Tiếng phách ngạo nghễ bên dòng sông Ân

(Vanchuongphuongnam.vn) – Nhớ về Nguyễn Công Trứ tôi luôn nghĩ tới ông là con người hành động. Ông là đồ đệ trung thành của Nho giáo, kiên quyết bảo vệ trật tự của xã hội phong kiến và có nhiều công lao với nhà Nguyễn. Cuộc đời ông làm quan ở nhiều nơi, thăng giáng bất thường nhưng suốt đời sống thanh liêm, ngay thẳng.

Biển di tích đền Nguyễn Công Trứ

Một ngày mùa thu đẹp trời, tôi trở về Ninh Bình thăm nhà thờ Phát Diệm. Trên đường đi, tôi đã rẽ vào Quang Thiện thăm đền thờ Nguyễn Công Trứ, một Nho tướng lỗi lạc của triều đình nhà Nguyễn, người có công lao to lớn trong việc tổ chức binh lính và lưu dân nghèo khó khẩn hoang để làm ra biển bạc (Tiền Hải) và núi vàng (Kim Sơn) ở hai tỉnh Hưng Yên và Ninh Bình. Đứng trên vùng bãi sình lầy hoang vu của hai trăm năm trước, nhìn ra dòng sông Ân đang đỏ nặng phù sa trước mặt, tôi không khỏi cảm phục và nghĩ về một giai đoạn lịch sử đầy biến động với một con người rất cá tính như Uy Viễn Tướng Công. Tính từ ngày Gia Long lên ngôi (năm 1802) đến ngày Bảo Đại thoái vị (năm 1945), nhà Nguyễn tồn tại 143 năm. Quãng thời gian gần một thế kỷ rưỡi ấy, triều Nguyễn đã phải trải qua bao nỗi vinh nhục, mà vinh quang tựa như bóng câu qua cửa sổ còn nỗi cay đắng lại kéo dài lê thê. Những nguồn cơn bi thương ấy gắn liền với tấn bi kịch mất nước, lầm than của dân tộc, nhất là từ giai đoạn nửa sau của thế kỷ XIX trở đi. Nhìn lại những thăng trầm của thời cuộc ấy, tôi chợt nhận ra hai mảng màu sáng tối của bức tranh lịch sử hiện lên khá rõ. Đặc biệt, trong cái mảng màu sáng trưng rực rỡ ấy, có một nhân vật hiện ra vô tiền khoáng hậu hiện lên và để lại cho tôi một ấn tượng rất khó quên. Người đó, không ai khác, chính là Nho tướng ngất ngưởng Nguyễn Công Trứ. Ông ngất ngưởng từ trang sách bước ra cuộc đời và rồi lại ngất ngưởng từ cuộc đời đi vào trong trang sách mà làm nên danh thơm của một bậc kỳ tài để hậu thế muôn đời không thôi ngưỡng vọng.

  1. Đi không, há lẽ trở về không?/ Cái nợ cầm thư phải trả xong!”

Đứng bên dòng sông Uy Viễn Tướng Công cho đào năm xưa, nhìn vào Truy Tư Từ (đền thờ Nguyễn Công Trứ) tôi liền nhớ đến giai thoại khi ông mới lọt lòng. Người ta kể rằng: cụ Thượng Trứ, tự là Tồn Chất, hiệu Ngộ Trai, biệt hiệu Hi Văn người làng Uy Viễn, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh nhưng lại sinh ở huyện lỵ Quỳnh Côi, phủ Thái Bình – nơi thân phụ ông là Đức Ngạn Hầu Nguyễn Công Tấn đang làm tri phủ. Cậu bé chào đời vào ngày mùng Một tháng Mười Một năm Mậu Tuất, tức ngày 19 tháng 12 năm 1778. Khi mới sinh, người ta đã thấy ông mang cốt cách nhân tướng của bậc đại trượng phu với thân dài, trán rộng, mũi cao. Đặc biệt là hai mắt ông nhắm tịt, miệng không thèm khóc. Đến nỗi, người nhà phải mang hết nồi đồng, mâm thau ra gõ liên hồi để dỗ ông mở mắt và cất tiếng khóc chào đời nhưng ông vẫn cứ điềm nhiên mặc kệ. Đến khi tất cả mọi người mệt mỏi, rã rời, ông mới dõng dạc cất tiếng khóc oang oang như chuông đồng. Gia đình hiếm muộn nên Đức Ngạn Hầu vui mừng khôn xiết. Vốn là một nhà Nho hay chữ, biết đây là điềm hỷ nên Tri phủ Tiên Hưng (Thái Bình) bèn đặt tên huý cho con trai là Củng, nghĩa là bền chặt, vững vàng; tên chữ là Trứ, nghĩa là rõ ràng, nổi trội. Cậu bé ấy, sau này chính là Uy Viễn tướng công Binh bộ Thượng thư Nguyễn Công Trứ.

