Phải Chăng Cái Chết Trở Thành Một Cuộc Viễn Du Tâm Linh

TRẦN NHƯ LUẬN

(Vanchuongphuongnam.vn) – Một trong những nét đặc sắc của đoạn văn là sự hòa quyện tự nhiên giữa văn chương và tư tưởng Phật giáo. Những khái niệm vô thườngvô ngãbất sinh bất diệt không xuất hiện như những bài giảng khô khan mà được chuyển hóa thành trải nghiệm sống động trong tâm thức nhân vật. Khi Gấm nhận ra rằng bản thân luôn thay đổi từng khoảnh khắc, rằng cái tôi chỉ là dòng chuyển động liên tục của đời sống, người đọc không chỉ tiếp cận một triết lý mà còn cảm nhận được một sự thức ngộ từ bên trong.

Nhà văn Trương Văn Dân

Đoạn trích  VỀ VỚI HƯ KHÔNG

(Trích tiểu thuyết “BÀN TAY NHỎ DƯỚI MƯA”, Phuong Nam book, NXB Hội Nhà Văn 2011, trang 356-362 )

…Cùng với sự xuất hiện không được chào mời của cơn ho, tôi vừa được nhắc nhở rằng cái ngày cuối cùng sắp đến. Giây phút hiếm hoi, chỉ xuất hiện một lần duy nhất và cũng là lần cuối cùng của một kiếp người.

Có ai đó nói rằng một người sắp chết thường nhìn thấy toàn bộ cuộc đời của mình trong những phút giây chớp nhoáng cuối cùng. Còn tôi, tôi chẳng nhìn thấy gì rõ rệt. Chỉ thấy những xáo trộn của một chuyển hoá, như những bức ảnh trong một cuốn phim quay nhanh mà không có hình thù nào rõ nét.

Tôi là ai?

Là con Gấm? Là đứa bé bị đời bạc đãi, là người con gái trôi sông lạc chợ, bám víu vào những cuộc hôn nhân, thực chất là những bè gỗ mục, chấp chới giữa dòng chảy xiết? Tôi là kết tinh của sự bất hạnh hay là người đàn bà được yêu, được vỗ về, che chở để có thể tự cho mình là người hạnh phúc nhất trần gian? Tôi là một, hay là tất cả những hình ảnh phản chiếu từ những chiếc gương xung quanh mình do cuộc đời sắp đặt: Tôi phản chiếu thành bóng trên gương và bóng phản chiếu lên những tấm gương khác, tạo thành những chuỗi hình ảnh vô cùng, vô tận. Phản chiếu của phản chiếu, hình ảnh của hình ảnh cùng với tiếng vọng của âm thanh có pha lẫn giọng cười, tiếng khóc?

Nhiều ý nghĩ trôi qua mà thực sự tôi chẳng biết mình là ai. Có lẽ xưa nay tôi chỉ nhìn tôi qua những ảo ảnh và nhận biết diện mạo của mình qua ánh mắt phán xét của tha nhân. Tất cả thực ảo lẫn lộn. Không thể phân biệt. Không có khởi đầu, không có kết thúc. Không có trung tâm, không có ngoại giới. Chỉ có một chuỗi hình ảnh, âm thanh, mùi vị, ý nghĩ, hành động liên tục nối tiếp nhau với trùng trùng nghiệp chướng. Và trong cái vòng xoay của màn luân vũ quay cuồng tôi đã thành người như mọi người, như mong muốn của đời… phản kháng hay tuân phục theo ý chí của gia đình và bối cảnh xã hội. Tôi đã mang trên người vô vàn cảm xúc, buồn giận, yêu thương, ngọt ngào, cáu gắt … và tâm trạng liên miên hoán đổi. Liên miên biến hoá. Tôi đã thích ứng, đổi thay…và cuối cùng mọi thứ trộn lẫn, chẳng có gì nguyên vẹn, như thể chưa từng tồn tại một ý nghĩ, một tư tưởng hay hình hài gì…mà chỉ có những chuyển đổi nối tiếp nhau rồi mờ nhạt thành một thứ vật chất và tâm linh hỗn độn.

