Những ánh sao đêm – Truyện ký của Vũ Minh Phúc (Kỳ 2)

(Vanchuongphuongnam.vn) – Đối với nghề thợ lò, có những điều còn hạnh phúc hơn chuyện tích cóp tiền bạc, hoặc là sở hữu một chiếc xe ô tô, sống trong căn biệt thự sang trọng, nói tóm lại, vinh quang vinh quang, không ai tính toán gì nhiều. Ông đã đến sống trong các hầm lò ở Mông Dương sau nhiều sự lựa chọn, gần như tách biệt với thế giới ngoài mà dường như chỉ quan tâm đến việc làm sao có thể tạo ra dòng than đặc biệt trên cái xứ sở xa xưa này.

Người thợ mỏ. Ảnh sưu tầm (Nguồn internet).

Hồng Vân, vợ anh ấy, mối tình đầu trong sáng và duy nhất mà anh có được trong khi làm thợ lò, có một trái tim ấm áp đến lạ kỳ. Là một cô gái ở tỉnh lẻ, Nghệ An, cô ấy trông nhỏ bé nhưng vạm vỡ, làn da trắng cướm màu than nâu, đôi mắt luôn ánh lên nét cương nghị của một người phụ nữ từng trải. Họ đã vô tình gặp nhau tại xưởng chế tác than tại núi Hạm của thành phố Hạ Long, nơi cô ấy đã làm việc cần mẫn như một trong những nghệ nhân điêu khắc nổi tiếng cho một doanh nghiệp chuyên làm nghề mua bán than đá; và sau vài cuộc chia ly bão tố, anh này đồng ý để đưa cô đến Mông Dương để làm y tá cấp cứu vùng mỏ, đã khiến cuộc đời cô mãi mãi đắm mình trong thành phố mỏ này. Cô và Phan Văn Đạo đã đi đến kết hôn bằng một nghi thức truyền thống, mặc dù cô vốn là được sinh trưởng trong một gia đình ưa lễ giáo phong kiến và họ đã sống ấm áp bên nhau suốt mùa Đông và mùa Hè trong khu tập thể ký túc xá được thiết kế danh riêng cho các gia đình thợ mỏ với những căn phòng vừa đủ cho hai vợ chồng và những đứa con, nơi gió biển và mùi than tắm đẫm lên cuộc đời họ, nơi phần lớn gồm toàn những người làm nghề đi lò đến đây cư ngụ như một dân bản xứ- làng mỏ Mông Dương- Quảng Ninh, họ sinh bé gái đầu tiên vào đúng dịp sinh nhật Hồng Vân và Bình Minh, đứa con trai mới sáu tháng tuổi của họ ngay khi chào đời đã có dấu hiệu mắc chứng tăng động đột ngột ở trẻ nhỏ. Và ngay cả khi gặp những khó khăn bộn bề như thế, chẳng bao giờ họ tỏ ra mệt mỏi hay kêu ca, đó là những ngày làm việc đến cật lực, họ thường trở dậy vào buổi sáng lúc mặt trời mọc trong tiếng kẻng và kết thúc ca làm việc cuối cùng dưới hầm lò sau khi những đứa con của họ chìm sâu vào giấc ngủ.

Hồng Vân sắc sảo, cái công việc ở phòng cấp cứu vùng mỏ có đôi lúc đã khiến tính cách cô trở nên khó chịu, nhưng cô có một tâm hồn bao dung đến khó tin mà ngay cả những người làm việc với cô lâu ngày trên vùng mỏ này cũng phải thừa nhận. Cô ấy luôn thú nhận nghề mỏ là “chân than” và “mặt bụi”, “ngồi xuống nhọ lưng, quệt ngang nhọ mũi” và tin tưởng phó thác cuộc đời mình vào những hòn than đầy mê hoặc. Dẫu vậy, cô vẫn thường ấp ủ cho mình cái giấc mơ kiếm tiền là bằng cách sáng tạo nên những tác phẩm bằng than để bán ra thế giới.