Tác giả trước đền thờ Nguyễn Công Trứ (Ninh Bình)

Thế rồi thời cuộc thay đổi, 10 năm sau khi ông chào đời, nhà Tây Sơn lật đổ chính quyền Lê – Trịnh. Vốn là một trung thần của nhà Lê, Đức Ngạn Hầu Nguyễn Công Tấn quyết không thờ hai vua nên đưa con về lại quê nhà, nơi sông Lam núi Hồng, mở trường dạy học sống cuộc đời thanh bạch. Tuy cuộc sống đạm bạc nhưng cụ Nguyễn Công Tấn rất chăm lo cho con ăn học để theo đuổi cử nghiệp. Giai thoại cũng kể rằng, khi cậu bé Củng về Hà Tĩnh, học với ông đồ Trung, một hôm, thầy nổi hứng ra vế đối “Ngoài vườn cây đại nở hoa đại” và bảo học trò ai đối được sẽ có thưởng. Cả lớp im lặng, riêng mình Củng cứ nhấp nha nhấp nhổm. Thấy thế thầy Trung liền gọi Củng lên. Cậu bé khép nép thưa rằng sợ thầy phạt. Thầy liền khuyến khích nếu đối hay sẽ thưởng, còn sai cũng không trách mắng. Nghe vậy, Củng liền dõng dạc đưa ra vế đối: “Trong buồng ông Trung ấp bà Trung”. Vế đối rất chỉnh, tài tình khiến thầy đồ đỏ mặt nhưng vẫn phải lấy một quan tiền thưởng cho Củng. Cái tài đối đáp nhanh trí ấy không chỉ diễn ra một lần mà còn nhiều lần khác: khi thì với thầy dạy, lúc lại với nhà sư… Rồi còn ứng khẩu thi phú với những câu thơ vô cùng khí phách và ngạo nghễ. Cứ thế, trí tuệ thông minh và cá tính khác thường của Nguyễn Công Trứ dần định hình, thậm chí còn như muốn vượt ra “ngoài vòng cương toả” của thời đại. Có lẽ, vì cái cá tính quá mạnh mẽ ấy mà con đường khoa cử của ông chẳng hề hanh thông, cứ đi thi rồi lại trượt. Nhưng ông không chịu khuất phục trước số phận. Sau nhiều năm miệt mài kinh sử, mãi đến năm 41 tuổi (năm 1819), ông mới đậu Giải nguyên, đứng đầu kỳ thi Hương và chính thức bước vào chốn quan lộ. Để rồi từ đây, trong lịch sử nước nhà, một chương mới đầy bão táp nhưng cũng vô cùng rực rỡ mang tên Nguyễn Công Trứ chính thức được mở ra.

  1. “Đã mang tiếng ở trong trời đất/ Phải có danh gì với núi sông.”

Có thể nói, suốt cuộc đời, Nguyễn Công Trứ luôn theo đuổi sự nghiệp công danh với cái “Chí làm trai nam bắc đông tây/ Cho phỉ sức vẫy vùng trong bốn bể”. Cho nên sau khi thi đậu Giải nguyên, dù ở bất kỳ hoàn cảnh nào, người ta đều thấy ông hiện lên là một kẻ sĩ tích cực nhập thế, tận tâm với quốc, tận lực với dân. Chính bởi tấm lòng son sắt ấy mà tại những nơi ông từng kinh qua nhiệm sở, nhân dân đã lập không ít đền thờ để tri ân sau khi ông mất, thậm chí còn lập cả sinh từ để phụng thờ ngay cả khi ông đang còn sống như ở Tiền Hải và Kim Sơn, mà Truy Tư Từ trước mắt tôi kia là một minh chứng đầy sống động.

