(Vanchuongphuongnam.vn) – Đứng trước những cái chết ngầm dự báo trước mà anh chẳng bao giờ sợ hãi, cứ đào, cứ khoan, cứ nổ mìn rồi đưa than về bến, làm việc với tất cả sự tận tâm cả đêm lẫn ngày mà chẳng bao giờ mảy may thốt lên lời oán trách. Rồi bỗng một ngày đẹp trời đầy nắng gió trên thành phố biển, khi anh có một ca trực dưới lò giếng âm vào lúc 10 giờ sáng ở bộ phận tải than với các công nhân ở phòng tiếp liệu, bao giờ cũng sôi nổi nhất trong số những bộ phận được sắp xếp để liên lạc với tất cả những người còn lại.

Những người thợ mỏ. Ảnh Ninh Mạnh Thắng
Anh ấy ngồi trên miệng cửa hầm lò dưới ánh đèn pin rực sáng của một mỏ giếng than âm dương vắng vẻ, không ngớt nhìn những muội than lấp lánh, với cả đôi ủng cũ sờn chỗ làn nước nhỏ lõm bõm của cửa hầm thông gió và nghĩ về những điều tốt đẹp đang tiếp nối. Hồi tưởng lại lần đầu anh đến Mông Dương, vùng mỏ vẫn một màu xanh bất tận, vắng lặng, nơi in đầy dấu chân của những đoàn thợ lò năm xưa đến xây dựng công trường trên vùng đất mới và những người nữ công nhân gánh than lầm lụi, với những cỗ xe chuyên dụng vào ra công trường từ sáng đến chiều muộn với khối lượng than khổng lồ và mất hút vào đêm tối. Giờ đây, những người đàn ông duy nhất xuất hiện trên vùng mỏ này mà ông có thể bắt gặp là những người thợ lò trẻ tuổi chờ tiếng còi phá hỏa trên đường tàu lao phăm phăm vào trong lòng núi. Không ai trong số những người đến đấy lại có thể nghĩ rằng họ làm việc trong những hoàn cảnh đầy khắc nghiệt đến thế, không những để khỏi phí hoài tuổi xuân cho mình mà còn cho cả một đất nước.
Đã có một thời gian dài anh khước từ cái công việc đào than nặng nhọc hơn bây giờ rất nhiều, nơi một thành phố đầy rẫy những con người ăn mặc sang trọng. Anh bao giờ cũng ăn vận bộ quần áo lao động, trên đầu chiếc đèn pin nom như một vì sao rực sáng, đôi ủng cũ sờn và gương mặt lấm lụi của một người quen sống trong bóng tối. Anh ấy có một trái tim nhiệt huyết của một chàng sinh viên Trường Mỏ, mái tóc húi cao trông rất gọn gàng, đôi tay vạm vỡ của một vận động viên điền kinh với những cơ bắp cuộn sóng và các đường gân nổi rõ hai bên mạng sườn và đôi mắt bao giờ cũng ánh lên vẻ lạc quan hiếm có. Chỉ có dấu hiệu làn da nâu mai mái là nói lên cuộc đời của một người ưa dầm mưa dãi nắng nơi anh. Nhưng, dẫu sao, ở vào cái tuổi ba mươi này của mình, sức làm việc nơi anh vẫn tràn trề nhiệt huyết. Đối với anh, mỗi lúc xuống lò, đưa mũi khoan thọc sâu vào lòng đất, anh cảm thấy mọi nghịch cảnh của đời sống dường như chẳng đáng là bao bên trong cái trọng lượng của một nghề đầy gian khổ. Những năm tháng cao cả và đẹp đẽ thì đó hầu hết là đều nằm dưới các mỏ giếng, nơi phía sau từng bước chân, giờ đây, chỉ mong khơi lên những nguồn suối than bất tận mà chưa ai có thể chạm tới.
Anh đã quay về đất mỏ Quảng Ninh sau khi trải qua một khóa huấn luyện tân binh ngắn hạn để kiếm tìm một công việc cho riêng mình mà ở đấy các bác sĩ luôn luôn đưa ra những lời cảnh báo về tình trạng của căn bệnh lao phổi. Anh dự kiến chỉ làm việc ở đó khoảng ba tháng để chờ cơ hội ra nước ngoài học tập, nhưng rốt cuộc số phận, như có ngầm ý lại biến anh trở thành một người thợ lò mà chẳng có nơi nào tốt hơn thế nữa và theo suy nghĩ ấy của anh thì chưa bao giờ muốn rời xa nơi này mãi mãi.
Đứng trước những cái chết ngầm dự báo trước mà anh chẳng bao giờ sợ hãi, cứ đào, cứ khoan, cứ nổ mìn rồi đưa than về bến, làm việc với tất cả sự tận tâm cả đêm lẫn ngày mà chẳng bao giờ mảy may thốt lên lời oán trách. Rồi bỗng một ngày đẹp trời đầy nắng gió trên thành phố biển, khi anh có một ca trực dưới lò giếng âm vào lúc 10 giờ sáng ở bộ phận tải than với các công nhân ở phòng tiếp liệu bao giờ cũng sôi nổi nhất trong số những bộ phận được sắp xếp để liên lạc với tất cả những người còn lại.