Một hôm nào đó, cô thay chồng đi mỏ và việc đó khiến cô khỏi phải lo lắng về các khoản chi tiêu gia đình, đôi khi đó còn là một khoản tiết kiệm đáng kể của vợ chồng trẻ, nhờ những giờ tăng ca đột ngột cho một vài người bạn vì cứ phải nghỉ ốm lâu dài thậm chí bằng cách xin được một chân phục vụ ở khu căng tin xí nghiệp đế nấu những món ăn cho tất cả công nhân ở Mông Dương. Công việc đi mỏ của Phan Văn Đạo khiến cuộc đời anh thêm lớn, nhưng anh không bao giờ có tham vọng nào hơn là để cải thiện mức thu nhập nhỏ nhoi mà anh cứ muốn gồng mình, song Hồng Vân bao giờ cũng tỏ ra là người thấu hiểu vì cô biết trong tâm hồn của người thợ lò và trái tim của họ còn có một tình yêu lớn thế nữa: Tổ quốc. Nghĩ như vậy, cuộc đời họ trôi qua thật êm đềm, nhưng cuộc sống thợ lò không phải lúc nào cũng xuôi chèo mát mái và những đứa con sẽ ngày càng lớn lên. Vào những năm tháng khi chưa làm nghề đào than, họ phải tiêu hết số tiền mà họ tích góp được trong nửa quãng đời lao động cật lực từ dăm năm về trước mà chẳng bao giờ đủ cả. Có lẽ vì thế mà, khi Phan Văn Đạo nhận mệnh lệnh là làm một anh công nhân bình thường dưới sự điều hành của Quản đốc phân xưởng trong số những người được nhận vào làm như một sự may mắn thì cuộc đời họ dần trở nên thay đổi.

Tiếng than rơi là nhịp đập trái tim họ, đôi khi những “chú chuột trũi” của chúng tôi làm việc đơn giản vì yêu than, nhớ than, quen với mùi than chứ chẳng phải vì một yêu cầu gì đặc biệt hay nhân danh ai hoặc có được quyền lợi gì khi dấn thân trong các hầm lò tối tăm và mốc thếch hay không, một nơi mà chuột và gián và các con côn trùng có thể làm phiền giấc ngủ của họ đêm đêm. Ban đầu, họ đi lò chỉ vì nghĩ rằng cái nghề này khác với những nghề còn lại, ở chỗ, kể cả việc mất đi tính mạng và chẳng còn ai có thể nhớ nổi tên mình nữa. Nhưng càng về sau họ càng nhận thấy ngay cả trong cái chết như có tính dự báo của số phận mỗi người chẳng có chút gì tỏ ra sợ hãi nơi họ thì vẫn là một sự đề cao vinh quang khiêm nhường của tuổi trẻ. Bóng tối và sợ hãi, chẳng là gì so với trái tim họ. Độ sâu và sự ngột ngạt không cản nổi bước chân họ. Và cái thời tiết khắc nghiệt nhất ấy xảy ra tại vùng than Đông Bắc này, dường như cũng chẳng khiến các “Binh đoàn than” giậm chân tại chỗ mà sẽ tiến vào lò như một cỗ máy thông minh và kỳ vĩ. Nếu những hòn than là một kỳ quan của thế ngầm trong lòng đất, thì những người thợ lò chúng tôi là một nhà quảng bá truyền thông có trái tim yêu thiên nhiên đến cùng cực, khiến tất cả cảnh quan nơi vùng mỏ có các đường hầm kiên cố với cái thứ mùi gây gây khó chịu ấy bay cao, bay xa.

Bây giờ Phan Văn Đạo đã đứng trong vai trò là thủ lĩnh của tổ chức nghiệp đoàn toàn ngành than và chẳng chút mảy may vụ lợi gì khác và cái vai trò mà anh đảm nhận thực ra là vì tất cả quyền lời của từng người thợ, nơi anh cố gắng tạo ra một môi trường lao động an toàn, nơi hình ảnh họ đã được nhớ đến như một hòn than đầy sắc màu, dưới các dòng sông than đang tuôn chảy ào ạt trong lòng đất. Thậm chí lòng nhiệt thành của họ đối nghề than chẳng có gì có thể so sánh được. Một điều đặc biệt nữa chưa hề được khám phá, đó là người thợ lò trong những năm tháng chiến tranh đã bị buộc phải lao động như một công nhân khổ sai cho các chủ than lộng quyền và hà khắc vì họ đã từng tham gia vào một trong những cuộc biểu tình lớn nhất trong lịch sử chống lại chế độ pháp thuộc, song cái lý do đơn giản hơn khiến từng người thợ lò ý thức được là đã khiến họ đến sống quanh vùng than Quảng Ninh sau nhiều năm tìm kiếm cơ hội bền vững đến thế, chỉ là muốn thoát khỏi đói nghèo của một công nhân ở một đất nước đang vươn lên từ đói khổ. Dù đôi lúc họ tỏ ra chán nản đi chăng nữa, nhưng họ cũng có một thứ tình cảm đối với “gia đình thợ mỏ” mà không nơi nào, không ai, không ngành nghề nào có thể mang lại được.