Nhìn lại cuộc đời của Nguyễn Công Trứ, ta sẽ thấy vô cùng sống động; từ sau năm 1819, ban đầu ông làm Hành tẩu ở Quốc sử quán (1820), sau thăng Tri huyện Đường Hào – Hải Dương (1823) rồi Lang trung Bộ Lại, Tư nghiệp Quốc Tử Giám (1824); Tham hiệp trấn Thanh Hoá (1825); Thị lang Bộ Hình (1826); Thự Hữu tham tri Bộ Hình – Doanh điền sứ Nam Định, Ninh Bình (1828); Tham tri Bộ Hình (1830); Lang trung nội vụ, Bố chánh Hải Dương, Tham tri Bộ Binh, Thự Tổng đốc Hải An (1832); Tham tán đạo Tuyên Quang, Cao Bằng, Thái Nguyên, Lạng Sơn (1834), Tả đô ngự sử Viện Đô sát, Chủ khảo trường thi Hà Nội, Tán lý cơ vụ trấn Tây Thành (1840); Án sát Quảng Ngãi (1846); Thự phủ doãn Thừa Thiên (1847). Với gần 30 năm ấy, con đường công danh của Nguyễn Công Trứ không chỉ có thăng quan Thượng thư hay Tổng đốc mà có cả không ít lần gặp phải hoạn lộ do sự gièm pha, đố kỵ của chốn quan trường, có khi đến mức bị giáng cấp (1831, 1839) hay cách hết cả chức vụ tống ngục khép tội “trảm giam hậu” (1841) hoặc tống làm lính biên thuỳ ở Quảng Ngãi (1843). Cuộc đời cứ “lên voi xuống chó” với nhiều lần thăng giáng đa đoan như thế nhưng ta thấy ông vẫn cứ bình thản như không và coi là lẽ thường nhật: “Được mất dương dương người tái thượng/ Khen chê phơi phới ngọn đông phong” để vui vẻ, ngạo nghễ cùng nước non: “Xuống ngựa lên xe nọ tưởng nhàn/ Lợm mùi giáng chức với thăng quan/ Điền viên dạo chiếc xe bò kéo/ Sẵn tấm mo che miệng thế gian!”. Ông không lấy việc thăng giáng để phẫn chí mà xa rời lý tưởng “trí quân trạch dân”, mà bỏ đi hoài bão của mình. Quả thực, điểm lại cuộc đời gần ba mươi năm dấn thân ngạo nghễ ấy, người ta thấy Uy Viễn Tướng Công quả là không sống phí sống hoài mà đã thực sự trả được món “nợ tang bồng” của một kẻ “tu mi nam tử” ở ngoài chiến địa cũng như ở trên cả trường đời. Vốn xuất thân từ quan văn nhưng nghiệp võ của ông cũng đầy hiển hách. Xã hội phong kiến dưới triều Gia Long, Minh Mệnh, Thiệu Trị, quá hà khắc khiến nội loạn xảy ra ở nhiều nơi. Nông dân liên tiếp vùng lên khởi nghĩa. Nguyễn Công Trứ nhiều lần được triều đình cử đi dẹp loạn. Những khi ấy, tài năng quân sự bẩm sinh của ông thực sự có đất dụng võ. Ông đánh đâu thắng đấy: năm 1827, dẹp loạn Phan Bá Vành ở tỉnh Nam Định, năm 1833, dẹp loạn Nông Văn Vân ở tỉnh Tuyên Quang và Lê Duy Lương ở Thanh Hóa. Tất nhiên, do hạn chế bởi tư tưởng “trung quân” mà ông đã đứng về phía lợi ích của triều đình, đi ngược lại với lợi ích của đa số quần chúng nhân dân. Gạt bỏ những hạn chế thời đại đó, ta còn thấy tài năng quân sự của Uy Viễn Tướng Công lẫy lừng, sáng tựa sao Khuê. Khi làm Tổng đốc Hải An, năm 1835, Nguyễn Công Trứ đánh tan bọn giặc biển nhà Thanh khi chúng lấn chiếm các đảo ở tỉnh Quảng Yên. Rồi trong cuộc chiến Việt – Xiêm, năm 1841-1845, Nguyễn Công Trứ lại lập công lớn “Khi bình Tây cờ Đại tướng”. Đặc biệt, năm 1858, khi đã vào tuổi bát tuần, nghe tin quân Pháp xâm lược Đà Nẵng, ông không ngần ngại dâng sớ xin vua Tự Đức cho đi đánh giặc: “Dù tôi như cái màn, cái lọng rách, cũng không nỡ tự nản chí. Còn chút hơi thở nào xin lên đường ngay”. Nghĩ đến đây, tôi lại nhớ lần đến Đà Nẵng năm trước, đứng trong thành Điện Hải – nơi Tham tri Bộ Công Nguyễn Công Trứ từng đến kiểm tra và đề nghị vua Thiệu Trị phải tăng cường phòng thủ cho các thành Điện Hải, An Hải (năm 1840). Lần đó, đứng trước những chứng tích lịch sử vô giá này, nhớ lại lời tâu xin đi đánh giặc tha thiết của ông, tôi chợt ngộ ra rằng, cốt cách “ngất ngưởng” của ông không chỉ nằm trên những trang thơ hay câu hát, mà nó đã được ghi khắc bằng xương máu vào trong lòng đất đá của từng pháo đài nơi đầu sóng ngọn gió. Nguyễn Công Trứ sống một cuộc đời đầy biến động thăng trầm, nhưng đến những phút cuối cùng, trái tim ông vẫn đập chung một nhịp với vận mệnh đất nước. Thì ra, cái “ngông” của ông lúc này đã hóa thành cái oai nghiêm của một vị tướng già, sẵn sàng coi cái chết nhẹ tựa hồng mao. Ông đã sống trọn vẹn lý tưởng của một đấng trượng phu, để lại cho hậu thế một tấm gương sáng ngời về bản lĩnh và quyết tâm giữ nước đến tận hơi thở cuối cùng.