Cửa miệng hầm lò giống như miệng của một cái núi lửa; nữ công nhân nhỏ thó và vị Quản đốc rõng rạc hô khẩu hiệu như truyền vào tất cả mọi người một nguồn sinh khí. Khi càng đi sâu, bóng tối trên chiếc đèn pin càng trở nên yếu ớt, chỉ có tiếng bước chân, tiếng giọt nước nhỏ lõm bõm hai bên mạn dòng sông than và tiếng thở nặng nhọc hắt ra từ bầu ngực từng người thợ, nhưng ngay lập tức anh đã không nhận ra đó là tín hiệu của sự sợ hãi, sợ độ sâu, sợ áp lực của chính mình và đoàn người đi cùng cho đến khi tiếng nổ rền vang từ phía cuối đường hầm vọng vào hai bên mang tai giữa chỗ nối đường tàu chạy cách không xa chỗ anh đứng là mấy so với mặt đất.
“Ồ than. Đúng là than rồi” người thợ lò trẻ tuổi kêu lên.
Nhưng anh không hề cảm thấy ngạc nhiên hơn thế. Cái công việc của anh thường bất chợt và đột ngột; có những lúc rơi vào bế tắc đến khó chịu, có lúc lại hanh thông như đi trên đường phẳng và bao giờ cũng dấy lên trong anh một cảm xúc khó tả mỗi khi đào trúng một mỏ lộ thiên nào đó. Tất cả chúng tôi lặng yên nghe than chảy về máng lớn, một tia sáng phát ra từ mũi khoan lóe lên rồi biến mất. “Đó là công việc lý giải tại sao chúng ta phải mất công đến thế” anh ấy nói. “Nhưng bây giờ thì tôi biết đêm tối cũng ở trong mọi trái tim rồi đó”. Rồi anh lấy tay lau những giọt mồ hôi chảy tràn trên hai gò má và vầng trán mình và nói một cách hùng hồn:
“Trước sau như một, thưa Quản đốc, chúng em đã hoàn thành nhiệm vụ rồi đấy”.
Tác phong làm việc nơi hầm lò của anh đầy hoài bão đến độ câu chào nhau cuối cùng bao giờ cũng đầy sự thương cảm. Khai quật những mỏ giếng âm thật nguy hiểm, nhưng đối với mỗi người chẳng ai tỏ ra nghi ngại. Quản đốc hỏi có bao nhiêu phần rủi ro và một người thợ lò giơ cao cánh tay lên: “Có lẽ là bục túi gió và ngạt khí mê tan”.
Khi làm việc trên vùng mỏ một thời gian ngắn ngủi và eo hẹp thôi, Quản đốc bày tỏ, cái mức độ rủi ro của những sự cố trong ngành than có tính cảnh báo là quá rõ ràng và ngay cả khi biết trước cả sự nguy hiểm của cái công việc càng đi sâu càng trở nên khó đoán ấy. Nhưng với tất cả sự tiến bộ của những công cụ trang trị cho từng người được đưa về từ thế giới, những lo lắng đó dường như chỉ còn trong tưởng tượng.
“Đừng tỏ ra lo lắng quá”, Quản đốc an ủi. “Sắp xếp chỗ ăn ở của mọi người gọn gàng rồi hãy vào lò. Nhưng luôn nhớ nhé, bất cứ khi nào cảm thấy ngột ngạt và khó chịu, hãy thông báo cho các bác sĩ, đừng cố gắng chịu đựng.
Rồi một buổi sáng đẹp trời trên toàn phân xưởng đón nhận một cái tin dữ ấy, ngay khi có thông báo của tổ cứu hộ, bất cứ ai cũng lờ mờ đoán ra một điều gì đó tồi tệ sắp xảy đến. Hai trong số nhiều công nhân đã mắc kẹt dưới hầm lò ở độ sâu quá lớn mà không mang theo bình cứu hỏa, và họ chỉ còn thở thoi thóp qua lớp đất đá có các khe hở và họ đã cầu cứu bằng những tín hiệu qua cửa hầm thông gió, nơi không có ánh sáng, đến chỗ dừng chân của đoàn lái xe vùng mỏ điêu luyện, trạm tàu hỏa số 1. Họ đã sống dưới đó nhiều giờ liền, chẳng nghĩ đến một điều gì khác hơn là cái chết, khi cơ thể bắt đầu rệu rã. Đường hầm trở nên hẹp hơn như một cái nút thắt cổ chai bé xíu và một luồng gió dữ dằn thổi tung lớp bụi than bay ào ạt trong dòng sông than âm âm u u kinh hoàng và bật tung cánh cửa thủy lực cuối cùng. Trên mặt đất, Quản đốc đi lại như con thoi và thay vì chờ một phép lạ sẽ đến với từng người, ông đưa những bình ô – xy tự chế để mỗi người có thể thở lại từ từ. Vợ của một người thợ lò đã thấy trong lòng rộ lên một niềm an ủi vĩnh hằng khi họ nhìn thấy hành động đầy trắc ẩn đó của vị thủ lĩnh.
“Tình cảnh đó chẳng phải của riêng ai, thưa ông”, cô ấy nói giọng đầy nước mắt. “Đó là sứ mệnh của người thợ lò”.
