(Vanchuongphuongnam.vn) – Khi cái nắng cuối hè bớt phần gay gắt, những cơn mưa rào xối xả bắt đầu thưa dần nhường chỗ cho tiết trời heo may chớm lạnh, ấy cũng là lúc quê tôi bước vào mùa gieo rau cải thìa. Cải thìa cùng với cải củ là hai thứ rau được ngóng chờ và gieo trồng sớm nhất trong vụ đông xuân.

Ảnh minh họa. Nguồn internet
Tôi nhớ rất rõ mảnh vườn nhỏ của gia đình ngày trước nằm lọt thỏm bên kia con suối, chuyên dùng để trồng rau. Vườn ở bờ bên kia nên đàn gà nhà chẳng thể mò sang phá phách, nhờ thế mà năm nào bố cũng đỡ được khoản đan phên nứa rào quanh. Cạnh gốc sung già xù xì, bố bắc một cây cầu nhỏ vừa bằng thân cây tre đực. Giữa dòng, bố dựng trụ chống bằng hai đoạn tre chụm đầu vào nhau, phía trên buộc thêm thanh tre nhỏ làm tay vịn. Những năm mưa lớn, nước lũ từ thượng nguồn đổ về ngập trắng, cuốn trôi cả cầu. Lại có những lần gầm cầu bị mục chưa kịp thay, tôi gánh phân sang vườn, cầu gãy đôi khiến cả người lẫn thùng rơi nhào xuống suối…
Mùa hè, lũ bạn chăn trâu cùng lứa rất thích kéo sang nhà tôi chơi rồi rủ nhau ra suối tắm. Khúc suối chảy qua vườn nhà tôi vừa rộng lại ít rong rêu, lòng suối trải toàn cát sỏi nên nước sâu mà trong vắt, bơi lội thỏa thích mà không lo đục. Cả đám hò reo rồi leo lên thành cầu, nhảy “tùm” xuống dòng nước mát lạnh. Hụp lặn chán chê, chúng tôi lại thi nhau đi qua cầu mà không bám tay vào thanh vịn. Nhiều đứa cố trổ tài nhưng chỉ đi chưa đầy nửa đoạn đã chới với, vội chộp lấy thanh tre hoặc ngã ùa xuống nước. Tiếng cười trong trẻo rộn rã cả một khoảng trời.
Sau những đợt mưa rào, nền đất nắng hanh co lại cứng đơ. Muốn trồng rau, việc đầu tiên là phải cuốc đất cho tơi xốp, xới luống, đào hố rồi bón lót bằng phân chuồng trước khi đánh cây giống ra trồng. Cây cải thìa tuy dễ sống, lớn nhanh, nhưng phải có phân chuồng thì năng suất mới cao, lá mới mềm và vị mới ngọt đậm; nếu lỡ bón nhiều phân hóa học, bẹ rau sẽ cứng mà ăn lại nhạt thếch. Trồng xong, gặp những ngày nắng gắt, bố lại chặt những cây chuối đã thu hoạch buồng, bóc lấy bẹ, cắt thành từng đoạn dài hơn gang tay để úp che cho cây con. Cứ sáng sớm, tôi lại chạy sang vườn úp bẹ chuối che nắng, chiều mát lại mở ra tưới nước. Chăm chút tỉ mỉ như thế suốt cả tuần liền cho đến khi cây rau cứng cáp mới thôi.
Cải thìa nhờ được bón lót kỹ và tưới tắm đều đặn nên lớn nhanh như thổi. Chỉ khoảng hai tuần sau khi đặt xuống đất, cây rau đã cao gần gang tay, lá xanh non mỡ màng. Cuống lá phình to như chiếc thìa cong căng mọng, màu trắng muốt, ôm ấp lấy nhau gọn gẽ. Cả cây rau trông như một bông hoa xanh trắng xinh xắn, mát mắt vô cùng. Lúc này, bố lại dặn bón thúc bằng nước giải pha loãng hoặc rắc ít tro bếp vun vào gốc, rồi hàng ngày cặm cụi bắt từng con sâu, nhổ từng ngọn cỏ. Chẳng mấy hồi, vườn rau đã xanh mướt một màu, sẵn sàng cho bữa hái đầu tiên.