Như thế xem ra cuộc đời của Nguyễn Công Trứ chẳng đến mức “không công danh thời nát với cỏ cây” như ông hằng nghĩ. Nhưng ngẫm cho kỹ, so sánh sự nghiệp võ công với cái tài kinh bang tế thế của ông, tôi lại thấy chiến công lớn nhất của Uy Viễn Tướng Công không ở chiến trường mà ở bên những bãi biển hoang vu. Bởi vậy, đứng trên bờ sông Ân đỏ nặng phù sa của vùng đất Kim Sơn, ngắm nhìn đường phố nhộn nhịp với nhà cửa mọc lên san sát, tôi mơ màng thấy nắng vàng buông nhẹ trên mái ngói rêu phong của Truy Tư Từ và ngỡ như Đức Doanh Điền sứ vừa mới qua đây với chòm râu bạc phất phơ cùng câu hát còn vương trong gió: “Chí nhưng toan xẻ núi lấp sông/ Làm nên tiếng anh hùng đâu đấy tỏ”. Và đâu đó, trong tiếng sóng nhè nhẹ xô bờ, tôi như thấy “Bài ca ngất ngưởng” vọng lại, kể cho nghe về vẻ đẹp của một cuộc đời tự do, tự tại và chưa bao giờ biết cúi đầu trước nghịch cảnh của Uy Viễn Tướng Công trên những bãi sình lầy lội, mặn chát nắng gió của bờ biển Tiền Hải, Kim Sơn. Nhưng rồi lại nghĩ, nếu chỉ có cái “ngất ngưởng” không thôi thì chưa chắc vùng đất này đã có những ngôi đền quanh năm khói hương thờ phụng Nguyễn Công Trứ như thế. Rồi ngẫm nghĩ lý giải để nhận ra rằng, hoá ra, đằng sau cái “ngất ngưởng” ấy, Uy Viễn Tướng Công còn có một trái tim nóng hổi đối với muôn dân nghèo khó và một khối óc tài ba của một nhà canh tân vượt lên mọi sự bảo thủ, trì trệ của thời đại. Hẳn thế, nếu không thì ngày nay làm sao chúng ta có được những thảm vàng ngút ngàn, những bờ xôi ruộng mật rạng rỡ giữa muôn trùng sóng gió khơi xa. Trong dòng suy tưởng ấy, tôi bỗng thấy hiện ra khúc tráng ca của đoàn người quai đê lấn biển gần hai trăm năm trước như đang cuồn cuộn hiện về ngay trước mắt.