Ông đưa ánh nhìn sang chỗ khác và lầm lụi trở vào trong phân xưởng, nắm cái cần trục tời ở buồng điều khiển và thỉnh thoảng xoay xoay với tâm trạng tràn ngập lo lắng. Trên cầu Bãi Cháy, bóng dáng của các Hội Đoàn Từ thiện nóng lòng đến cháy gan cháy ruột vì một cơn mưa đầu mùa hạ bất ngờ ngăn lối, đang tìm đường đến đó; dòng sông Gâm duyên dáng chạy dọc đôi bờ mang trên mình tấm áo xanh đã bị những lớp sóng cuốn ra xa ngoài vũng vịnh. Quản đốc không nhận ra được những con tàu thủy lực quen thuộc vẫn vào ra cảng than trên chiếc cầu tàu nữa, vì giờ đây họ đã được thông báo đang có một sự cố ngập nước xảy ra trên các hầm mỏ và cái bãi than hoang vắng trong mùa hè đã in đầy các dấu chân thương cảm. Phía trong, ánh sáng được thắp lên như ngày mới, một dàn đội hình bác sĩ đang tập trung sơ cứu cho một nạn nhân thợ lò mang đầy tình thương của một người Mẹ. Quản đốc rút chiếc khăn mùi xoa từ trong túi áo ngực lau vết thương cho người cấp dưới của mình, ngả mũ và cởi chiếc áo lao động óng ánh bụi than, để bàn tay ấm nóng đặt lên lồng ngực một người thợ lò khác, mỗi lúc làm như thế, ông nhận thấy rằng có một tình cảm riêng tư của cá nhân bỗng trở thành tình cảm thiêng liêng của cả một dân tộc.
Từ đó, ông bắt đầu quan tâm đến đời sống của người thợ lò nhiều hơn, nơi thỉnh thoảng ông vẫn bắt gặp một gia đình thợ lò hiếm hoi từ các làng mỏ Mông Dương vẫn chịu những cơn đói khát đến cùng cực và hơn lúc nào hết, ông tiếp tục trích những phần lương hưu ít ỏi mà mình tích cóp được cho đến khi cô thư ký vùng mỏ mang đến cho ông những bảng hồ sơ về lý lịch trích ngang của từng người thợ lò đang làm việc trên khắp vùng mỏ này. Nghe theo lời khuyến của các chuyên gia, ông đưa một vài kỹ thuật an toàn để người thợ lò bớt cơ cực hơn mấy chục năm nay, nhưng ông nói rằng: “Một khi biết cuộc đời người thợ lò sắp đi vào cửa tử thì có lẽ mình sẽ vẫn xung phong như một người lính cảm tử. Và để bảo đảm rằng mình là một chiến sĩ thợ lò thực thụ thì mình phải có cái gì đó cao hơn phẩm chất đó chứ. Trên đời này, người ta sợ kẻ hèn nhát còn hơn là sợ một vị anh hùng và một khi nắm chắc điều đó trong tay thì dẫu có bị vùi sâu dưới lớp đất đá hàng nghìn mét khối thì mình cũng chẳng sợ, vợ con mình sẽ cảm thấy hãnh diện vì mình đã làm việc như thể một ngày cuối cùng vì Tổ quốc và tương lai”.
Bây giờ chính là thời điểm rồi đó.
“Cho thêm thịt vào khẩu phần ăn của từng người nữa nhé” ông nói bằng một thứ tiếng đặc sệt ngữ điệu địa phương sôi nổi. Thậm chí nói rõ điều kiện mà mỗi người thợ lò đang cần được quan tâm mà không để ý đến việc một người thủ lĩnh ngành than như mình có được tôn trọng trong mắt của tất cả mọi người hay không. “Bình ôxy nhé, đủ dưỡng khí để không ai phải chết ngạt thêm một lần nào nữa”.
Ông thường xuyên vắng nhà, những đêm sống dưới hầm lò- cùng các anh chị em, từng người một, bao giờ cũng đưa ra các quyết định để người thợ có đủ thời gian tạo ra kỳ tích, sau chừng ấy năm tháng nghề mỏ không còn được coi trọng trong mắt mọi người nữa. Cái hạnh phúc là cần được quan tâm bất chợt tìm lại được vào một ngày nào đó đã cứu vãn từng người ra khỏi những rằng buộc sợ hãi. Khoảnh khắc tiến vào lò, dường như có một lời thề vô cùng mãnh liệt cứ vang vọng trong lồng ngực, họ cảm nhận có một sự chờ đợi nào từ phía các lò giếng than kín đáo. Ông xem sinh mạng người thợ và một mối hiểm họa bình thường, rồi đưa mắt liếc nhìn trên gương than lấp lánh, thấy một người thợ lò gương mặt xanh xao, có điều đó khiến anh bất an, mũ lò trên đỉnh đầu và bộ quần áo lao động giấu sau lớp bụi than dày đặc, anh lính trẻ mới vào nghề như vừa đón nhận một thứ tình cảm bất chợt từ cấp trên đã vội tảng lờ sang một chỗ khác, khiến đôi mắt hai người vụt mất nhau trong đường lò than thăm thẳm.