Một điều hiển nhiên đến với họ, đó là từng người thợ lò luôn luôn được sống trong khu tập thể đầy tình thương, tại Hạ Long – Thành phố biển lộng lẫy và được chăm chút từng cái ăn cái mặc nơi các dịch vụ phúc lợi bao giờ cũng được đảm bảo, trong khi ở một vài ngành nghề khác trên thế giới tuy đầy những căn nhà sang trọng dành riêng cho họ nhưng vẫn bị đối đãi như một đứa trẻ bị bỏ đói. Một ngày nào đó, Phan Văn Đạo thấy Quản đốc của mình trở nên gần gũi hơn với tất cả mọi người. Anh cảm nhận từ nơi ông, đôi khi chỉ từ một cái bắt tay nồng ấm, trong những đêm sống dưới lòng đất ngập ngụa bóng tối và đem về các mẻ hoa than vào lúc cả thành phố đã tắt ánh đèn. Anh bao giờ cũng thấy ông ấy bước đi một mình trên vùng mỏ trước Quảng trường 12-11. Không giữ được bình tĩnh, anh đã lần theo dấu chân ông từng bước đến các vỉa than đá để tìm nguồn dự trữ khổng lồ, đón ánh bình minh chầm chậm đang trôi về trên thành phố cảng đầy tôm cá. Tình cờ một hôm, anh thấy ông trong cơn bão đột ngột về trên thành phố, không mang áo mưa, không mang dù gì cả, đứng hàng giờ liền trên nóc hầm kiên cố để chờ đoàn thợ cuối cùng trở về mới chịu trở vào đi ngủ. “Tôi không hiểu vì lý do gì ông lại nặng lòng với nghề lò như thế”, Phan Văn Đạo thủ thỉ với vợ mình như thế. Có một chiều Thứ Bảy đột ngột, khi thời tiết bắt đầu trở dạ, anh đã thấy Quản đốc một mình đi ra khu chợ và mua về rất nhiều thứ bánh trái, hoa quả và cả những bộ quần áo tươm tất, ông phát cho từng người thợ với thái độ ôn tồn, không phải là thái độ của một người cấp trên với cấp dưới, mà đó là một thứ tình cảm anh em, đồng chí đồng đội ấm áp mà ông muốn dành cho từng người thợ của mình, nơi gian khổ đã trở thành sức mạnh, mà ở một khía cạnh khác, nghề thợ lò đã cho họ tất cả.

“Nếu không làm nghề đi lò chúng mình chẳng còn biết làm cái gì hơn thế nữa” Hồng Vân than thở, khi Phan Văn Đạo tâm sự với cô về nỗi khó nhọc của nghề than. “Ông ấy đúng là một người thợ lò sôi nổi sẽ mãn nguyện với cuộc đời nhờ vinh quang từ nghề than và sẽ rải lên vùng mỏ này một hơi ấm của tình yêu lao động. Chúng mình sẽ chẳng bao giờ sợ thiếu đói trong khi làm việc đâu”.

“Một vài người vẫn sống dưới mức cho phép” Phan Văn Đạo nhận định, “Sau chừng ấy thời gian cần mẫn với sự nghiệp”.

“Các bạn thợ lò ơi, mang sứ mệnh Vàng đen là một vinh quang và làm một người đi lò khó nhọc lại chẳng là một chuyện gì ghê ghớm”. Hồng Vân nói. “Không ai không biết Quản đốc gánh trên mình trách nhiệm phải tạo ra các khối lượng than mỗi ngay ở xí nghiệp và là một công dân gương mẫu nhất đến từ xứ sở Mông Dương”.

Phan Văn Đạo hơn kém vợ vài tuổi, một người trưởng thành và luôn luôn bị cuốn hút bởi nghề mỏ bao giờ cũng muốn gây nên cho người thợ ý tưởng là Quản đốc giàu lòng thương yêu đối với họ trong lúc còn là một sinh viên của Trường mỏ ở Quảng Ninh, đã tự kiếm được tiền bằng cách, bên cạnh những giờ lên lớp chán ngắt, trở thành công nhân ở một vài mỏ than quanh vùng. Hồng Vân bây giờ, đã dần lớn lên giữa sự dìu dắt của tổ chức Công đoàn đồng cảm, càng ngày càng nâng cao uy tín trong ngôi nhà chung thuộc diện đông công nhân nhất mà cô đã từng làm việc như một trong những nữ điều dưỡng viên mẫn cán ngay khi cô vẫn còn con gái. Thế rồi, trong một đêm Phan Văn Đạo trên đường từ hầm lò về nhà, xúc động và phấn khởi vì đã được Quản đốc đưa cho một phong thư, cô không bao giờ nghĩ rằng ông ấy đã đặt bút ký vào tờ trình để cân nhắc anh lên một vị trí cao hơn. Trong cô dâng lên một niềm sâu xa thầm kín vì Phan Văn Đạo giờ đây đã thực hiện được những điều mà họ hằng mơ ước, đó là có được ngôi nhà cho hai vợ chồng, đó là một công việc tốt hơn trong hầm lò.V..V…Quyết định của Quản đốc trút bỏ được gánh nặng trong suy nghĩ mình khi cứ phải lúc nào cũng canh cánh lo cho tâm trạng từng người thợ trong lúc làm việc, nếu vì dùng tiền của mà bỏ mặc sự sống của họ với một bên là những gì thiết thực về gia đình, sẽ càng khiến cô thêm chạnh lòng. Những cái mũi khoan cuối cùng làm sâu thêm các lò giếng là cái niềm hạnh phúc mà Phan Văn Đạo luôn ủ kín trong lòng mà chẳng bao giờ thổ lộ, là sự may mắn anh đã được Quản đốc quan tâm như một thành viên đặc biệt tại công trường lắm bụi bặm, vào thời điểm khó khăn sắp tới.