Khi những loại rau vụ xuân hè đã tàn dần và ăn không còn ngọt đậm, cây cải thìa đầu mùa càng trở nên quý giá. Nhất là khi mùa cải thìa lại rơi đúng vào dịp giáp hạt. Bữa cơm ngày ấy thường độn đầy khoai, sắn, nhưng chỉ cần có thêm bát canh cải thìa là cảm thấy sang trọng lắm rồi. Cải thìa ăn ngọt mát, không hề có vị nhặng đắng như cải bẹ hay cải nương. Ngày đó mì chính (bột ngọt) là thứ hàng hiếm nên vị ngọt tự nhiên của cải thìa càng được yêu thích. Lá cải thìa xào với mỡ lợn óng ánh, ăn với cơm no căng bụng mà vẫn thấy thèm. Đặc biệt, khi nấu canh khoai sọ hay khoai nước, thả thêm nhúm rau cải thìa vào thì nước canh ngọt lịm mà không bị bứ. Tôi mê nhất là canh cải thìa và canh bí đỏ, bởi hai món này chẳng cần nêm mì chính vẫn ngọt đậm, trôi cơm.
Thế nhưng, mảnh vườn ở bên kia suối tránh được đàn gà nhà thì lại trở thành “mục tiêu” của chim rừng. Có những khi vườn rau đang xanh mơn mởn, chỉ qua mươi ngày, lũ chim xà xuống mổ xơ xác, chỉ còn trơ lại vài cuộng lá chĩa thẳng lên trời. Bố tôi nghĩ cách dùng thân cây chuối cùng bao tải, quần áo cũ để dựng bù nhìn. Ban đầu chim còn sợ, nhưng lâu dần chúng đâm quen. Đầu tiên chúng chỉ mổ những cây rau xa bù nhìn, hoặc vài con bạo dạn mới dám sà xuống, số còn lại đậu trên cành cao ngó nghiêng và kêu inh ỏi. Sau chúng rủ cả đàn xuống phá. Táo tợn nhất là lũ chào mào đầu đỏ, sáo sậu, chim ri, chích chòe, bìm bịp, và thi thoảng có cả mấy con gà rừng từ núi sâu mò về.
Khi bù nhìn mất linh, ban ngày anh em chúng tôi phải thay nhau chạy sang vườn đuổi chim, vừa chạy vừa xua tay hô “ồ… ồ…” để dọa. Về sau, bố nghĩ ra một sáng kiến độc đáo: ngồi tại nhà vẫn có thể đuổi chim bên vườn. Bố chọn cây nứa to thẳng, một đầu chẻ xòe thành nhiều tua nhỏ dài chừng sải tay, đầu kia chôn chặt xuống đất. Bố buộc sợi dây thừng vào lưng chừng thân nứa rồi dẫn dây qua dòng suối về tận hiên nhà. Để dây không bị xà xuống đất, bố đục lỗ xuyên qua hàng chục cọc tre cao quá đầu người làm đường dẫn. Phía bên kia vườn, bố chọn một cây tre nhỏ mềm chôn xuống làm đối trọng kéo rút như chiếc lò xo.
Mỗi khi thấy bóng chim sà xuống, chỉ cần ngồi ở hiên nhà giật nhẹ sợi dây, cột nứa bên kia lập tức lắc lư, những thanh nứa chẻ nhỏ gật gù như cánh tay vẫy, va vào nhau tạo nên âm thanh “rào rào” giòn giã khiến lũ chim hoảng sợ bay đi. Anh em chúng tôi gọi đó là “cây kẻng báo động”. Những chiều vừa ngồi học bài, tôi vừa được phân công trực dây kéo đuổi chim. Có bận mải chơi quên giật dây, để chim phá nát vạt rau, tối về thế nào cũng bị bố la rầy và ăn mấy roi vào mông cho nhớ.
Sợi dây kéo ban đầu làm bằng dây sắn rừng rất nặng và mau đứt vì không chịu được mưa nắng. Tôi hồi ấy còn bé, mỗi lần giật dây phải dùng hết sức mình, chân đạp vào bậu cửa, ngả cả người ra sau mới kéo nổi. Sau này, bố dặn mấy bà buôn hàng xén dưới xuôi mua cho cuộn dây dù nilon, việc giật kẻng mới nhẹ nhàng hơn. Bố còn treo thêm cái mõ trâu cũ và mấy cái vung xoong hỏng vào cột nứa để tạo nên những âm thanh náo nhiệt, dữ dội hơn nữa.
