Những ánh sao đêm – Truyện ký của Vũ Minh Phúc (Kỳ cuối)

(Vanchuongphuongnam.vn) – Hồng Vân theo sát bước chân ông dừng chân tĩnh lặng trên các lò giếng chợ. Có một điều gì đó khởi lên trong tâm trí cô, trong tám tiếng làm việc cuối cùng và rồi như một phản xạ tự nhiên, cô gửi về phía ông một nụ cười còn đẹp hơn cái màu gương than rực rỡ. Quản đốc dặn dò Phan Văn Đạo trước khi giao cho anh nhiệm vụ kế tiếp, như thể cài vào trái tim một hơi ấm giúp anh đi trong hầm lò mà chẳng bao giờ sợ lạc lối.

Những người thợ mỏ. Ảnh: H.Đ

Vào lúc Phan Văn Đạo hết giờ làm việc dưới mỏ thì cũng là lúc vợ và những đứa con đã đợi sẵn anh ở nhà.

“Vị Quản đốc ấy quả là một thủ lĩnh đáng yêu”, cô nói. “Thật là hạnh phúc vì điều đó”.

Dẫu rằng Phan Văn Đạo lúc nào cũng an ủi vợ mình, họ vẫn trải qua những ngày khó khăn, mà bất cứ người thợ lò nào cũng vấp phải. Hồng Vân luôn luôn nghĩ rằng ông là một trong những lãnh đạo tốt nhất trên cái xí nghiệp than này mà cô từng gặp, với một năng lực làm việc đầy chỉnh chu, vẻ gần gụi của một người đã quen với mùi than khó chịu và sự gian khổ chẳng thể lường trước. “Ngay cả không bị than bám đầy cầu vai áo thì lúc nào trông ông ấy, khắc khổ và dễ dãi, nhưng xem ra từ nơi ông vẫn còn phảng phất tinh thần bất diệt của người chiến sĩ thợ lò năm xưa trên không gian khai thác vàng đen của Tổ quốc”, cô nói. Nhưng dù sao cô vẫn nghĩ, trong người thủ lĩnh ngành than ấy đã chẳng bao giờ phung phí những ưu ái của một Tập đoàn lớn nhất Quốc gia cho cuộc sống riêng tư của mình. Những năm tháng làm công nhân mỏ, cô đã học được những đức tính quý báu nơi ông cho dù ông là một vị thủ lĩnh nắm trong tay cả một ngàn người thợ của xứ sở than đá, là người anh em đồng chí đáng mến nhất mà từng người thợ lò có thể cảm nhận được. Cô càng trân trọng nghề mỏ bao nhiêu càng kính trọng  sự hy sinh của ông khi cô tin chắc rằng ông ấy đã không áp đặt những quy chế ngặt nghèo lên từng người thợ tại công trường than này. Còn cao hơn cả tiền bạc trong một thứ tình cảm đặc biệt mà ông dành cho từng cán bộ nhân viên ngành than, trong khi về phía ông có thể sẵn sàng đánh đổi tất cả những thứ lợi lộc riêng tư ông có được cho một đời sống của người thợ lò. Quản đốc dành thời gian dưới hầm lò khá lâu đủ để ông thấu hiểu những khó khăn và nhục nhằn của mỗi người thợ.

“Đôi khi thổ lộ ra những chuyện hiếm hoi trên vùng mỏ này”, cô khẳng định, “Chỉ là để chúng ta thêm yêu nghề mỏ, và tin tưởng vào người thủ lĩnh của mình mà thôi”.

“Ông ấy luôn lắng nghe tâm sự của tất cả anh em trong lúc làm việc phải không?” Phan Văn Đạo hỏi.

“Có vẻ để có những điều chỉnh phù hợp”, cô nói. “Nhưng dù sao, nỗi niềm canh cánh nơi từng người thợ lò bấy lâu nay vẫn chưa dứt, đầy ẩn ức, thật chẳng lúc nào nguôi ngoai trong lòng họ ngay cả khoảnh khoắc sống bên gia đình”.