“Chúng ta thật là may mắn lắm thay” Hồng Vân thảng thốt kêu lên, “có thể mời ông ấy về nhà chúng ta, để ông dùng bữa cơm gia đình thân mật với những món ngon đến nỗi ông ấy sẽ không bao giờ quên được, rồi chúng ta sẽ phải gửi gắm những đứa con thân yêu để ông ấy chỉ bảo như một “nhà sư phạm” vùng mỏ đó chắc?”,

Dù thế, nhưng bao giờ cô cũng thương chồng, chẳng bao giờ hết lo lắng khi anh bước chân vào nghề mỏ, cô ủng hộ hết mình. Cô không bao giờ ca than về cái lý do tại sao anh thường xuyên vắng nhà đột ngột và một tối thường trở về muộn hơn nơi cả thân hình lấm đầy bụi than, một đôi ủng rách mũi nơi để lộ đầy các vết trầy xước và cái bộ quần áo lao động đặc trưng vùng than Mông Dương nơi chẳng bao giờ giữ được mới. Cô dọn dẹp lại căn nhà cho sáng lên, hâm lại cho nóng từng món ăn và tranh thủ dọn lại cái phòng ngủ của anh. Cô dành hầu hết thời gian để dọn dẹp ngôi nhà, lùa các lớp bụi khó tính trong góc phòng tối tăm, sắp xếp đống đồ đạc mà ngày thường vẫn lộn xộn, mong tạo ra một không gian ấm cúng mỗi khi có vị khách nào đó tìm đến, bao giờ cũng thế.

Vào một tối Thứ Bảy và Chủ Nhật, khi đã thấm mệt vì cứ phải dò dẫm đi dưới bậc cầu thang nơi có các dòng sông than bập bùng trươn ướt, Quản đốc xuất hiện ở phía trước xí nghiệp với chiếc áo lao động mỏng manh trên đó vẫn còn bám đầy bụi than đen, cái mũi đèn lò, trang phục của những thợ hôm nay và cầm trên tay duy nhất tâm huy chương cao quý của ngành mỏ tặng Hồng Vân. Cô công nhân ngành mỏ bị ấn tượng mạnh vì sự đột ngột và lời nói ấm áp như lời an ủi của Quản đốc, nhưng trên tất cả những cái đó, cô nhận thấy có một điều còn thiêng liêng hơn mình nghĩ “Một người thủ lĩnh ngành mỏ ân cần, chu đáo và giàu lòng nhân ái”. Cô không thấy khoảng cách nào từ nơi ông, bởi vì cô đã thấu hiểu sự nặng nhọc với hầu hết những người còn lại để tận tâm cống hiến như một thành viên danh dự tại ngôi nhà toàn người chui lên chui xuống này, và hành động đầu tiên của ông ấy khi gặp gỡ từng người thợ là đặt bàn tay với một nhiệt lượng ấm áp như truyền cho tất cả mọi người sự phấn khởi kỳ lạ và ông đã ngân lên một câu hát ngẫu hứng với nghề mỏ và mở rộng trái tim. “Chao ôi, đó quả là thứ mùi đặc biệt nơi xứ sở Vàng đen yêu dấu của tất cả chúng ta”. Cô công nhân đón nhận từ nơi ông một tình yêu bao la không chỉ vì ông đã trao tặng cho cô tấm huy hiệu cao quý nhất của ngành than, đó còn là một tình cảm đặc biệt đối với mỗi người ở một phương diện nào đó. Cô thầm nghĩ, ông có chút gì đó gần gũi khi ngắm nhìn gương mặt từng người thợ với nụ cười lấp lánh màu than và dòng chữ đậm nghĩa tình về sự vinh quang cao cả của nghề mỏ: nào đèn lò, đôi ủng, quần áo lao động, khẩu hiệu có in đậm hai chữ “Kỷ luật và Đồng tâm” trong những ngày ra quân mà Phan Văn Đạo đã khắc cốt ghi tâm lên cuộc đời mình nơi từng bước chân của ngày mới.

Cô thầm nhủ, ông ấy tình cảm mà tế nhị, chắc bởi ông đã khám phá phía trong từng cuộc đời của những người như Phan Văn Đạo và Hồng Vân và những người thợ lò khác, thậm chí chúng tôi dành cho ông món quà là những hòn than không bao giờ hết, và sự nghiệp đào than, ông lúc nào cũng luôn nói đến hai điều đã sọi sáng cuộc đời ông, đó kỷ luật và đồng tâm. Cô cảm mến ông ấy.