Giờ đây, những vựa lúa của Tiền Hải, Kim Sơn không còn mịt mùng lau lách và mặn chát gió biển. Theo trí tưởng tượng, tôi hình dung vùng đất Kim Sơn dưới chân tôi đang đứng ngày đó có lẽ chưa thành đất, sông Ân đỏ nặng phù sa khi đó vẫn chưa thành hình. Mênh mông bốn phía chỉ có triều cường dâng ngập. Để rồi một ngày kia, Nguyễn Công Trứ dẫn quân đi dẹp loạn Phan Bá Vành mà vô tình phát hiện ra tiềm năng vô tận của những bãi bồi phù sa mà sông Hồng, sông Đáy, sông Càn dâng tặng nơi cửa biển. Nhưng quan trọng hơn, con mắt xanh của Uy Viễn Tướng Công đã nhìn ra một giải pháp màu nhiệm để giải quyết tận gốc nạn trộm cắp, giặc giã đang nổi lên khắp nơi. Hơn ai hết vị tướng đem quân đi dẹp loạn đã trông thấy những kẻ mà mình đang coi là giặc kia không phải người xa lạ nào cả mà chính là những người dân đói khổ, không có ruộng đất, tha phương cầu thực. Ông nhận ra rằng, muốn dân không nổi dậy chống lại triều đình, trước hết phải mang lại ruộng đất, áo cơm cho họ. Bởi thế, ông đã dâng sớ đề xuất chủ trương khẩn hoang để yên nghiệp dân nghèo. Cái ý tưởng có phần phiêu lưu nhưng rất có cơ sở của Nguyễn Công Trứ dường như đã lọt vào mắt Minh Mạng nên liền được chấp thuận. Nhờ nguồn kinh phí triều đình cấp xuống, cộng với sự am tường địa lý tự nhiên và hiểu biết nông nghiệp sâu rộng của vị Doanh Điền sứ, chẳng bao lâu một vùng bãi biển mênh mông đã biến thành những cánh đồng trù phú thẳng cánh cò bay. Thời ấy, Nguyễn Công Trứ chiêu mộ hàng nghìn lưu dân và binh lính đến mở làng lập ấp, quai đê lấn biển. Hàng triệu cọc tre được đóng xuống các bãi sình lầy, hàng tỷ mét khối đất được quật thổ bồi cư, mở đường. Nguyễn Công Trứ vừa chỉ huy vừa cùng dân binh bì bõm chinh phục những bãi bồi. Với trí tuệ lỗi lạc của nhà kinh tế và sự thông minh bẩm sinh của nhà khoa học kết hợp với trái tim thương dân tràn đầy nhiệt huyết mà ông đã quy hoạch, xây dựng nên những làng xóm bên các bờ xôi ruộng mật. Uy Viễn Tướng Công đã tận dụng triệt để phương pháp quy hoạch theo lối tĩnh điền để làm các công trình thuỷ lợi. Ông đã cho nối sông Vạc với sông Càn bằng cách đào sông Ân để lấy nước ngọt. Rồi mỗi làng lớn hoặc hai làng nhỏ, Nguyễn Công Trứ lại cho đào một con kênh vừa để lấy đất đắp đường đi vào các làng các xóm vừa để tiêu úng lụt và thau chua rửa mặn các cánh đồng. Tất cả mọi con kênh đều được nối với sông Ân. Cứ thế, tính gộp chiều dài các con sông, con kênh ở Kim Sơn, ước tính có đến cả trăm cây số. Theo đó, chỉ trong 6 tháng lao động không nghỉ, đến tháng 9 năm 1828, vùng đất Tiền Hải được ra đời với 14 lý, 27 ấp, 20 trại và 10 giáp; tổng số đinh là 2.350 người; khai khẩn được 18.970 mẫu ruộng đất. Lập xong Tiền Hải, Nguyễn Công Trứ lại kéo sang Kim Sơn. Lần khẩn hoang này chỉ kéo dài trong 5 tháng, đến tháng 3 năm 1829, Nguyễn Công Trứ cũng đã cho lập được 3 lý, 22 ấp, 24 trại, 4 giáp với 1.260 dân đinh và khẩn hoang được 14.620 mẫu ruộng. Chỉ bấy nhiêu thôi, không tính những nơi ông tổ chức khẩn hoang khác, tôi càng vững tin cho cái suy nghĩ của mình rằng, tài năng và công lao lớn nhất, bền vững nhất của cụ Thượng Trứ là ở những bờ biển hoang vu trên vùng đất Tiền Hải và Kim Sơn ngày xưa. Cái thành công lớn nhất của Doanh Điền sứ là thay đổi cuộc đời muôn dân lưu tán thành những người chủ đất, biến bãi bồi ven biển thành ruộng lúa xanh tươi, no ấm. Bởi thế, cho đến tận hôm nay, người dân hai vùng đất này đã suy tôn ông làm thành hoàng và quanh năm khói hương phụng thờ. Hơn thế, trong tâm thức truyền đời của dân làng nơi đây, ông lúc nào cũng hiện lên như một người cha thân yêu vì đã sinh ra quê hương cho họ.