Gương mặt người thợ lò trẻ bỗng trở nên xa lạ. Nhưng hai người đã có quãng thời gian gặp nhau ở phóng hồi sức của trạm cấp cứu vùng mỏ Cẩm Phả, ông Quản đốc vui tính đã từng có lúc nào đó gặp gỡ con người trẻ tuổi ấy trong màu áo lao động tắm đẫm mùi than lẫn trong đoàn thợ lò quanh vùng mỏ khi ông đang cố phổ biến quy chế, nhưng không bao giờ ông cảm thấy thất vọng vì mình rải lên chàng lính trẻ ấy một niềm tin vào cái nghề được coi là khó nhọc nhất thế gian. Thoạt tiên, ông vẫn không nghĩ rằng sẽ có một ngày sự kỳ vọng đó là một trong những động lực lớn lao có thực để một người mới vào nghề sẽ vượt qua được sự sợ hãi phía sau các cánh cửa lò ngập tràn bóng tối và nguy hiểm.
Ông nhặt những hòn than vương vãi đâu đó trên hầm lò, cứ để tâm hồn mình dõi theo từng bước chân của mỗi người thợ cho đến khi hội chứng tiền đình kéo đến mạnh như một thứ bệnh nan y. Lúc đó, chính lúc đó thôi, ông đọc được những dòng tâm sự trong bức thư của một đứa con và một người vợ đã viết trong một buổi chiều gửi lên cho cha mình mà ông vô tình để quên đâu đó trong đám giấy tờ hỗn độn, đó là những nỗi lòng thầm kín ngày một tiến triển như một toa thuốc an thần, trấn an mỗi người thợ trước giây phút tiến vào hầm sâu mà không biết điều gì đang cố gắng chờ đợi họ ở dưới đó. Khi gấp lá thư lại, ông cảm nhận số phận từng thợ lò đã hằn in lên mỗi hòn than, một cảm giác lành lạnh như luồng điện chạy dọc sống lưng: ông nhìn thấy tương lai cũng như sự bất trắc nơi từng người. Cuối cùng ông đứng dậy đi ra ngoài, để lá thư nằm nghiêm ngắn trên góc bàn làm việc; lấy mũ lò, đèn lò, đôi ủng, chiếc áo lao động, và đi xuống hầm lò; để mặc nỗi sợ hãi, kẻ đã ám ảnh và khiến tâm hồn mỗi người thợ lò trở nên bê trễ. Ông đi khuất dần vào trong bóng tối quanh các lò giếng chợ bị mối xông lỗ trỗ và thấy trong lòng dâng lên một sự tự hào ghê ghớm đối với nghề than. Vào khoảnh khắc đó, ông nghe rõ mồn một tiếng bước chân người thợ lò như một đoàn quân đầy tiếng reo cười phía sau lưng mình rồi đến một chỗ bỗng dừng lại, khi ông đặt bàn tay sục sạo lên hòn than và xoay người lại thấy các dòng suối than chảy lênh láng như thác đổ. Cô thư ký vùng mỏ đi theo ông cứ luôn miệng nhắc nhở để khỏi bị lạc đường và ánh mắt trong veo của cô gái ngành than nhìn ông thấy cả một ngày mai tươi sáng.
“Thưa Quản đốc”, nữ thư ký vùng mỏ lẩm nhẩm.
“Luôn nói với những người thợ lò rằng họ đừng sợ hãi và lo lắng quá nhiều về mức lương”, Quản đốc nói, đừng bao giờ đánh hai chữ kỷ luật và đồng tâm. “Tiền bạc quan trọng, nhưng có thứ còn tuyệt vời hơn thế nữa, đó là Danh dự đấy”.
“Không một ai có thể hiểu nghề mỏ rõ hơn chúng tôi cả”, một người thợ lò khẳng định, sức nóng của hầm lò không thể so sánh với sức mạnh ngự trị trong trái tim của từng người lính được. “Tôi muốn làm thợ lò vì tôi đã bước qua khỏi ranh giới của sự sợ hãi và khát khao có được niềm vinh quang là có được những dòng than nối dài khắp mọi miền đất nước”.
Nghe tiếng nói trầm ấm, cái cung cách sôi nổi, và ngay cả chút sợ hãi nơi người thợ trẻ, rặt đất mỏ anh hùng.
“Anh nói với mọi người rằng yêu than, than sẽ cho ta tất cả”, Quản đốc động viên.
“Dù nguy hiểm, thưa Quản đốc. Tôi luôn sẵn sàng là một thợ lò chân chính”.
“Ồ, tôi rất lấy làm đồng cảm”, Quản đốc đáp lại, dĩ nhiên đó là một nghề bất trắc.
“Theo đuổi công việc đó quả là khó nhọc lắm”.
“Đâu có thấm thoát gì so với hàng vạn đồng bào ở nơi khác, thưa Quản đốc”, ông nhìn trực diện vào người thợ lò, đặt bàn tay lực điền lên bờ vai và cố gắng không để lý chí lấn át cảm xúc hỏi anh thợ trẻ:
“Cậu từ đâu đến?”
“Tôi đã sớm biết được điều đó rồi”, Quản đốc nói. “Nhưng lý do vì sao lại chọn nghề mỏ kia chứ?”