Nhưng, dẫu sao, trái tim dành cho nghề than của người dân Mông Dương nơi cô đã vượt qua ranh giới mặc cảm đó. Cô đã mặc chiếc áo biểu tượng ngành than mà cô chẳng bao giờ rời xa vào những ngày lễ kỷ niệm đặc biệt, không trang sức lòe xòe hay váy áo súng sính và trong khi đặt mình vào vị trí của một người cấp cứu vùng mỏ, cô bao giờ cũng dùng những cử chỉ săn sóc âu yếm đối với bất cứ người thợ nào và đôi khi còn dành lời nói an ủi khiến họ cảm thấy mọi tai nạn và nỗi đau đều qua đi trong tích tắc.

Cô quả là một điểm tựa an toàn cho thợ lò chúng tôi, cô có trái tim của người vợ chu toàn.

Nói gì thì nói công việc của một cô y tá vùng mỏ lâu nay chưa hẳn là một cái gì nổi bật trong sự nghiệp công tác của cô, nhưng cô đã sưởi ấm tất cả những người thợ lò như chúng tôi và có lẽ còn hơn cả một liều thuốc thần tiên nơi cô trở nên đáng yêu trong mắt của tất cả mọi người. Quản đốc luôn luôn tạo ra mối thiện cảm với cô và khi nào ông cũng dành lời tán thưởng đối với một người phụ nữ ngành than mà chẳng phải người phụ nữ nào trên thế gian này cũng chấp nhận mọi sự hy sinh sốt sắng tuổi trẻ, ông trân trọng những người vợ có chồng đi lò và sự tận tụy mà từng chị em đang trải qua, cho dù ông không có nét tính cách đặc trưng của một phụ nữ trong họ.

Hồng Vân chỉ khiêm tốn đón nhận điều đó vào lúc cô cảm thấy cần được quan tâm, khi mỗi đêm phải đứng trước cửa nhà chờ đợi người chồng thân yêu của mình trở về trong bộ trang phục đầy bụi than, Phan Văn Đạo an an ủi vợ bằng cử chỉ như lúc mới yêu, tâm thế của anh nhập vào đường lò vẫn còn hiển hiện trong từng bài học về sự đào thoát khỏi nguy hiểm.

“Tôi nghĩ rằng nghề than sẽ không làm bất cứ ai nản chí, thần chết sẽ khước từ những người có ý chí mạnh hơn cả bóng tối”, Quản đốc nói “Nhưng dường như ông không bao giờ cho phép mình thờ ơ trước đời sống của người thợ. Công việc đào than của họ còn vinh quang hơn những gì mà ngoài kia người ta vẫn bàn tán”.

“Tôi tin tưởng rằng phía cuối mỗi đường hầm lò sẽ có một thứ ánh sáng kỳ diệu”, Hồng Vân nói và cô đứa ánh mắt nhìn sang Quản đốc như muốn nhận lại từ ông một bài học đạo đức.  “Ông có kỷ niệm với nghề mỏ này không?”.

“Ngày hai mươi lăm tháng tư”.

“Tôi đã đoán ra, đó là ngày giải phóng vùng mỏ”, Hồng Vân thốt lên với vẻ tự hào sôi nổi và khiên cưỡng nhắc lại bằng thứ giọng êm ái “Ông có nghĩ rồi đây chúng ta và những lớp thế hệ sau sẽ còn làm gì trên cái vùng mỏ anh hùng mà kiêu dũng này chứ?”

Sau những giờ phút tĩnh lặng, hai người họ vẫn ngồi bên nhau không ngớt nói sự hình thành của các quặng “Vàng đen” trong khi cô đang cố gắng là phẳng bộ quần áo lao động để đến nơi làm việc. Cô nấu vài món đơn giản đã dọn sẵn ra trên bàn và không quên nhắc nhở người chồng của mình phải đeo khẩu trang để khỏi bị bụi than lẫn vào buồng phổi. Trên đường đến trạm cấp cứu vùng mỏ với chiếc áo blouse cổ cứng, trong đầu cô liên tiếp xuất hiện các câu hỏi vụt qua về Quản đốc, có gì đó khiến cô băn khoăn.

“Đừng bao giờ tỏ ra hoài nghi và sợ hãi, các chàng trai thợ lò ạ. Ngay cả khi chỉ có một mình đối diện với bóng tối và đường hầm, chẳng ai có thể làm tốt hơn chúng ta đối với xứ sở vàng đen này”.

Phan Văn Đạo bắt gặp Hồng Vân phía sau cái nhà kho chứa đầy than với dáng vẻ vội vã, trên tay cầm một vật gì đó không rõ, và lờ mờ đoán ra là cô sắp sửa có một chuyến đi xa khi nghe những lời phổ biến đầy huấn thị đó từ chính người cấp trên của mình vào buổi sáng hôm đó.

