đào kiên cường trong ngục tù cũng giống như tinh thần bất khuất của Tô Hiệu. Tinh thần của người cộng sản ấy hóa thân vào cỏ cây. Người chiến sĩ năm ấy đã truyền lửa và để lại cho đời cái khí phách kiên cường trong cốt cách lớp lớp cán bộ ở lại, khơi nguồn cho một Tháng Tám lẫy lừng vào một năm sau.

Đứng dưới gốc đào cổ thụ, giữa nơi ngục tù ngày xưa, bất chợt tôi lại nhớ đến cụ Nguyễn Tuân trong chuyến đi thực tế ở Sơn La hồi năm 1958 cùng với bài tuỳ bút “Đào cộng sản”, sau được đưa vào in trong tập “Sông Đà”. Rồi lại chợt nghĩ Sơn La là “miền hoa ban” nhưng cũng là xứ sở của hoa đào, cho nên cây đào trong nhà tù này và cây đào ở trên đất Tây Bắc có gì dị biệt. Nghĩ thế rồi lại tự mình luận giải. Đào đâu chẳng vậy. Có khác chăng chỉ là những huyền thoại bao quanh cội đào trong nhà tù mà thôi. Đó là cây đào Tô Hiệu, cây đào gắn với huyền thoại trong tù của Tô Hiệu. Đấy là một linh hồn bất khuất trong ngục tối Sơn La. Phải chăng người đời đã ngưỡng mộ và kính yêu tấm lòng yêu nước của người chiến sĩ cách mạng mà đã gắn tên ông cho một nhành hoa đón xuân của xứ này, mọc bên phòng ông bị giam giữ, để thắp lên cái cái “tình” ấm áp giữa những nanh vuốt của kẻ thù. Lâu dần, cái “tình” ấy được người đời thiêng hoá và biến thành cái “đẹp”. Đó là cái đẹp của nghệ thuật. Một hình tượng nghệ thuật mang vẻ đẹp thanh tao nhưng bất khuất, kiên cường trước mọi bão giông lao ngục. Cái đẹp ấy là cái đẹp của lòng yêu nước, của tinh thần xả thân vì nghĩa lớn. Có lẽ cũng bởi cái ý nghĩa thiêng liêng ấy mà người ta đã chiết cành từ cội đào này đem về trồng ở bên lăng Bác và nhân giống để đem xuống trồng tại Nghĩa trang liệt sĩ Gốc Ổi, nơi Tô Hiệu đang yên nghỉ, dưới chân đồi Khau Cả.

Giữa bốn bề sắt đá dày đặc của lao tù; trên đống hoang tàn đổ nát của phế tích năm xưa, gốc đào mang tên Tô Hiệu vẫn cứ vươn mình, toả bóng xanh mát. Ngắm nhìn cây đào, trong tôi lại hình dung viễn cảnh mùa xuân ngục tù thuở trước. Cứ mỗi độ hoa về, sắc hồng phai lại rực rỡ bung nở giữa chốn ngục tù tăm tối, giống như một loài hoa kiên cường nở trong bão táp. Đó là mùa xuân của ánh sáng, của tương lai và chiến thắng. Sức sống mãnh liệt của cây đào trên gạch đá và sắt thép, trước gông cùm và hai lần bom dội, chính là khúc khải hoàn của chính nghĩa trước phi nghĩa, của cái thiện trước cái ác. Đó là sự sống vươn lên từ cõi chết. Bởi thế, gốc đào mang tên người chiến sĩ cách mạng Tô Hiệu tựa như một bài thơ bất tử. Cội đào ấy chính là một lời khẳng định đanh thép: cách mạng là bất diệt. Kẻ thù có thể giam cầm thân xác người tù nhưng không thể giam cầm được tinh thần yêu nước và khát vọng tự do của họ. Cho nên, tham quan nhà tù, đứng bên gốc đào, trong tôi có một linh cảm. Dường như ta không chỉ đang ở bên một chứng nhân của lịch sử mà còn đang chạm đến tinh thần Tô Hiệu; chạm vào một biểu tượng bất khuất của Việt Nam trong chốn lao đày nghiệt ngã.

Miên man trên đỉnh đồi tù ngục, rồi ngắm nhìn thành phố vùng cao Tây Bắc, tôi chợt nhận ra sau những thăng trầm, Sơn La hôm nay không còn giống cái thời “rừng thiêng nước độc” như trong ký ức lịch sử, không còn cảnh “địa ngục trần gian” như trong những năm tháng nô lệ. Xung quanh đồi Khau Cả giờ đây đang mọc lên những phố phường trẻ trung; đang khoác lên mình những tấm áo mới, hiện đại và thơ mộng. Nhưng nhà tù Sơn La và gốc đào mang tên Tô Hiệu vẫn kiêu hãnh giữa trung tâm phố núi như một chứng nhân vĩnh cửu. Khúc tráng ca bất tử ấy tiếp tục là điểm tựa tinh thần, truyền lửa và kết nối những giá trị thiêng liêng của quá khứ anh hùng với hiện tại tươi sáng. Những đoá hoa kiên cường năm xưa giờ đã trở thành bảo vật của mảnh đất này, thành điểm hẹn của những khát vọng hòa bình. Và cái dòng nhựa sống mãnh liệt ấy vẫn cứ âm thầm chảy trong lòng đất mẹ, nhắc nhở muôn đời về một lời thề sắt son: quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh. Rưng rưng những nỗi niềm như thế ai nấy trong lòng chẳng thấy một Sơn La sao mà “thương” đến thế!

Bài, ảnh: Đào Thị Thu Hiền