“Để tạo nên ngọn lửa, thưa Quản đốc”, anh lính nói và khiêm tốn đầu hơi nghiêng xuống.
“Tên em là Phan Văn Đạo”.
Quản đốc gật đầu tỏ vẻ đồng ý, đưa bàn tay xích lại phía anh lính trẻ.
“Ồ” ông nói “Tôi nghe tên đó nhiều lần, đó là một cái tên ấn tượng với anh chị em nghành mỏ”.
Phan Văn Đạo cố trấn tĩnh mình.
“Nếu nói đúng ra” chàng thợ lò trẻ tiếp nối câu chuyện “Phan Văn Đạo của Phân xưởng 12- Tôi là Phan Văn Đạo, nghề mỏ còn xa lạ trong tôi”.
Một làn gió biển ấm áp thổi từ vịnh Bái Tử Long len lỏi vào tâm hồn họ, mênh mông giữa thành phố mỏ. Quản đốc nháy nháy cặp mắt thâm quầng sau nhiều đêm mất ngủ và biết rằng nếu không làm việc trong ngành mỏ, ông sẽ không giờ thấu hiểu được hết vì sao ngọn lửa lại là thứ cần thiết với sự sống đến thế, nơi ông luôn xem đó là sự lựa chọn hàng đầu của một người có trái tim yêu nước.
“Anh dùng bữa sáng chữ?” ông hỏi như có ý quan tâm.
“Tôi đã lót dạ cùng anh em trong khu căng tin” Phan Văn Đạo trả lời “Còn những bữa khác tôi đều để dành khi tan ca dưới lò”.
“Như vậy có đủ năng lượng cho một ngày làm việc dài hơi không kia chứ”, ông ấy nói, như nhấn mạnh.
“Hôm nay tôi mời cậu nhé”.
Ông chộp lấy tay người thợ lò dẫn về một nhà hàng được thiết kế để dành riêng cho công nhân, với những biển hiệu khiêm tốn, trên đó có một câu khẩu hiệu: “Bữa ăn của công nhân là sức khỏe của toàn ngành”. Phía trong khá chật hẹp nhưng ấm cúng và có vẻ đã không còn chỗ ngồi nữa. Phan Văn Đạo cùng Quản đốc vừa ăn vừa quan sát những người công nhân mỏ có mặt trong ngày hôm đó, anh đã khám ra chính trong cuộc đời mình một mối đồng cảm với những cuộc đời khác.
“Có phải các anh là công nhân của xí nghiệp than Mông Dương không?”, ông chủ quán cất giọng hỏi.
“Đúng” Phan Văn Đạo đáp. “Một nghề luôn ngập tràn trong bóng tối và vinh quang”.
Chủ quán mỉm cười với thái độ kính trọng.
“Tôi đã nhận ra mùi than ngay khi các anh bước vào đây, tôi sẽ sắp xếp một chỗ ngồi thuận tiện cho các anh nhé”.
Chủ quán đưa họ đến một cái bàn trên tầng thượng, nơi có thể ngắm nhìn thành phố mỏ từ xa và nói chuyện về những cuộc đời tùy hứng. Quản đốc cảm ông anh nhé.
“Hiếm có người nào lại đối đãi tử tế như một thứ tình cảm tự nhiên với người thợ lò như thế” ông ấy thổ lộ.
Món ăn khai vị được bắt đầu đưa đến. Quản đốc và người thợ lò chăm chút nhìn vào trong đó và thấy những thứ hương vị đó có mối liên hệ đặc biệt với những khẩu phần ăn mà mỗi người thợ lò vẫn dùng trước mỗi lúc vào ca. “Món này là ca bung đấy” Quản đốc bình luận sôi nổi.
“Có lẽ tôi không dùng sẽ tốt hơn”. Ông nhìn Phan Văn Đạo với đôi mắt nghi ngại và giọng trùng xuống.
“Thực ra, thực đơn của người đi lò cũng có cái khác với người bình thường.
“Bác sĩ luôn cảnh báo chúng tôi về tình trạng đi ngoài khi ở mọi độ sâu”, Phan Văn Đạo nói, “Nhưng Quản đốc vẫn ăn uống một cách ngon lành”.
“Cậu cũng nhận ra điều đó sao”? Quản đốc nói. “Song hôm nay sẽ vượt qua ranh giới vì đó là một ngày rất ý nghĩa mà”.
Thuốc lá chẳng phải là thứ cấm kỵ tối thiểu đối với người thợ lò mọi lúc mọi nơi đó sao. Ông sẽ không bao giờ dùng thứ đó, một thứ vừa gây nghiện vừa có thể gây cháy nổ mà bất cứ người nào làm nghề mỏ cũng ý thức rõ ràng. Người thợ lò của chúng tôi chỉ ăn cơm, uống nước trắng và làm quen với mùi than.