Tôi là ai? Là hình thể của giây phút hiện tại hay tập hợp của muôn vàn khuôn mặt, trong quá khứ, vị lai, mang đủ hạnh phúc, khổ đau, tài hoa, mê muội, sức khoẻ và bệnh tật rồi bây giờ chuẩn bị bước vào cõi vô sinh vô diệt?

Trước đây, qua các truyện cổ tích tôi đã mong được trường sinh bất tử. Các truyện thần thoại mê hoặc tôi. Nó làm tôi mơ mộng và lãng mạn. Chỉ đến khi bệnh tật tôi mới nhận thức được rằng, như tất cả mọi vật thể, mỗi ngày trôi qua thì tôi cũng đang tiến gần đến sự huỷ diệt. Mỗi ngày…tôi đang bước đến gần ngôi mộ của mình. Con Gấm ngày hôm qua khác với con Gấm ngày hôm nay, và lúc này, lúc sau, nó sẽ đổi khác…Mỗi thời khắc trôi qua là con Gấm sống và tự giết chết một phần của chính mình. Những tế bào này chết, những tế bào khác sinh ra. Con Gấm thay đổi, tự bác bỏ, tự mâu thuẫn, tự hoài nghi giữa đúng và sai, giữa chân lý và sai lầm…và đó chính là sự trưởng thành, là sự hoà nhập vào hiện thực cuộc sống thiên hình vạn trạng.

Một cơn ho chí tử nữa vừa ập đến.

Ngực tôi như muốn nổ bùng.

Và đất trời yên ắng bỗng chao đảo như sụp đổ.

Nó sẽ vỡ từng mảng và đổ ụp xuống trần gian.

Tôi còn bao nhiêu thời gian nữa ?

Từ đây đến “đó” còn bao xa ?

Những thời khắc còn lại mình sẽ phải làm gì ?

Hỏi thế nhưng tôi bỗng nhận ra là mình chẳng còn gì để làm nữa cả, vĩnh viễn chẳng còn gì để làm nữa cả.

Bây giờ không.

Ngày mai không.

Mãi mãi sẽ không.

Tôi hít một hơi dài và thấy lòng nhẹ hơn bao giờ hết. Tất cả mọi vật dường như hoà nhập vào trong tôi và chỉ trong giây lát mọi băn khoăn lo nghĩ bỗng tan biến như mây khói. Một niềm vui, phấn khởi vươn tới một chuyển hoá mới mẻ bỗng xuyên suốt và bừng nở trong người tôi. Trong giây phút tôi thấy mình sắp được giải thoát. Thoát khỏi chính mình. Thoát khỏi mọi hệ luỵ của đời mình. Nhẹ hẳn người đi, tôi thấy một cái gì lâng lâng, như một niềm sảng khoái chưa từng thấy. Trái tim và da thịt tôi như bừng sáng, như vừa hiểu là mình sắp bay qua tuyệt vọng.

Thái độ trầm tĩnh và sung sướng ấy làm cho chính tôi cũng phải ngạc nhiên.

Ngước mắt nhìn mây trắng trên bầu trời xanh lơ, lấp loáng sau những vòm cây lòng tôi bỗng dâng lên một cảm xúc lạ lùng. Gió lay động lá cành, như một vật xúc tác, một cái nút điện mà lâu nay tôi từng mò mẫm trong bóng tối đã bật sáng cho thấy tâm mình bình lặng, xua tan bóng tối sợ hãi.