3. “Gót tiên theo đủng đỉnh một đôi dì/ Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng

Nhớ về Nguyễn Công Trứ tôi luôn nghĩ tới ông là con người hành động. Ông là đồ đệ trung thành của Nho giáo, kiên quyết bảo vệ trật tự của xã hội phong kiến và có nhiều công lao với nhà Nguyễn. Cuộc đời ông làm quan ở nhiều nơi, thăng giáng bất thường nhưng suốt đời sống thanh liêm, ngay thẳng. Có thể nói, 28 năm lăn lộn chốn quan trường của Nguyễn Công Trứ là những chuỗi thăng trầm nối tiếp. Nhưng lúc nào tôi cũng thấy ông sống đàng hoàng, ung dung với một phong thái hết sức tự do, phóng khoáng: “Khi Thủ khoa, khi Tham tán, khi Tổng đốc Đông,/ Gồm thao lược đã nên tay ngất ngưởng./ Lúc bình Tây cầm cờ đại tướng,/ Có khi về Phủ doãn Thừa Thiên/ Đô môn giải tổ chi niên./ Đạc ngựa bò vàng đeo ngất ngưởng”. Ông cống hiến hết mình cho lý tưởng nhưng cũng sẵn sàng rũ bỏ mọi danh lợi để sống cuộc đời “ngất ngưởng” đúng với bản ngã. Có lẽ vì thế mà cả chính sử cũng như dân gian ghi chép và lưu truyền rất nhiều giai thoại về ông. Điều này có thể xem là vinh dự mà không phải nhân vật lịch sử nào cũng có được như vậy. Trở về với bản ngã của mình, Nguyễn Công Trứ luôn lấy cầm, kỳ, thi, tửu làm thú phong lưu: “Thơ một túi gieo vần Đỗ, Lý/ Rượu lưng bầu rét chén Lưu Linh/ Đàn Bá Nha gẩy khúc tính tang tình/ Cờ Đế Thích đi về xe pháo mã”. Và, ông nâng nó lên thành triết lý của cuộc sống: “Cuộc hành lạc bao nhiêu là lãi bấy/ Nếu không chơi thiệt ấy ai bù”. Thậm chí, có lúc, ông còn nâng thú vui “hành lạc” lên ngang tầm với “tang bồng”: “Nợ tang bồng hẹn khách thiếu niên/ Cuộc hành lạc vẫy vùng cho phỉ chí”. Cho nên, bảo sao Uy Viễn Tướng Công lại say mê hát ả đào đến thế: “Thú tiêu sầu rượu rót thơ đề/ Có yến yến hường hường mới thú/ Khi đắc ý mắt đi mày lại…”. Ở Nguyễn Công Trứ, người ta còn thấy ông làm việc hết mình và chơi cũng rất hết mình. Có lẽ vì chứng kiến ông chơi hết mình như thế mà người ta bảo ông “Ngông”. Cách nghĩ ấy cũng là lẽ thường dễ hiểu, chẳng có gì sai. Nhưng nên hiểu cái ngông của Nguyễn Công Trứ không phải là ngông cuồng, nổi loạn mà ngông trong trật tự để giữ cốt cách thiện căn: “nghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ chung”.