Trong khi chờ đợi một vài món ăn khác, Phan Văn Đạo kiểm tra ví tiền, rút trong túi áo ngực bộ quần áo lao động mà anh mặc và nói với Quản đốc về một bức ảnh mà anh cứ ám ảnh mãi, Quản đốc đã ngay lập tức nhận ra người bạn chiến đấu của mình trên vùng mỏ suốt cả nghìn ngày đêm, người dùng cảm hơn bao giờ hết, ít nói và rất yêu nghề mỏ, khát vọng yêu đương nhưng chẳng bao giờ có thể thực hiện được giấc mơ đó. Lướt qua tấm ảnh, ông nhận ra cái bãi than cũng là nơi đặt khẩu đội pháo đã từng hạ mấy chục con ngáo ộp khi chúng có ý định phá hủy vùng mỏ này, nhận ra ngay lá cờ đỏ búa liềm của những ngày Mùa thu Tháng tám, ông nhận ra ngay cái ngày vinh quang đó sẽ không còn xa nữa. “Quả là một tấm ảnh xúc động”. Ông lẩm nhẩm. “Tôi không nghĩ thời gian có thể khiến con người ta lãng quên đi lịch sử”. Và ông đảo qua đảo lại quanh tấm ảnh thêm nhiều lần nữa với một tâm trạng hiển lộ rất đáng quan tâm.
“Tôi vẫn nhớ những ngày sục sôi trên vùng mỏ này rõ lắm”, ông nói “Cho dù bây giờ vùng mỏ đã khác và có vẻ như nó đã chỉ xảy ra trong ký ức của những năm tháng khổ đau và tù đày; bức ảnh này chụp những người thợ lò đang đấu tranh trên vùng mỏ mà hiện nó vẫn còn lưu giữ như một bảo vật tại Bảo tàng Quảng Ninh”.
“Đó là thành phố tươi đẹp của tôi”, Phan Văn Đạo nói, và người đó chỉ vào một góc trong khung hình của mình lẫn trong đoàn thợ mỏ ngày ấy. “Tôi đang cầm lá cờ đây nè”.
Quản đốc ngay lập tức nhận ra người đó từ một vị trí quen thuộc.
“Lúc đó tôi vẫn còn là một cậu nhóc giao liên”.
“Đã có một thời, có vẻ hơn thế”, anh ấy nói “ Tôi theo ông tôi vào trong các đường hầm lò, trong tư cách là một sinh viên của Trường mỏ”.
Quản đốc lại được một phút sống lại ký ức khó quên.
“Tôi nghĩ rằng tôi đánh cược cả ước mơ của mình chỉ vì thèm nghe tiếng than rơi bên ngoài các giếng đứng” ông nói.
“Đó là một sự lựa chọn đúng đắn, ông đã làm tất cả vì điều đó”, Phan Văn Đạo đáp. “Bởi vì chúng ta là những người ưa kỷ luật, làm sao có thể lãng quên đi trách nhiệm mà Tổ quốc phó thác”.
“Nhưng rồi sau đó thì sao?”
“Quản đốc là người hiểu hơn ai hết về nghề này”, Phan Văn Đạo nói. “Sau mỗi giờ dưới đường lò, điều hạnh phúc là cả hai chúng ta và những người khác nữa được trở về bên gia đình, sẵn sàng hy sinh để mỗi gia đình có được ngọn lửa và thắp sáng Tổ quốc. Không ai trong số những người trên đất nước này lại nhận thức rõ ràng về cái lý tưởng cao đẹp như chúng ta đâu”. Vừa lúc nó thì người phục mang đến vài món ăn đã bày sẵn trên bàn.
Quản đốc quàng chiếc áo ấm lên người, giống như người già sợ lạnh và bao giờ cũng tỏ vẻ ngạc nhiên thầm kín trước cử chỉ rụt rè nơi người thợ lò.
“Khi tôi không làm điều gì đó tương tự như thế này, tôi sẽ làm hỏng tính cách cần có đối với người thợ mỏ” ông khẳng định. Mỗi khi bắt đầu một làm một việc cụ thể, ông thường liên tưởng đến cuộc đời mình, sốt sắng biết bao nhiêu bên trong cái nỗi niềm thầm kín là số phận của từng người, rồi mách bảo ý chí mình về những câu chuyện thấm nhuần đạo lý ở nơi mà luôn có những nguy hiểm như con thú dữ chỉ chờ rình rập để cướp đi mạng sống những người lính cấp dưới của ông.
“Tôi đã học được điều đó”, ông nói “Là lý do vì sao anh không trở thành một người thợ lò sớm, thay vì lang bạt ở cuộc đời như một đứa trẻ cơ nhỡ”.
Phan Văn Đạo nói rằng anh đã nhận ra sứ mệnh tuổi trẻ ngay từ khi cảm nhận cái công việc lao động thầm lặng dường như chỉ dành riêng cho những người có tính cách ưa kỷ luật và tỉ mỉ.
Đó là một kỳ thực tập đáng nhớ và ông đã có mặt trong trang phục đặc trưng của ngành than để tạo ấn tượng với những người công nhân mới, không mang dáng vẻ trịch thượng, không có những lời đao to búa lớn, không trình diễn bằng lý lẽ xa vời và những cử chỉ ông dành cho tất cả những người lính tân binh đến với nghề than hôm đó đã trở thành một bài học đạo đức sống còn đối với hầu hết những người đang trực tiếp làm việc trên khắp vùng mỏ sau này.