Quản đốc đã hiểu ra điều sâu xa thầm kín ấy. “Nào, giờ thì hãy tỏ ra vui vẻ lên chứ, thưa cô bác sĩ vùng mỏ”, ông vừa nói vừa gật gù cái đầu với chút thân mật. “Tôi đã biết tất cả rồi”. Lát sau, quay sang phía Phan Văn Đạo, ông kết luật một câu như đinh đóng cột:

“Có vẻ tôi đã không nuối tiếc gì dành cả tuổi thanh xuân của mình dưới những hầm lò rồi đó”.

Hồng Vân tiện tay lấy ly nước ấm và vặn nhỏ ngọn đèn treo lơ lửng cuối góc phòng vì ánh sáng chói chang hắt ra từ nơi nó có vẻ đã làm mọi người nhức mắt, làm gián đoạn câu chuyện, và căn phòng giữa ban ngày bỗng trở nên mờ nhạt, ấm cúng. Bây giờ, cô đã thực sự quan tâm đến vị thủ lĩnh ngành than mà chính sự cương quyết có phần hòa đồng ấy đã khiến ông điều hành doanh nghiệp và lo cho từng số phận người thợ như một cam kết bất di bất dịch ở vùng mỏ này. Niềm ao ước bấy lâu của Hồng Vân đã được sáng tỏ khi cô biết rằng ông đã lên một kế hoạch chu toàn cho tất cả đời sống của anh chị em công nhân ngành mỏ và luôn luôn chú ý dõi theo bước chân họ, để không ai phải cảm thấy lo lắng về sự cống hiến vô ích của mình.

Quản đốc nói rằng vào thời kỳ trước đó, ông đã đến mỏ Đông Bắc để làm một anh thợ lò, để rồi tình bạn nảy nở giữa ông với nhạc sĩ Hoàng Vân, vào đúng lúc nguồn cảm hứng bất tận đã viết lên tình ca “Tôi là người thợ lò” và đã khiến ông thêm yêu nghề thợ lò hơn nữa. Với lòng nhiệt huyết sẵn từ một sinh viên, Quản đốc đã tích góp được một cơ số tiền ban đầu để mua cho riêng mình một căn nhà cấp bốn đơn sơ trên ngoại ô thành phố cảng Hạ Long với không gian khoáng đãng và cánh cửa nhìn ra biển, nơi đêm đêm vẫn nghe tiếng vọng từ các công trường than vắng vẻ. Không có gì hạnh phúc hơn khi đánh một giấc ngủ dài ở một nơi mà trong âm thanh của tiếng than rơi và hơi ấm từ biển cả vẫn mang hương vị ngọt ngào từ các cảng biển đầy tôm cá đến. Nơi ông đã yêu nghề than và sống gần như hết phần đời của mình với người vợ cũ yêu dấu cũng là một công nhân ngành mỏ mà so về tuổi tác chẳng hơn kém nhau là mấy và họ đã vun vén cho hạnh phúc ngay sau khi có được đứa con đầu lòng; khi sống dưới mái ấm, ông như được tiếp thêm nghị lực để chống lại khó khăn bởi công việc thường xuyên vắng nhà đột ngột rồi chui hầm lò và bởi một niềm tin không gì có thể lung lạc được, đó là dấn thân vào lò trong suốt cuộc đời mình. Bao giờ cũng vậy ông luôn đánh giá nghề mỏ tuy có phần phiêu lưu nhưng nó khiến lòng ông thanh thản, vì bóng tối và nguy hiểm đều không có ý nghĩa gì đối với một người có đôi mắt sáng, đã biến ông thành một con người quý giá như mỗi hòn than kia.

“Nhưng tôi chẳng bao giờ xem thư riêng của anh em thợ lò”, ông nói.

“Đó là điều thầm kín của mỗi người, bởi khi tôi sống bên họ, ngay cả những giờ phút sinh tử mong manh nhất cũng ánh lên niềm lạc quan trong mỗi trái tim và cứ mỗi khi hoàn thành xong một mẻ than, chẳng ai còn nhớ xem mình đã hít bao nhiêu thứ bụi hắc ám dưới các hầm lò ấy”.

Ông đăm đắm nhìn Hồng Vân trong cử chỉ vội vàng khi cô đang tẩy trùng vết thương cho một chiến sĩ thợ lò và cảm mến cái hành động của cô với một tâm trạng thán phục từ trái tim một người điều dưỡng viên vùng mỏ. Sau khi quan sát thân hình người đồng chí đang nằm trên chiếc cáng tải thương, ông thấy dâng lên một sự thương cảm vô bờ bến, giống như nỗi lòng của một bà mẹ có con đi chiến tranh lúc nào cũng nóng lòng trở về. Với các động tác thành thục, Hồng Vân quấn chặt chiếc gạc quanh khuỷa tay và đầu gối chỗ vết thương trầy sước, từng chút một cẩn trọng, và ông đã ngầm hiểu điều gì khiến cô dành tình cảm đặc biệt cho người chiến sĩ thợ lò nơi cô như thế.