Tiếng than rơi mỏng tang trên gương than náo nức quá, khiến Phan Văn Đạo không làm sao chợp mắt được ngay chỗ nghỉ với đồng đội và suốt cả buổi chiều còn lại, anh cứ đi đi lại lại kiểm tra ngóc ngách các lò giếng đứng nơi chứa đầy vỉa than dang dở. Hồng Vân cũng rón rén theo chồng vào tận trong lò giếng, quần áo và đầu tóc lấm đầy bụi than từ đầu đến chân- hình ảnh cao quý sáng rực phẩm chất của nữ công nhân ngành than khi điều khiển cần trục từng cỗ máy hoặc ở một mình dưới hầm lò và không bao giờ hối hận rằng vì sao mình lại phải hy sinh với nghề than nhiều như thế. Chỉ một động tác, cô sàng đi sàng lại những mẻ than cho đến khi trên tay mình còn sót lại một hòn than duy nhất. Mỗi sáng thức giấc, cô đều là phẳng phiu bộ quần áo đi lò, nai nịt cẩn thận bằng đôi ủng cũ sờn và trở lại vị trí tập kết trước giờ chuông điểm báo với một thái độ phấn khởi, náo nức như khi nhận được mức lương hậu hĩnh. Có lúc thấy cô ngồi trên cần trục điều khiển của phòng tiếp liệu, những động tác, để liên lạc với những đồng đội phía dưới kia, đưa tất cả than rải đều trên băng truyền với câu nói lớn: “Than đã về bến an toàn, tất cả đều diễn ra suôn sẻ”. Một ngày nào đó trên công trường, Phan Văn Đạo gặp Quản đốc đợi anh khi anh rời cánh cửa hầm lò, ông đề nghị anh trở về cùng ông nơi phòng tiếp khách. Họ ngồi bên nhau khá lâu để bàn tính về các buổi tập huấn đi lò an toàn cho anh chị em, nơi tính mạng mỗi người thợ vẫn được xem như sự nghiệp của tổ chức. Các tấm bản đồ vẽ các tỉ lệ luôn gợi nhớ về các đường lò chiếm gần hết mặt bàn, một nốt chấm trên các lò giếng, một cửa hầm thông gió, một trạm dừng chân cho lái xe tàu hỏa và chỗ nghỉ ngơi tạm thời cho anh em, một chỗ rút lui an toàn khi hầm xảy ra sự cố ngập nước. Quản đốc đưa ánh mắt về phía Phan Văn Đạo như muốn xem anh phản ứng thế nào.

“Đây là cái dòng sông than đã chảy qua đời tôi ngay khi còn là một sinh viên Trường mỏ”, ông nói như một lời động viên êm ái “Tôi thèm đi dưới hầm lò từ khi đến vùng mỏ này”.

Từ trong một cái túi áo bảo hộ lao động, ông lục khắp toàn thân và đặt trên mặt bàn làm việc những di sản cuối cùng của một người thợ lò được gọi là giàu có: Mấy mẫu than óng ánh pha lê với đủ loại sắc màu, một ngọn đèn đất được thắp sáng bằng thứ chất lỏng hóa học acetylen và hai sợi dây cáp bằng sắt và đồng, một tấm sa bàn vẽ hình các đường hầm lò, một chiếc búa được đúc bằng thép nguyên khối và bóng loáng, một xẻng xúc than có tay vịn và cán vuông vắn, một kìm kẹp chòong hình trụ có nhiều cạnh và dùng chuyển động từ máy khoan đến mũi khoan, một cái kẻng làm thành từ thanh tà vẹt đường ray lửa và đầu khoét lỗ, một cái hòm đựng đầy các lá thư tâm sự và một tủ thay đồ nhỏ, mười mấy cái sợi dây kích nổ với chiều dài được cuộn lại gọn gàng và một mũ đèn lò nạp đầy ánh sáng để khoác lên mình một người đi lò thường xuyên. Từ một cái hòm đó, ông lấy ra cơ man nào bình đựng nước bằng đồng và hai đôi gang tay bằng da, một cái đồng hồ quả lắc không gắn từ trường. Sau cùng ông bày ra những bộ huy treo trên một góc tường: một cái của xí nghiệp than nơi ông làm việc, một cái của hội thi tay nghề giỏi toàn quốc, những cái còn lại vẫn được giữ mới.

“Đó là tất cả hiện vật còn sót lại trong cuộc đời thợ lò của tôi”, ông nói bằng tâm trạng hoài niệm.

Ông giữ tất cả những thứ đó cho đến một ngày ông thấy tốt hơn hết là nên hiến chúng cho Bảo tàng ngành than để lưu giữ và ông nhờ Phan Văn Đạo vui lòng chuyển giúp ông số hiện vật đến đó và tuyệt đối giữ kín tin này. Nhưng Phan Văn Đạo nghĩ rằng không thể hoàn thành tốt điều ông mong muốn nếu một trong những nhân viên ở đó có ý định hỏi anh về nguồn gốc xuất xứ của những thứ mà chỉ riêng thợ lò và những người làm trong ngành than mới được sở hữu ấy.

Quản đốc nói rằng đó là những dụng cụ đi lò đắt giá của chính ông, nó được xem như của hồi môn mà cha ông, người lính trong đoàn thợ năm xưa đã dành hết phần cuộc đời cho nghề khai thác sa khoáng từ thời pháp thuộc và đã trưng dụng tất cả chúng trong những lần đi mỏ hiếm hoi ở xứ vàng đen Hải Đông (tên gọi khác của Quảng Ninh từ thời nhà Lý). Từng đôi ủng, bộ quần áo lao động và ánh đèn pin, cái choòng, mũi khoan, dây kíp nổ là bạn của ông. Các tấm huy hiệu có lẽ sẽ còn cao hơn tất cả vàng bạc trên đời đã trao tặng cho ông- người thợ lò có tấm lòng ngay thẳng và ý chí sắt đá.