Phan Văn Đạo biết được một bí mật, ông luôn sống một mình tại Mông Dương, không vợ không con không gia đình, vì Quản đốc biết rõ đặc thù của cái công việc mình đang làm, nơi ông đã từng theo học ở Trường mỏ và có ý định sau khi ra trường sẽ trở thành một người thợ lò. Theo những gì ông đặt ra, trạm cứu hộ vùng mỏ phải có những biện pháp hữu hiệu để bảo đảm khi có sự cố xảy ra không ai phải trở thành kẻ thế thân cho thần chết.
Những đêm trên vùng mỏ, Phan Văn Đạo và vợ anh thường tìm đến nhà ông như những thành viên đặc biệt trong gia đình. Và càng làm việc với ông, họ càng nhận ra cái phẩm chất cao đẹp của một vị thủ lĩnh ngành than, chẳng bao giờ bộc lộc, và có lẽ cũng chỉ mình ông mới biết, nếu đó là điều tốt cho tổ chức và mỗi thành viên trong đại gia đình gồm hàng chục nghìn người.
“Tôi cảm thấy sống như vậy thật thoải mái và sự thật là tôi thấy mình không muốn làm phiền bất kỳ ai”.
“Không hẳn là thế chứ”.
“Có lý do đặc biệt nào không?” Quản đốc hỏi một cách thành thực “Ngành đi mỏ đến giờ phút đã biến tôi trở thành một con người cứng rắn và vạm vỡ”.
“Tất cả những người có mặt trên vùng mỏ này đều yêu mến ông” Phan Văn Đạo nói, luôn ẩn chứa sự kính trọng lạ lùng. “Thật là vui khi luôn có một vị thủ lĩnh cảm thông và thấu hiểu như thế, vẫn trẻ trung và tràn đầy hoài bão”.
“Và có lẽ vì thế mà” ông nói không chút vấp váp “Mọi cố gắng đều chứng tỏ là tôi sẽ còn gây dựng cái xí nghiệp than này vươn xa hơn nữa đấy”.
“Tâm trạng của Quản đốc là một phần ý chí trong những đứa đi lò như tụi em”. Phan Văn Đạo nói.
Quản đốc thấy trong mình rộ lên vẻ ngạc nhiên, nhưng không bao giờ tỏ ra xao nhãng, lời thề với tổ chức và anh em trong ngành thì đó đều là hai chữ Kỷ luật và Đồng tâm.
“Than ôi!” Ông thở dài “Bộ quy chế hướng dẫn đi lò làm sao cho an toàn đã ít được chú trọng ở cái thành phổ biển Hạ Long xinh đẹp này rồi hay sao?”
“Không có một bí mật nào được cất giữ bên trong cuộc đời lao động của một người thợ lò, của một người lái xe vùng mỏ và ở bất cứ trạm cứu chữa bệnh nhân gặp nạn, bất cứ nơi nào trên đất nước này cả, thưa ông.” Phan Văn Đạo nói.
“Ồ, điều lý tưởng mà tôi biết ở đây, tôi đã nghe từ chính lời nói của tất cả anh chị em trong nghề đi lò một nỗi niềm yêu thương duy nhất có thể biết điều đó rất tốt cho việc xây dựng ngành than trong những năm dịch dã”.
“Nhưng nói gì đi nữa, ông cũng không để ai trên cái đất mỏ này cảm thấy tủi hổ vì biết rằng công việc lao động cật lực dưới hầm sâu sẽ là một cái gì đó một cách vô ích” Phan Văn Đạo nói “Luôn luôn có người góp phần với ông vào vị trí xứng đáng cao cả của ông, như một lời thề Danh dự thiêng liêng trước Tổ quốc”.
Ông Quản đốc bỗng trở nên ngạc nhiên, hài hước:
“Lời nói của cậu đã làm ấm lại lòng ta” ông nói.
Ông ăn uống đạm bạc như những người thợ lò khác: không phân biệt giàu nghèo, cao thấp, rất hòa ái. Khi sống bên cạnh những người thợ của mình, ông bao giờ cũng chăm chút và nâng niu họ như thể một người bà con xa cách, nhìn thẳng vào cuộc đời mỗi người, trong đó có Phan Văn Đạo và chàng trai thợ lò trẻ cảm thấy có một ấn tượng mạnh như thể thấy được sự quan tâm từ phía tổ chức của mình. Sau những phút giãy bày tâm sự đầy nỗi niềm yêu thương, nụ cười của Quản đốc bỗng trở nên khác lạ.
“Tôi đã nghĩ suốt nhiều giờ liền là đừng bao giờ ám ảnh về những cái chết của đồng đội mình trước đó” ông nói “Nhưng bây giờ, tôi nghĩ rằng tôi phải chú ý nhiều hơn nữa như trong một câu chuyện tình cảnh bắt buộc mà một bộ phim phóng sự mới đây về vùng mỏ, để khởi dậy cái ngọn lửa thắp sáng trong lòng mọi người để khỏi phải cảm thấy cô đơn khi ở một mình dưới lò sâu.