“Trông cô sơ cứu cho mọi người, khiến tôi phải thay đổi suy nghĩ về cô nhiều hơn”, ông nói. Rồi ông đưa cánh tay lướt đều trên cơ thể người bệnh cứ như muốn dò tìm một vết thương nào đó mà chưa kịp băng bó.

“Chúng tôi đã quen với những trường hợp sự cố dưới hầm từ nhiều năm nay rồi, nhưng không ai tỏ ra thoái chí cả”. Ông nói không chút vấp váp. “Càng gặp sự cố, nó càng khiến chúng tôi thêm khôn lớn. Luôn luôn là thế, như cô thấy đấy”.

Những cơn ho bật máu mà nguyên nhân là do các bụi than ngấm qua lớp khẩu trang vải vào buồng phổi vẫn làm tình làm tội chúng tôi nhiều lần hơn nữa. Độ sâu, nhiệt độ, độ ẩm, không khí, khiến các khớp xương sườn chúng tôi tưởng như rệu rã. Quản đốc nhìn đồng hồ, đã đến giờ nghỉ của phân xưởng.

Như cử chỉ một người cha, ông nhìn từng người thợ ăn một cách ngon lành trên mâm cơm đạm bạc nằm giữa một cái chiếu cói, không cao lương mỹ vị gì cả, nhưng chính điều đó khiến ông càng trăn trở hơn về đời sống thợ thuyền trên khắp vùng mỏ này mà ông chưa tìm được phương pháp nào khả dĩ.

“Hầu hết những người thợ lò ở đây, đã trở thành những vị lãnh đạo mẫn cán nối tiếp tôi”, ông nói. “Những người thợ lò chúng tôi đã làm việc như những chiến binh dũng cảm nhất trong các cuộc đại chiến mà chúng tôi cảm thấy xứng đáng, dành hầu hết phần đời trong các hầm sâu mà bằng cách nào đó đã khiến các mỏ than nối dài như dải núi hùng vĩ. Có vài người trong số chúng tôi đã nằm lại dưới đó, nhưng đa số vẫn cùng hội cùng thuyền, thậm chí lạc quan hơn thế nữa”.

Hồng Vân ngập ngừng.

“Ông có biết người ta nhận xét như thế nào về nghề mỏ của chúng ta không?” cô băn khoăn.

Phan Văn Đạo bắt đầu sửng sốt:

“Chắc họ nghĩ về chúng ta như một nghề lắm tiền nhiều của phải chăng”.

“Những điều nhận xét đó, đúng, nhưng không phải là những người lắm tiền nhiều của”, Quản đốc trả lời với thái độ bình thản và thông minh.

Đối với nghề thợ lò, có những điều còn hạnh phúc hơn chuyện tích cóp tiền bạc, hoặc là sở hữu một chiếc xe ô tô, sống trong căn biệt thự sang trọng, nói tóm lại, vinh quang vinh quang, không ai tính toán gì nhiều. Ông đã đến sống trong các hầm lò ở Mông Dương sau nhiều sự lựa chọn, gần như tách biệt với thế giới ngoài mà dường như chỉ quan tâm đến việc làm sao có thể tạo ra dòng than đặc biệt trên cái xứ sở xa xưa này. Ông hầu như dành tất cả tình yêu với nghề mỏ bằng cách hiểu từng ngóc ngách của các đường hầm, từng lò giếng đứng, giếng chợ, các mỏ giếng âm ở các độ sâu khác nhau như thế nào và tiếng mìn nổ ra sao tại các mỏ quặng biệt lập, và truyền đạt một số kỹ năng đi lò an toàn cho anh em trong đoàn vào lúc ông cảm thấy rảnh rỗi. Cái nóng ngày hè dường như không thấm gì so với lúc dưới hầm sâu, ông bao giờ cũng muốn chịu đựng cùng anh em cho đến khi hoàn thành công việc, đưa than về bến trong tiếng xe gòong trượt đều trên các thanh tà vẹt của nóc hầm thông gió nơi giếng lớn. Ngay cả vào lúc nắng nóng nhất trong ngày, các cô cấp dưỡng vùng mỏ cũng chăm sóc chu đáo cho các anh vẫn mang những bình nước vào tận dưới đó; có cô còn chuẩn bị cả suất cơm nhẹ với bánh mì để các anh ấm dạ, những món ăn được làm bởi những bàn tay cấp dưỡng chuyên nghiệp. Vào lúc công việc đã vãn, họ ngồi trên các bãi trống trò chuyện hỉ hả, đôi mắt nhìn lên mặt đất xa xôi cho đến khi ánh đèn lò chỉ còn nhỏ nhoi như con đom đóm. Nhiều người ngồi vào tổ máy, đầu đội mũ lò rực sáng, bàn tay lướt đều trên các gương than lấp lánh, khoan khoái ngắm nhìn từng xe gòòng trên đường tàu hỏa lên xuống. “Hết chuyến than này chắc là chúng ta sẽ có chuyến nghỉ dưỡng” một anh thợ lò an ủi. “Băng tải than quá tải rồi, gần như không chuyển động nổi vì vượt quá trọng tải cho phép”, người thợ sốt sắng. Dường như họ không bao giờ nghĩ rằng có thể mỗi xe gòong có thể trở về mặt đất an toàn mà lại không xuất phát từ những giọt mồ hôi của người thợ. Vị thủ lĩnh ngành than chăm chú lắng nghe như uống từng lời, mặc dù xét về cấp bậc ông có thể hơn họ, nhưng ông đã kéo lùi khoảng cách ấy chỉ bằng một nụ cười. Có lẽ đoàn thợ lò đã làm việc cật lực như thế cho đến khi tiếng than rơi trên các gương than nhỏ dần vào đêm tối tĩnh lặng và nghĩ về gia đình bé nhỏ để khỏi phải lo lắng.