Bỗng dưng tôi tưởng như chính mình đang bồng bềnh bay trong một cõi mà thời gian không còn ý nghĩa. Bản hòa tấu thánh thót của chim chóc, sâu bọ dọc bờ sông như không làm tan biến đi cái tĩnh lặng của thinh không mà chỉ làm sâu thêm cái tĩnh lặng thăm thẳm của tâm linh. Một cảm giác thanh thản lan khắp cơ thể. Bất chợt, tôi thấy mình bay lên cao. Lên cao. Trước mắt tôi là một nơi chốn lạ lùng. Tôi chưa bao giờ đến đây nhưng cảm thấy vùng không gian xung quanh này đang bao bọc lấy mình bằng một sự thân mật khác thường. Cứ như thể mỗi khoảng tối sáng đều đang thể hiện sức hút của nó, giống như sức hút của lỗ đen với các hành tinh trong vũ trụ và nó chi phối mọi chuyển động của mình.

Chỉ đến khi tỉnh táo vì bắt đầu giữ được thăng bằng tôi mới quay nhìn cảnh vật chung quanh. Tôi lần lượt nhìn các thành phố…. Sài Gòn, Hà Nội…Bắc Kinh, Thượng Hải, Bangkok hoa đèn rực rỡ…. Tôi thích thú ngắm các đỉnh của dãy Hy Mã Lạp Sơn, nhìn những dải băng chảy dài theo dốc núi, ngắm các thác nước bọt tung trắng xoá, đổ ào ào từ đỉnh cao xuống các thung lũng. Tôi nhìn thấy dòng Mêkông uốn khúc, trắng như một dải lụa giữa trời xanh, chỉ tiếc là sự phấp phới đã bị gián đọan bởi những nút gút xù xì, có lẽ đó là những con đập Tiểu Loan, Mạn Loan bên Trung Quốc hay các thanh chắn nằm trên lãnh thổ Thái Lan, Cam Bốt hay trên đất nước Triệu Voi. Ở rải rác trên triền núi tôi còn thấy các tu viện hay những ngôi nhà xinh xắn nằm giữa vách đá chon von, như ẩn mình trong khe núi rộng. Và bao trùm lên tất cả là một màu của núi rừng xanh ngắt, tràn đầy sức sống và niềm vui. Lần đầu tiên trong đời mình tôi thoát khỏi cái thế giới bé nhỏ và chật hẹp của mình. Tôi không thể không nhìn mà không thấy lòng ngây ngất. Có lẽ hàng ngàn năm nay các dinh lũy khổng lồ của tạo hoá vẫn ngự trị trên thế giới này mà tôi nào hay biết. Vũ trụ to rộng ngoài sức tưởng tượng. Mà nếu không có được chuyến bay thật tình cờ này chắc hẳn tôi chỉ có thể tan rữa trong các nấm mồ và không bao giờ biết là cái thế giới này vẫn còn bao điều diệu kỳ và huyền bí.

Sự hiện hữu của tôi trước đây chỉ trôi qua trong một không gian bé tí, chỉ vừa đủ để chui ra chui vào, bước qua bước lại.

Giống như một kẻ quen nghe những âm thanh u uất của độc huyền cầm, rồi, bất ngờ, choáng váng trước dòng thác âm thanh của một dàn nhạc khổng lồ. Tâm hồn tôi rạo rực, như rung lên theo từng cung bậc và màu sắc mờ ảo mà thiên nhiên vừa hé ra cho thấy. Tôi nghe, tôi nhìn không chán mắt.

Gió lồng lộng.

Tôi chợt nghe từ trong không gian có những tiếng lùng bùng, khi thưa thớt, khi dồn dập. Tôi ngẩn ngơ vì chưa biết đó là âm thanh gì, nhưng có lẽ đó không phải là tiếng sấm. Bởi nắng còn chiếu sáng. Chói chang. Nắng. Gió. Cuối cùng tôi mở được cánh cửa bước vào khoảng không và bám vào một áng mây. Tựa mình vào đó tôi đắm mình trong cảm giác êm ấm hoàn toàn mới mẻ. Tôi vẫn nhìn xung quanh với một sự háo hức kỳ lạ. Tôi ngắm không chán mọi cảnh vật đang hiện ra trước mắt. Dường như chẳng còn ý nghĩ nào của tôi quay về quãng đời xưa cũ. Về quá khứ hay những gì đã trải qua. Tôi chẳng còn nhớ gì đến làng mạc, quê hương, ngay cả cái tôi hôm qua của mình cũng quên hết. Tôi nhìn như uống cạn đến giọt cuối cùng cái màn hình vĩ đại đang đổi màu, và sự ngất ngây đó đang làm tiếng đập trái tim của tôi trở nên âm vang và mạnh mẽ hơn.

