Những vần thơ lắng đọng phù sa – Bài của Nguyễn Quỳnh Anh

1363

Nhân đọc Đôi dòng phù sa của Trần Lộc

(Vanchuongphuongnam.vn) – Tôi quen biết nhà thơ Trần Lộc từ năm 2019 nhân một dịp dự trại sáng tác do Hội Văn học nghệ thuật Ninh Bình tổ chức tại Cúc Phương, ấn tượng ban đầu với tôi là một người có tác phong nhanh nhẹn, giản dị và cẩn trọng về chữ nghĩa của một người gốc xứ Nghệ, một vùng đất hiếu học và giàu truyền thống văn hóa.

Rồi từ đó anh em có nhiều dịp đi dự trại, đi thực tế hay giao lưu thường nhật, anh em có điều kiện hiểu thêm về nhau phần nào. Yêu thơ văn, làm thơ từ sớm nhưng công việc khi công tác ở một sở cuốn hút anh nên về hưu Trần Lộc mới vào Hội Văn học nghệ thuật Ninh Bình, làm phó chủ tịch Câu lạc bộ thơ Việt Nam tỉnh Ninh Bình và có điều kiện viết nhiều hơn. Sau tập thơ Mạch Yên Tràng, NXB Văn học, 2021 đến quý II năm 2024, Trần Lộc tiếp tục cho ra mắt tập thơ thứ hai của mình với cái tên đầy ý nghĩa của một người gắn bó với hai vùng đất đó là Đôi dòng phù sa, NXB Văn học, 2024. Tập thơ dày 100 trang với 70 bài thơ gồm nhiều thể loại và phong phú về đề tài. Ấn tượng đầu tiên của tôi sau khi đọc tập thơ là những cảm xúc chân thành của nhà thơ với quê hương, cuộc đời và con người.

Đọc trong tập thơ Đôi dòng phù sa luôn luôn hiện hữu hai miền quê yêu dấu: Hà Tĩnh – nơi chôn nhau cắt rốn, gắn với tuổi thơ cắp sách tới trường; Ninh Bình – nơi gắn bó công tác và xây dựng gia đình cũng như sinh sống hiện tại. Hai miền quê ấy hiện hữu trong nhiều bài thơ, viết về Hà Tĩnh với những địa danh như Núi Hồng (Ngàn Hống), Tiên Điền, Can Lộc, sông Lam, sông La, Trảo Nha, Ngàn Trươi, Đồng Lộc, Hương Tích, Thiên Cầm, Kẻ Gỗ, Ngàn Sâu, Ngàn Phố, Ba Giang, Tam Soa, Giăng Màn cùng những biểu tượng áo tơi, gió Lào, điệu Ví, chè xanh… tất cả như ngân lên điệu nhạc về nỗi nhớ thương da diết của người con đi xa về mảnh đất miền Trung đầy nắng lửa bão giông nhưng luôn kiên cường, nhân nghĩa, mang đậm tình người. Mỗi địa danh còn gắn với bao kỷ niệm tuổi thơ, gắn với niềm tự hào về quê hương giàu truyền thống văn hóa và anh dũng, kiên cường. Đó cũng là miền quê gắn với cuộc đời của Đại thi hào Nguyễn Du, Doanh điền sứ Nguyễn Công Trứ, của mười cô gái ngã ba Đồng Lộc, của người con gái sông La…  Điệu trữ tình ngân lên cùng những cung bậc cảm xúc khi viết về quê hương như lời mời tha thiết về Hà Tĩnh quê anh:

Ngàn Phố, Ngàn Sâu qua bến Tam Soa

Em về cùng anh chăn tằm dệt vải

Vành nón Ba Giang má hồng ai thắm mãi

Đã yêu nhau dẫu dưới biển trên ngàn

                                                        (Về Hà Tĩnh đi em)

          Nơi mồ hôi chát mặn những đường cày

          Anh lớn lên từ sắn khoai và ầu ơ lời mẹ hát

          Nắng Hồng Lam ngả nghiêng câu lục bát

          Xiêu vẹo hồn Kiều nức nở mộ Nguyễn Du.