“Câu chuyện về đời người thợ lò thật giúp ích trong lúc này” đến lượt Phan Văn Đạo bông đùa “Ở vùng mỏ này, chẳng có cái gì đáng được quan tâm hơn việc chăm lo cho đời sống của mỗi người thợ. Họ đã làm việc dưới đó suốt cả tám tiếng đồng hồ, và cả đời họ, chẳng có gì đáng quan tâm hơn là việc có một mức lương phù hợp để nuôi sống bản thân và gia đình”.
Khi trực tiếp làm việc. Quản đốc nhìn gương mặt lấm bụi của người thợ và ông lại giật mình thảng thốt – Mọi chuyện vẫn diễn ra như cũ – Và dường như cái tình cảm đối đãi mà ông dành cho anh em thợ lò cũng tốt dần lên – ông an ủi họ, bằng lời nói, nhưng cẩn trọng kiểm tra lại tình trạng lương bổng trong đám sổ sách mà cứ muốn lặp đi lặp lại dăm bảy lần, nhìn qua nhìn tới bảng lương và các khoản phụ cấp đắt đỏ của từng người với một thái độ đồng cảm sâu sắc và đặt bút ký vào tờ “Biểu mẫu” chỉ như vừa đúng với thời gian mà một người thợ đào lên một hòn than nóng bỏng, đứng thở.
“Không có gì tự hào hơn thế”, ông đúc kết trước khi từ biệt Phan Văn Đạo. “Tôi đã đặt lịch hẹn với anh em thợ lò và tôi cũng rút lại quyết định đi công tác vào sáng ngày mai để kiểm tra các vỉa than. Nhưng tôi hy vọng rằng vào đầu mùa mưa năm nay việc khai thác của phân xương chúng ta sẽ gặp thuận lợi”.
“Sao chúng ta không tổ chức các buổi tập huấn?” – Phan Văn Đạo nói
Hồng Vân, vợ tôi, người chuyên làm nhiệm vụ cấp dưỡng vùng mỏ, thường nấu những món ăn mà mỗi người thợ lò ưa thích. Không ai trong số những người phục vụ có thể làm thay nhiệm vụ của cô ấy. Chúng tôi hy vọng rằng ông có thể bớt chút thời giờ để dùng bữa cùng anh chị em công nhân trong khu căng tin mới được xây dựng vào hồi đầu năm ngoái”.
“Tôi đang sắp xếp một vài kế hoạch nhỏ, nhưng tôi sẽ hạnh phúc biết nhường nào nếu đó là một bữa cơm của gia đình”. Ông nói: “Hãy cho tôi biết lịch của bữa cơm đó, nhất định tôi sẽ tới”.
“Vào lúc 6 giờ chiều, sau giờ tăng ca tôi được nghỉ” Phan Văn Đạo đáp.
“Qủa là tuyệt vời” Quản đốc nói.
“Thứ Bảy và Chủ nhật, vào lúc 8 giờ tối, tôi sẽ có mặt tại căng tin. Đó sẽ là bữa cơm gia đình ấm áp và yêu thương đấy”.
“Tôi sẽ đợi ông phía trước sảnh lớn của xí nghiệp”- Phan Văn Đạo nói: “Nhà khách Công Đoàn, số 10, đường Hạ Long. Bên kia Quảng trường 12-11. Nhất định là thế chứ?”.
“Rất hợp lý” Quản đốc nói và đứng dậy nhanh như một chú sóc, trông dáng vẻ ông vào lúc này giống hệt với người vừa có chuyến đi xa trở về như muốn trút bỏ mọi gánh nặng. “Dường như anh còn muốn biết bộ trang phục thợ lò của tôi nữa”.
“Ồ, đúng rồi, thưa Quản đốc”. Phan Văn Đạo nói với vẻ khoái chí “Số đo sẽ là ba mươi chín, khá hợp với phom người ông”.
Dù sống với nhau nhiều năm ở vùng mỏ này, có một vài điều Phan Văn Đạo vẫn chưa thổ lộ cho Quản đốc biết, nhưng qua một vài biến cố gần đây, anh lại dũng cảm kể rành rẽ với tất cả mọi người, dù sao, khó khăn ban đầu của anh cũng chỉ để nói lên hết thảy tình trạng mà bất cứ người thợ lò nào cũng gặp phải mà thôi. Cũng giống như những người lái xe trên đất mỏ, anh cũng tỏ ra lo lắng và sốt sắng cho số phận của từng người và các bác sĩ ở trạm cứu thương vùng mỏ thì luôn luôn tỏ ra nghi ngại mỗi khi có một người công nhân nào đó tức tốc được đưa tới trạm cấp cứu, nhất là với những người thợ lò tuổi đời còn ít mà tình trạng sức khỏe có phần đi xuống. Chuyện tưởng chừng nhỏ thoi thôi mà chẳng ai có thể nhận ra so với tâm trạng từng người thợ lò khác luôn đầy ắp sợ hãi quanh các vỉa than ngập ngụa của những nạn nhân sa sảy. Nhưng dù thế nào đi chăng nữa thì cũng còn hơn khối kẻ đang sống nhởn nhơ trên cái pháp luật còn lỏng lẻo, sống trụy lạc, ăn bám, ham chơi, đua đòi, lêu lổng, phải đánh cược cuộc đời mình trong những trò đen đỏ.
(Hết kỳ 1 – Còn tiếp)
V.M.P