Đầu đông trời ít mưa, thời tiết khô hanh nên ngày nào cũng phải tưới rau. Thời đó chưa có điện hay máy bơm, mọi việc đều trông vào đôi tay. Tôi lội xuống suối gánh từng thùng nước lên, dùng gáo dừa hoặc “cóng bơ” vỏ hộp sữa bò múc tưới từng gốc. Riêng với luống rau giống mới gieo còn non nớt, bố tôi sáng tạo ra chiếc “ô doa” bằng cây vầu. Bố chọn đoạn vầu to ba bốn đốt đục thông nhau, một đầu gắn với quả bầu khô dùi nhiều lỗ nhỏ. Khi múc nước, tôi dùng mảnh vải dày bịt đầu quả bầu lại; lúc tưới thì mở ra để nước tỏa thành những tia nhỏ mịn như sương mờ. Chiếc bình tưới tự chế tuy thao tác có phần lềnh kềnh nhưng lại giữ cho mầm rau non mong manh không bị đổ ngả hay dập nát. Ngày ấy, một chiếc bình ô doa bằng tôn ở chợ huyện là cả một tài sản lớn mà nhà tôi chẳng thể nào mua nổi.
Năm nào cũng vậy, khi những đợt gió mùa đông bắc đầu tiên tràn về rét nhẹ cũng là lúc mẹ tôi cẩn thận lấy từ gác bếp xuống những ống nứa đựng hạt giống. Đó là những hạt cải thìa tròn lẳn, màu nâu bóng được chọn lựa kỹ càng từ những cây cải to nhất, khỏe nhất mùa trước. Khác với hoa cải bẹ hay cải nương có màu vàng tươi, hoa cải thìa lại mang màu trắng tinh khôi, dịu dàng như những vệt mây nhỏ đọng lại giữa vườn chiều. Khi những quả cải nhỏ như quả đỗ xanh chuyển từ màu xanh sang sắc vàng hanh, mẹ cắt cả chùm mang về bó lại, treo bên hiên nhà mươi hôm cho khô rồi mới vò lấy hạt phơi đem cất.
Ngày ấy, cuộc sống còn nhiều gian khó, hạt gạo làm ra không đủ ăn nên bữa cơm lúc nào cũng phải độn khoai độn sắn. Việc trồng rau tưởng chừng đơn giản nhưng lại vô cùng vất vả. Nhờ có mảnh vườn nhỏ bên suối và sự tảo tần chăm chút của bố mẹ, gia đình tôi mới luôn có sẵn những luống rau xanh sớm nhất vùng. Mẹ thường sai tôi ôm những bó cải thìa đầu mùa sang biếu xóm giềng. Cầm trên tay những bó cải cuộng trắng ngần, lá xanh nõn nà được buộc gọn bằng sợi dây chuối khô mềm mại, tôi cứ ngơ ngẩn tưởng như mình đang ôm trọn những đóa hoa thần kỳ, những “nàng tiên xanh” bước ra từ câu chuyện cổ tích tuổi thơ…
Giờ đây, khoa học công nghệ phát triển, cuộc sống đã đổi thay nhiều. Việc trồng rau trở nên dễ dàng và thuận tiện hơn xưa nhờ có máy bơm, lưới che, phân bón sinh học… Dù ở nông thôn hay thành thị, chỉ cần một mảnh vườn nhỏ hay khoảng sân thượng, vài thùng xốp, chậu nhựa, người ta cũng có thể tự tay gieo trồng những luống rau sạch, an toàn cho gia đình, vừa mang lại không gian xanh vừa tìm thấy sự thư thái cho tâm hồn.
Thế nhưng, mỗi khi heo may về, nhìn những bẹ cải thìa trắng muốt nằm ngoan ngoãn trong rổ rau nơi góc bếp, lòng tôi lại rưng rưng nhớ về mảnh vườn bên suối, nhớ chiếc cầu tre nghiêng nghiêng, tiếng kẻng đuổi chim xào xạc và bóng dáng tảo tần của bố mẹ một thời gian khó…
N.H.Q