                                                        (Hà Tĩnh hồn thiêng)

          Bên cạnh đó, tình đất, tình người Ninh Bình cũng ngân lên ngọt ngào, đằm thắm của một người đã gần nửa thế kỷ gắn bó với mảnh đất này, đã coi nơi đây là quê hương thứ hai của mình. Nhắc tới Ninh Bình là nhắc tới Đại Cồ Việt, Hoa Lư, Dục Thúy, sào Khê, sông Vân, Cúc Phương, Tràng An, Nho Quan, Kim Sơn, Cồn Nổi, sông Đáy, Hoàng Long, Đồng Chương, Thung Nham, hồ Mạc, động Người Xưa, đỉnh Mây Bạc, Quỳnh Lưu, làng Sải… Mỗi tên núi, tên sông nơi đây đều gắn với truyền thống lịch sử, văn hóa lâu đời của quê hương Đất nước, từ buổi Đinh Bộ Lĩnh dựng cờ thống nhất giang sơn lập nên nhà nước Đại Cồ Việt. Mảnh đất này đã trải hàng ngàn năm lịch sử với những thăng trầm nhưng hôm nay đang vươn mình mạnh mẽ để phát huy hết thế mạnh, tiềm năng của mình. Tập thơ đã dành những bài, những câu thơ ý nghĩa, giàu sức khái quát để nói lên cảm xúc của người con gắn bó với quê hương:

          Hoa Lư khắc ấn Đại Cồ Việt

          Thúy Sơn pho sử tạc ngàn năm

          Văn võ phủ dày nền văn hiến

          Tràng An rạng tỏa sáng trời Nam

                                         (Lưu đời một kho văn)

          Sững sờ bên động Người Xưa

          Giao mùa tóc vấn sợi mưa đẫm tình

          Gió rưng rức mái nguyên sinh

          Nhấp nhô núi đứng tự tình ngàn năm

                                        ( Khúc giao mùa Cúc Phương)

          Nhan đề tập thơ Đôi dòng phù sa cũng là một ẩn dụ nghệ thuật về hai miền quê gắn bó khăng khít trong cuộc đời Trần Lộc, nhiều khi hai miền quê ấy cứ gắn bó song hành trong mỗi tứ thơ như lời thủ thỉ, tâm tình. Có khi là Giọt nhớ chia đôi cho hai quê nhưng cũng là sự biết ơn cuộc đời khi mình có hai quê:

          Có hạt phù sa Cồn Nổi

          Ngát hương Ngàn Hống cỏ cây

          Bổng trầm một câu hát xẩm

          Réo rắt điệu Ví vơi đầy

         

Giọt thương xin chia hai nửa

Giọt nhớ mình sẻ làm đôi

Đáy – Lam cùng chung cửa bể

Hai quê xanh biếc một trời!

                     (Giọt nhớ chia đôi)

Ninh Bình là bến đỗ của nhà thơ trên hành trình mưu sinh bộn bề cơm áo, mảnh đất này như là duyên phận để Trần Lộc gửi gắm tấm tình của người trai xứ Nghệ: Khắc khoải con tim nhịp đập dòng La/ Lơ lửng hồn Trảo Nha quyện chặt/ Tình Tràng An nửa yêu thương chưng cất/ Vun trồng nên gia thất yên bình/ Đất ngàn năm ân nghĩa chung tình/ Ta gửi trọn lòng trung trinh xứ Nghệ/ Hoa Lư ơi! Xin mãi là quê (Duyên phận).

Bài thơ Đôi dòng phù sa được chọn làm nhan đề cho cả tập thơ của mình, bài thơ viết theo thể lục bát, chia làm bốn khổ. Đó cũng là bài thơ được trau chuốt tỉ mỉ với từng con chữ. Đôi dòng phù sa không chỉ là dòng Lam, dòng Đáy mà còn là trầm tích văn hóa ngàn đời của hai quê, trầm tích ấy như những giọt phù sa lắng đọng bồi tụ những cánh đồng màu mỡ:

Mênh mang điệu Ví ân tình

Giấu trong dòng Đáy bóng hình diết da

Nổi chìm lấp lánh sơn hà

Hạt Doanh điền sứ nở hoa “Núi Vàng”