Tôi mê mải chiêm ngưỡng cái sân khấu khổng lồ và phong cảnh bài trí thay đổi liên tục, hết lớp này đến lớp khác, tầng tầng lớp lớp.

Có lẽ chưa lần nào trong đời mình tôi có thể quan sát thiên nhiên chăm chú và tuyệt vời như vậy. Có lẽ chưa bao giờ tôi đắm mình trong say mê và xúc động đến thế. Tôi như chỉ hướng thẳng vào thiên nhiên và hoàn toàn quên bẵng cả thời gian và bản thân mình.

Trong đầu tôi, tâm trí tôi hoàn toàn trống rỗng, và thấy mình cứ bay như vậy, thoải mái cảm nhận thật đầy đủ là mình không còn lệ thuộc vào thời gian. Tôi chẳng còn phải tất bật ngược xuôi với những chiếc kim đồng hồ, cuốn theo tiếng tích tắc vô nghĩa mà đầy thúc giục của nó rồi vật vờ trôi đi như con thuyền không mái chèo cuốn theo dòng nước.

Đột ngột tôi thấy hơi lạnh của độ cao trên thân thể mình. Tất cả xao động. Tất cả biến đổi. Chỉ có sự nhận thức là mọi chuyển biến đều không tránh khỏi là còn ở lại. Và tôi thả rơi cái tôi của mình trong cảm giác tự xoá mà không đau đớn, sẵn sàng hoà nhập và chìm trong mênh mông. Từ trên cao nhìn xuống tôi thấy khói sương. Tất cả núi sông, thành quách, nhà cửa…dưới trần gian bỗng thu nhỏ lại, dần dần biến mất.

Tất cả chỉ còn là khoảng không. Vô tận và mờ ảo.

Bản ngã, vô ngã sắp hoà vào đại ngã…

Bài cảm nhận của Trần Như Luận về đoạn trích tiểu thuyết “Về với hư không”

Phải Chăng Cái Chết Trở Thành Một Cuộc Viễn Du Tâm Linh

Trong tiểu thuyết Bàn tay nhỏ dưới mưa, đoạn trích Về với hư không có thể xem là một trong những trang văn đặc sắc nhất của nhà văn – dịch giả Trương Văn Dân. Ở đó, ông không chỉ kể về những giây phút cuối cùng của một con người đang đối diện với cái chết mà còn mở ra một hành trình nhận thức sâu xa về bản thể, sự sống và ý nghĩa tồn tại.

Điều làm nên giá trị của đoạn văn trước hết là khả năng khám phá nội tâm nhân vật với độ tinh tế hiếm thấy. Nhân vật Gấm hiện lên không phải như một biểu tượng của sự cam chịu hay một hình mẫu giác ngộ được lý tưởng hóa, mà là một con người bằng xương bằng thịt, trải qua đầy đủ những trạng thái tâm lý tự nhiên nhất khi đứng trước lằn ranh sinh – tử. Những câu hỏi liên tiếp về chính mình, về thời gian còn lại, về khoảng cách từ sự sống đến cái chết đã khắc họa chân thực nỗi hoang mang của con người trước điều không thể tránh khỏi.

Tuy nhiên, tài năng của nhà văn – dịch giả Trương Văn Dân không dừng lại ở việc mô tả tâm trạng. Ông đã biến khoảnh khắc cận tử thành một cuộc khám phá bản thể đầy chiều sâu triết học. Từ câu hỏi “Tôi là ai?”, nhân vật dần đi vào cuộc truy tìm căn tính của chính mình giữa vô số lớp ký ức, cảm xúc, trải nghiệm và những vai trò xã hội mà cô từng mang. Cái chết vì thế không còn là dấu chấm hết mà trở thành cánh cửa mở vào miền suy tưởng rộng lớn về thân phận con người.