“Tôi không nghĩ là sẽ có bất cứ ai trên cuộc đời này lại cần đến các dụng cụ ấy ngoại trừ những người đi lò hiếm hoi như chúng ta”, ông nghĩ.

Phan Văn Đạo vẫn kiên nhẫn trong nguyên tắc Kỷ luật và Đồng tâm.

“Ở mọi hoàn cảnh” Quản đốc nghĩ rằng “Tôi không làm công việc nào tốt hơn khác nếu không tự mình nhận lấy cái trách nhiệm là một người thợ lò trong mắt mọi người”.

Ông bắt đầu chú ý đến mọi hành động của người thợ lò với đầu óc của một người yêu than đến vô tận. “Xin tha thứ cho lỗi lầm của tôi, anh bạn thợ lò Phan Văn Đạo đáng mến ạ, nhưng công tâm mà nói là không có sự cùng cực nào nặng nề hơn là sự thống khổ của một người thợ lò khi anh ta bước chân xuống cái lòng đất ngột ngạt khí gió đó”, ông phân trần, – “Đôi khi việc sống sót trở về cũng là may mắn”. Khi đặt mình trong tâm thế đó, Phan Văn Đạo cảm nhận sự nồng nhiệt của ông, ông đã buông bỏ tất cả mọi phù hoa ở đời chỉ vì tìm thấy niềm an ủi vĩnh hằng trong sự chuyển động của các dòng sông than mà qua đó có thể thấy hết mọi cuộc đời còn lại.

Hồng Vân một tối vẫn ở lại hầm lò muộn hơn mọi khi. Qua cửa hầm thông gió, tại vị trí làm việc, cô thấy tiếng than reo rồi sự chuyển động của các khối gương than mỏng manh trên mặt hầm lò dưới ánh sáng đèn thủy tinh, điều đó khiến cô tập trung hết mọi sự chú ý vào đó cứ như thể chính cô đang chứng kiến tầng tầng lớp lớp từng bước chân đoàn thợ lò năm xưa trở về trong một ký ức xa mờ mà trong trẻo.

“Rõ ràng là mình không ngủ mơ mà”, cô nói, bất giác tự hào kêu lên. Vì sao lại xuất hiện những âm thanh rời rạc ấy ở một nơi như thế này kia chứ?”.

Lối giải thích có phần ngọt ngào của Phan Văn Đạo càng khiến cô luôn nghĩ rằng cô không phải là người phụ nữ đi lò duy nhất trên vùng mỏ này hơn.

Cô tiến đến gần để có thể cảm nhận tiếng vọng mơ hồ đó, từng lớp than, với sự cẩn trọng chỉnh chủ của một người phụ nữ có kinh nghiệm đi mỏ. Bị choáng ngợp bởi điều vừa chứng kiến, cô thở dốc và nói nhanh như cắt “Những thỏi than này trông như một thứ kim gương quý giá”. Sau phút trấn tĩnh cô nghĩ đến Phan Văn Đạo và những người đồng chí đồng đội đang có mặt trên khắp vùng mỏ này hôm đó và đã tìm thấy một câu trả lời thỏa mãn cho lòng hiếu kỳ thầm kín khi biết nghề than đã mang đến một sự phồn vinh và thịnh vượng trên khắp đất nước mình.

“Trời ơi”, cô nói “Chẳng bao giờ chúng ta có thể hiểu được mọi điều ước muốn ông ấy dành để nói về nghề mỏ như một sự sốt sắng?”

“Sao lại không sốt sắng?” Phan Văn Đạo nói. “Tôi đã trông thấy ông ấy trở về nhà với bộ trang phục lấm đầy bụi than và cả thân thể tỏa ra mùi mồ hôi chua loét, cũng giống như tất cả người thợ mỏ mà thôi”.

“Có lẽ, ông ấy muốn mọi người nghĩ như thế nào về cái nghề đi mỏ này đấy mà”, Hồng Vân nói.