Trong một buổi sáng bình minh trên phân xưởng, khi đang bắt đầu củng cố đường lò, Quản đốc gây nên trong tất cả mọi người sự ngạc nhiên:

“Tôi nảy ra một sáng kiến rồi”, ông cất tiếng rổn rảng.  “Tôi đã nghĩ nhiều đến chiếc máy xúc nhập ngoại ở Đức”.

Những người thợ lò của ông, đang vật lộn trong từng gầu than, hạnh phúc đứng cả dậy vì nghe cái sáng kiến có phần bị hoài nghi đó. Chiếc máy xúc gồm những động cơ được thiết kế đặc biệt, được đặt ở một góc quan trọng dưới hầm lò vẫn đưa những mẻ than nhẹ tênh lên khỏi mặt đất trong sự phối hợp nhịp nhàng của đôi tay người thợ và người thợ như thể được giải phóng hoàn toàn khỏi sức ép ban đầu. Nhưng giờ đây, chính cái máy xúc khổng lồ đó lại không đem lại hiệu quả bao nhiêu bên trong cái ứng dụng trên địa bàn mỏ bằng, trong khi các hầm than thường có độ dốc cao, nơi cứ mỗi gầu xúc, gần một khối từ trong hầm ra băng chuyền bị rơi vãi mất một phần tư. Người thợ luôn phải trực xúc từ trong hầm ra, vừa xúc than rơi vãi lên băng chuyền. “Tôi thấy nếu nối tay máy xúc dài thêm năm mươi phân thì không cần công nhân dọn dẹp nữa”, từ ý tưởng đó, ông đã mang đến một diện mạo hoàn toàn mới và có lẽ là sáng kiến duy nhất trên xí nghiệp này mà ông muốn nghĩ đến tất cả những người anh em đang lao động cật lực dưới hầm lò. Những người thợ đã tạo nên kỳ tích vào một năm sau đó, không còn bị dằn vặt bởi công sức cuối cùng luôn bị phung phí nơi tâm hồn họ: áp lực về việc mỗi mẻ than duy nhất của mình đã không còn được nguyên vẹn hình hài khi trở về bến tập kết và sau đó lại bị kéo lùi xuống các hố sâu thăm thẳm nơi không có người.

Quản đốc thở dài chiêm nghiệm: “Đúng, sứ mệnh của chúng ta là vinh quang và không ai có thể thay thế nổi chúng ta trong công việc hầm lò này”, ông nói. “Một hòn than được hình thành từ lớp đất đá cằn khô, bao giờ cũng có chút ý nghĩa; những người thợ lò không bao giờ sợ bị ngược đãi và luôn luôn lớn lên từ sự kiên trì, sự kỷ luật, sự đồng tâm, sự đồng cảm giữa những người cầm búa với những người nổ mìn. Ông giao ánh mắt màu than nâu đầy cứng rắn của Hồng Vân đang khám phá ông bằng một tình thương vô bờ bến và ông bỏ qua đôi mắt ấy bằng thái độ sững sờ của một người đi mỏ giàu kinh nghiệm.

“Sự tương phản màu than mang một ý nghĩa là, tương phản ánh đèn lò với mồ hôi chảy ra trên thân thể người thợ. Đôi khi chúng tôi tôi mong chờ một cái gì đó rõ ràng từ nơi các quặng than đặc quánh đó?”

(Hết kỳ 2 – Còn tiếp)

V.M.P