Một trong những nét đặc sắc của đoạn văn là sự hòa quyện tự nhiên giữa văn chương và tư tưởng Phật giáo. Những khái niệm vô thườngvô ngãbất sinh bất diệt không xuất hiện như những bài giảng khô khan mà được chuyển hóa thành trải nghiệm sống động trong tâm thức nhân vật. Khi Gấm nhận ra rằng bản thân luôn thay đổi từng khoảnh khắc, rằng cái tôi chỉ là dòng chuyển động liên tục của đời sống, người đọc không chỉ tiếp cận một triết lý mà còn cảm nhận được một sự thức ngộ từ bên trong.

Để diễn tả trạng thái ấy, nhà văn vận dụng hiệu quả kỹ thuật dòng ý thức. Những suy nghĩ, hồi tưởng, liên tưởng và cảm xúc nối tiếp nhau như những đợt sóng tâm linh, khi rõ ràng, khi mơ hồ, tạo nên cảm giác người đọc đang trực tiếp bước vào thế giới nội tâm của Gấm. Chính kỹ thuật này đã làm cho đoạn văn mang vẻ đẹp hiện đại, đồng thời giúp tái hiện chân thực những chuyển động tinh vi của ý thức ở thời khắc đặc biệt nhất của đời người.

Bên cạnh chiều sâu tư tưởng, theo tôi, đoạn trích nói trên còn gây ấn tượng mạnh bởi chất thơ và năng lực tạo hình ảnh. Những chiếc gương phản chiếu vô tận, những áng mây bồng bềnh, dòng Mê Kông như dải lụa trắng, những đỉnh núi Hy Mã Lạp Sơn, khoảng không vô tận của vũ trụ… hiện lên vừa cụ thể vừa huyền ảo. Không gian nghệ thuật được mở rộng từ thân phận cá nhân đến quy mô vũ trụ, khiến cái chết mất đi vẻ ngột ngạt thường thấy để trở thành một sự hòa nhập vào cái bao la của tồn tại.

Đặc biệt, Trương Văn Dân đã tạo nên một quá trình chuyển hóa cảm xúc hết sức thuyết phục. Từ những cơn ho dữ dội, cảm giác đất trời sụp đổ, nỗi lo âu về sự kết thúc đang đến gần, Gấm dần bước sang trạng thái bình thản, nhẹ nhõm rồi hân hoan. Đó không phải sự phủ nhận đau khổ mà là khả năng vượt lên trên đau khổ bằng sự thấu hiểu. Chính sự chuyển biến ấy đã tạo nên sức lay động sâu xa cho đoạn văn.

Sau tất cả, điều còn đọng lại không phải là hình ảnh của bệnh tật hay cái chết mà là một tinh thần nhân văn sâu sắc. Nhà văn khẳng định giá trị của sự sống ngay trong lúc con người đối diện với sự hữu hạn của mình. Ông cho thấy rằng, khi hiểu được tính mong manh của kiếp người, con người mới biết yêu thương hơn, trân trọng hơn từng khoảnh khắc hiện hữu. Bằng ngòi bút giàu chất thơ, tư duy triết học sâu sắc và khả năng phân tích tâm lý tinh vi, Trương Văn Dân đã biến giây phút lâm chung của Gấm thành một cuộc viễn du tâm linh đẹp đẽ, nơi cái chết không còn là kết thúc mà trở thành sự trở về với Cõi Vô Cùng.

(Về trích đoạn  trong tiểu thuyết BÀN TAY NHỎ DƯỚI MƯA)

T.N.L

 Nguồn :

https://www.facebook.com/groups/344276814831462/?multi_permalinks=1040821875176949&hoisted_section_header_type=recently_seen