Nghĩ đến cái “đạo sơ chung” của cụ Nguyễn Công Trứ, tôi lại nhớ đến giai thoại “Bị nghi làm phản”. Chuyện là, năm 1852, lúc này cụ Trứ đã về hưu trí ở quê nhà Hà Tĩnh. Năm đó, nhân dân hai vùng Tiền Hải, Kim Sơn nhớ ơn khẩn hoang, lập làng năm xưa nên lập đền thờ rồi rước cụ ra thăm. Nhưng rồi, có một tên thị vệ ghen ăn tức ở, bèn bịa đặt chuyện và mật tấu về Kinh là cụ Trứ có dị chí. Triều đình liền cho triệu cụ vào Kinh để tra xét nhằm diệt trừ “hậu họa”. Tuy nhiên, khi bình tĩnh suy xét lại, vua Tự Đức nhận ra và nghi ngờ mật tấu chỉ là lời vu cáo xằng bậy. Tương truyền, khi Nguyễn Công Trứ về đến Kinh, vua Tự Đức mời cụ vào diện kiến để giãi bày thực hư. Nhà vua hỏi cụ: Ở hạt Tiền Hải và Kim Sơn dân tình làm ăn thế nào?. Nguyễn Công Trứ tâu rằng: Thưa bệ hạ, dân hai huyện ấy làm ăn rất là vui vẻ, ngày thì chăm lo cày cấy, tối về đập lúa ca hát, thật đúng là cảnh muôn dân trăm họ, thái bình âu ca. Họ thường đặt ra những câu hát đố rất thú vị để hát đối đáp với nhau. Tự Đức sốt ruột liền hỏi: Như những câu gì, có thể đọc cho trẫm nghe được không? Cụ Trứ liền đáp: Tâu bệ hạ, chẳng hạn như câu này: Đem thân cho thế gian ngồi/ Rồi ra mang tiếng con người bất trung. Vua hỏi là cái gì, cụ Trứ lại đáp: Họ bảo đấy là cái phản. Vua Tự Đức lại hỏi: Thế còn câu gì hay nữa không. Nguyễn Công Trứ tiếp tục đáp: còn câu này cũng hay lắm và đọc: Ngay lòng ở với nước nhà/ Người dù không biết trời đà biết cho. Nhà vua lại hỏi là cái gì và Nguyễn Công Trứ lại trả lời: Tâu bệ hạ, họ giảng đấy là cái máng nước. Đến đây vua Tự Đức nhận ra ẩn ý của cụ Trứ ám chỉ việc mình bị vu oan và trách triều đình không biết xét việc minh bạch có trước có sau, nên đã tìm lời an ủi và thưởng cho cụ một trăm quan tiền rồi sai người cho võng rước về Phủ Thừa đợi ngày về quê. Nghe nói cụ Trứ nhận tiền, bái lạy vua nhưng từ chối lên võng. Khi ra đến ngoài, cụ bèn gọi xe đưa đến gần dinh Thanh Bình và bảo tiểu đồng báo cho xóm nhà tơ ở đó mở tiệc ca trù vào buổi tối. Thế thôi, người ta cũng đủ thấy: “trong triều ai ngất ngưởng như ông”!

Về thăm vùng đất Nguyễn Công Trứ đã lập nên, đứng trước Truy Tư Từ – nơi xưa ông từng ở – và nghĩ về cuộc đời của Uy Viễn Tướng Công Nguyễn Công Trứ, tôi chợt nhận ra sao kiếp nhân sinh ấy giống như một bài hát ca trù đến thế. Cũng chát chát tom tom, lúc dập dìu khúc thức, khi dồn dập nhịp phách, thăng thăng giáng giáng y như bão giông hoạn lộ của cụ. Nhưng rồi những thanh âm ấy có trắc trở thế nào, thì chốt lại, cuối cùng vẫn được định đoạt bằng một tiếng sênh phách giòn tan, ngạo nghễ. Làm việc oanh liệt như cụ và vui chơi cũng cạn lòng như cụ, nhân sinh hai trăm năm qua chưa có người thứ hai lặp lại. Nhưng với tôi, cái tượng đài lộng lẫy nhất về con người này chính là hình ảnh mái đầu bạc trắng ở tuổi bát tuần mà khi nghe tiếng đại bác bắn vào bán đảo Sơn Trà, năm 1858, vẫn quật khởi viết sớ dâng lên nhà vua xin cho ra trận. Tuy ước nguyện trước khi nhắm mắt không thành, nhưng cái “chí nam nhi” và khí phách “da ngựa bọc thây” ấy của cụ đẹp không một tì vết. Nó như đã tạc thành một dáng đứng bất tử của bậc sĩ phu yêu nước thương nòi cho đến tận hơi thở cuối cùng.

Vậy thôi, cuộc đời đã khép lại, tiếng phách cũng đã ngừng, nhưng Uy Viễn Tướng Công thì vẫn luôn sống mãi trong lòng hậu thế!

Bài, ảnh: Phan Ngọc Anh