Như những tinh khôi

NGUYỄN TẤN ÁI

(Vanchuongphuongnam.vn) – Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn “Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.

Tập tản văn Vì rứa mà thương

Và, “Vì rứa mà thương” đã chạm đúng mạch ân tình đã sẵn, mời gọi đồng hành trên nẻo đi về ngỡ ngàng quen lạ.

Dường như tuổi học trò ai cũng giấu cho mình đôi trang viết mà không biết nó là nhật ký hay sáng tác. Nó là nhật ký, vì nó thực quá. Nó là sáng tác vì nó đẹp quá! Đó, mỗi người thường bén duyên văn tự bằng những ghi chép tản mạn mà ta quen gọi là tản văn.

Song, càng thêm ngày tháng, càng trải nắng mưa gió bụi, chất tản văn ở mỗi con người dường như vơi cạn dần, vì sao? Vì tản văn cần những xao xuyến tinh khôi, nên ai bền bỉ được với tản văn hẳn phải có một tâm hồn trẻ lắm.

Thì Vương Thi len lén ghi lại những rung động đầu đời, cái rung động để buổi ban đầu bừng đỏ mặt, để sau này đọc lại mình lại một mình bật cười khe khẽ: “Chỉ có nó với cây bàng ở sân sau của trường biết vì có lần nó đã lén khắc tên nó lồng với tên người ấy lên chỗ cái chạc ba của cây bàng, xấu hổ hơn ngày chuẩn bị rời trường, nó, đứng ngay chạc ba đó biểu bạn chụp lại bức hình áo dài kỷ niệm, cũng chỉ có thế mà nhớ, nhớ mãi! (Cây bàng có chạc ba). Là lưu luyến ngỡ ngàng với “Tam Kỳ một thuở vàng Sưa”: “Vào những ngày âm u, thời tiết rất khó chịu, có khi còn kèm cả những cơn bấc, Sưa ủ sắc và hương, rồi qua một đêm, trên những hàng cây xanh mướt kia bỗng rực vàng, và đồng loạt tất cả những con đường có Sưa ở Tam Kỳ đều nở rộ, bất ngờ và đẹp đến ngỡ ngàng”.

Dường như ký ức của con người vừa kỳ diệu vừa bất toàn. Nó kỳ diệu khi trong mơ hồ một chút xưa về lại, lóe lên, đắm đuối. Nó bất toàn bởi rồi nó cũng sẽ mai một với thời gian. Nên phải ghi chép là tổ chức lại ngăn ký ức, để giữ cho tâm hồn mình luôn bận bịu.

Đọc những dòng rất thực của một thời gian khó và khốn khó, tự rưng rưng, sao mà thân thương quá, và ngậm ngùi quá!

“Hồi nhỏ tôi ghét mùa Đông, bởi khi đó cái nhà ba gian cũ nát phải dầm mình trong mưa bão. Những giọt nước thấm qua mái ngói thâm nâu chở thêm mớ lo lắng suy tư của ba, nhỏ giọt xuống những cái thau nhôm đã móp méo đủ đường. Mưa làm tắt ngấm cái hy vọng về bộ đồ mới ngày Tết trên luống rau dập nát chưa kịp lớn của má. Đám con nít trong xóm ủ rũ vì không được núp bắn trốn tìm, chúng buồn như con bò nâu đứng nhai mùa cũ…” (Đi qua mùa đông).

Mỗi người có một quê nhà, và cái quê nhà ấy sẽ không bao giờ mờ trong ký ức, nó lưu dấu thành tập tính in vết, nó giải thích vì sao người quê dầu hiện đại đến đâu vẫn thích mùi bánh tét, bánh tổ, thích cái vị mặn mà thơm tho của con cá rô đồng dầm nước mắm gừng… Nên đọc cũng là hành trình khám phá chính mình, như cảm nhận chính mình vào những ngày cận Tết: “Ngoài cảm giác ấm áp bánh tét đem lại, tôi không thể cưỡng lại sự hấp dẫn của lát bánh nếp trắng, dẻo, nhân mềm mịn và thơm nồng nàn mùi lá, mùi hạt tiêu ngoài vườn mà ba má chồng tôi đã chắt chiu từng chút yêu thương mang vào, rứa là lần gói bánh nào, ba cũng  nhớ phần thêm cho tôi…” (Bánh tét)

Đọc để tái cấu trúc lại ký ức, ký ức một màu nắng nắm níu có dáng bà nội lưng còng với túi áo bà ba nhiệm màu dấm dúi sẵn những chiếc bánh, viên bi cho đứa cháu nhỏ, để rồi “dù những tia nắng cuối ngày có tắt đi, dù đã qua cả ngàn lần nắng mới, dù nội đã theo những cánh mây bay đi biền biệt, thì cái dáng gầy gò lom khom bên những lọn nắng trắng vẫn ở đó, đậm sâu và gần gũi như từng nhịp thở mỗi ngày” (Khi lòng đã nhuộm nắng xưa).

Đôi lúc câu chữ cũng rung lên trong quyến luyến thành một nhạc tính của tâm hồn:

“Chỗ cây bàng có cái chạc ba, có nỗi niềm riêng gói theo từng chiếc lá bàng khô khe khẽ theo gió rơi vào khoảng sân trống mênh mông, là những lần tự ti với chiếc áo dài duy nhất ngày càng úa màu phù sa của nước sông Vĩnh Điện”

Hay:

“Không có hương hoa cúc, không có hương hoa hồng, chỉ có ngào ngạt mùi lá hành và lá ngò xanh trên những bờ cát cao, mùa xuân là làn nước mát trong từ những cái giếng đất cát nhỏ được ba gánh trên vai tưới lên những vồng rau cải, tần ô đang cố vươn mình bật lớn” (Xuân vẫn còn miên man).

Giàu những rung động tinh khôi với giọng tản văn hồn nhiên như thơ và thoáng chút tinh nghịch, nén vào trong nồng nàn câu chữ là những hình ảnh quê xứ rồi sẽ một thời làm nên bận bịu. Rồi sẽ dài theo năm tháng, rồi quê xứ sang trang, song quê xứ sẽ giàu thêm bởi hành trình đã trải. Màu rêu Hội An, nét hoa Kim Bồng, ngàn dâu Duy Xuyên, ngọn gió Đèo Le, giọt nước sông Tranh… biết kịp thời lưu giữ những tinh khôi đúng lúc cần, tôi nghĩ Vương Thi đã làm nên một tập tản văn đẹp.

Vương Thi thuộc thế hệ 9x, thế hệ vừa chín tới của vườn văn nên chúng ta có quyền đợi chờ nhiều ở cây bút văn xuôi mà rất đỗi trữ tình này.

Đà Nẵng  2026.

N.T.A