Vi vu Cồn Nổi mơn man

Mặn mòi hơi thở Hồng Lam từng chiều

Quặn mình lắng giữa đôi làn

Khuyết tròn nửa Đáy nửa Lam nặng lòng

Mỡ màng chắt gột hai dòng

Hạt phù sa trải mênh mông cội nguồn…

                       (Đôi dòng phù sa)

Quê hương và mẹ là hình ảnh luôn trở đi trở lại trong tập thơ như các bài Ao làng, Áo tơi, Cỏ xanh đợi người, Tháng Tám mẹ và tôi, Tre làng, Bần thần giữa quê, Đất lề quê thói, Giỗ mẹ mùa Vu lan, Phiên chợ mẹ, Mẹ rằng… Mỗi lần viết về quê, về mẹ cảm xúc của tác giả lại dâng trào với bao buồn vui, thương nhớ về một miền quê nghèo khó nhưng sâu nặng nghĩa tình, đó là hình ảnh mẹ tần tảo, lam lũ trong gian khó, cơ hàn rồi đến khi cuộc sống đủ đày hơn thì mẹ không còn nữa:

Mẹ về đi!  Về ngắm cháu rể- dâu

Ngắm chắt bà nguyện cầu di ảnh cũ

Mẹ về đi! Cháu con đang hội tụ

Đợi mẹ hoài đông đủ giữa Vu Lan

                      (Giỗ mẹ mùa Vu lan)

Ngoài Hà Tĩnh, Ninh Bình, nhà thơ Trần Lộc còn dành những cảm xúc cho những miền đất mình ghé thăm như Hà Giang, Vĩnh Phúc, Nam Định, Bạc Liêu, Hà Nội, Sài Gòn… trong đó có nhiều bài thơ với những phát hiện thú vị:

Hẹn nhé Hà Giang lần sau về lại

Nơi thân thương mảnh đất địa đầu

Thương khóm ngô buồn trong hốc đá

Nhớ má em hồng phiên chợ vùng cao

                                   (Gieo hạt nhớ)

Ước gì

        trở lại Phúc Yên

Đằm trong Đại Lải

        thương miền thông reo

Bàn chân sỏi cựa lời yêu

Bọt cười trắng xóa những chiều sóng xô

                                          (Ước gì)

Thật là một thiếu sót nếu không nhắc đến mảng thơ viết về tình yêu trong tập thơ Đôi dòng phù sa với hàng chục bài thơ như Ước gì, Dấu chân trung du, Dùng dằng, Hà Nội vắng em, Mặc nọong,  Hát mãi lời yêu, Khúc tình thu, Bùa mê, Rừng thức, Lỗi hẹn với biển, Lạc bến bờ em, Biển yêu… Viết về tình yêu của một người đứng tuổi mặc dù không quá náo nhiệt, sôi nổi nhưng cũng không kém phần lãng mạn, mãnh liệt, chúng ta cùng đọc một số câu trong ấy:

Ngong ngóng một bàn tay nóng hổi

ủ ấm cơn nông nổi heo may

cho môi nồng vương ngọn hao gầy

nứt nẻ nhau một ngày qua phố

                               (Phố mùa đông)

Tự bao giờ anh lạc bến bờ em

Để câu thơ cứ nặng lòng thương nhớ

Vẫn chậm vẫn nhanh thêm phần bỡ ngỡ

Phút yếu lòng sợ lắm những vu vơ

                               (Lạc bến bờ em)

Nguyễn Cư Trinh, một danh sĩ thời chúa Nguyễn,  từng cho rằng: “Người làm thơ không ngoài lấy trung hậu làm gốc, ý nghĩa phải hàm súc, lời thơ phải giản dị”, thơ Trần Lộc là thế. Đọc cả tập thơ Đôi dòng phù sa, người đọc sẽ nhận ra sự cẩn trọng trong từng câu chữ, Trần Lộc không cầu kì trong sử dụng câu chữ, không làm mới từ ngữ, không cách tân về hình thức, thể loại mà vẫn luôn trung thành với lối thơ truyền thống nhưng chính sự mộc mạc đó cộng với cảm xúc chân thành đã góp phần vào thành công cho tập thơ này của mình.

  N.Q.A