“Ôi, chắc sẽ có người hiểu thôi mà?” Phan Văn Đạo nói. Hồng Vân xem xét các động cơ của chiếc máy băng sàng, nhưng lần này chú tâm hơn, bởi chính cô cũng hiểu được tầm quan trọng của những cỗ máy như thế này. Ngay sáng hôm sau, cô mặc chiếc áo lao động mới tinh, đầu đội mũ lò bằng vàng, không mang theo bất kỳ thứ trang sức nào mà cô nghĩ nó sẽ khiến cô cảm thấy khó chịu trong lúc ngồi làm việc trong tư thế thẳng lưng trên băng truyền, để tập trung, đưa các mẻ than chảy về bến, trong từng động tác và tất cả các cánh tay ăn khớp nhịp nhàng với những người còn lại rồi tìm một chỗ nghỉ ngay trên phân xưởng. “Rồi đây còn ai còn hỏi Hồng Vân này liệu có phải đúng nghĩa là cô gái mỏ không kia chứ”, cô tự vấn khi ra khỏi phân xưởng, vừa tự hào phấn khởi cười lớn. Cô chọn ngay một chỗ đứng thuận lợi giữa đống than bên tay phải, một vị trí bất kỳ nào để lấy mẫu than nhiều hơn là sự chờ đợi, nơi đó cô làm nghề chỉ bằng một cái xô và một ống rỗng lõi mà không sợ sự trùi sụt nào đối với mình. Sau đó cô đi tới đi lui với những bước chân vững chắc, trong cái thời tiết luôn luôn thay đổi trên những bãi than lộ thiên dù trong lòng có phần hơi lo lắng.

Trong lòng giếng than, một anh thợ lò dáng người gầy guộc, gương mặt sương gió, mắt nhắm nghiền vì bụi than, trong đồng phục hung hung tối, bước tới làm thân với cô sau một vài cử chỉ thân thiện của một người đồng chí khi luồn cánh tay lực điền lồng vào tay cô và có ý hỏi cô cần giúp đỡ gì không. Ở các cửa hầm lò phản chiếu ánh đèn Led loang loáng, bên trong các lò giếng chợ sáng bừng lên như ban ngày và các gương than như được làm bằng thứ kim cương quý giá. Lúc đó, Hồng Vân có vẻ đã không nhìn thấy người công nhân lò hơi, vì nghĩ rằng anh ấy rất có thể đang cố đưa những thanh củi khô vào lò mà cô đang chờ đợi, cô âm thầm bước sau anh ta về phía trong các lò giếng đứng với các cột khói vươn tới đường chân trời.

Cuối cùng, anh ta đưa cho cô một chiếc la bàn được thiết kế kiểu người Hoa, được dùng như một người dẫn đường, trên đó đã có sẵn một vài thông số mà không phải dò tìm. Rồi anh thợ lò nhìn trực diện vào mắt Hồng Vân, nín thở chờ đợi.

“Ở độ sâu này có thể khiến lồng ngực của cô căng lên đó?”.

Cô kiểm tra mũ, đèn lò, đôi ủng, gang tay…tất cả những thứ cô mang trên người trước mỗi lúc xuống lò và bắt đầu so sánh chúng với một tấm giáp trụ, giống như một nhà thám hiểm sắp đi biển. Nỗi niềm thầm kín mà cô muốn, cô nói, là chẳng bao giờ có thể rời xa được những thứ giá trị vì nó có thể khiến cô cũng như bất cứ người thợ lò nào có thể trở về mặt đất an toàn mà không ngớt nghĩ đến sự sống chết.

Người kỹ sư mỏ mang một mẫu than vừa được phát hiện vào phòng nghiên cứu và chăm chút xem xét kỹ lưỡng từng đặc tính trong sự ngạc nhiên như ở dưới lòng đất. Khi bất ngờ khám phá ra điều bí mật, trong khi vẫn tập trung chú ý, anh ta hỏi:

“Cô làm ở bộ phận nào trong vùng mỏ?” Hồng Vân đã chột dạ khi gặp phải câu hỏi đó.

“Vâng, thưa ông” cô nấc lên một tiếng dài, “Sửa chữa cơ giới thuộc phân xưởng Cơ khí”.

“Quả là bông hoa ngành than có bàn tay vàng”, anh ta nhận xét.

Anh ta bình thản trở lại, trong khi ánh mắt màu đen lấp lánh cuốn hút của Hồng Vân hướng về anh ta bằng một thái độ khác thường. Người kỹ sư mỏ dồn tất cả sự tập trung đến chiếc túi dết đựng đầy dụng cụ sửa chữa cơ khí và để lộ ra vẻ thán phục với một người phụ nữ nhỏ bé mà không ai nghĩ lại có thể đảm đương một công việc nặng nhọc mà ngay cả đến những người đàn ông lực điền nhất vùng mỏ cũng khó lòng đảm trách được.

Hồng Vân thở dài hạnh phúc.

“Ông đúng là người thầy của những kỹ sư an toàn mỏ”, cô nói.

Người kỹ sư mỏ cũng không ngừng cảm thấy xúc động. Đúng là tôi phải lòng nghề mỏ, chứ không phải lòng một cô gái nào. Sau tất cả, ông chọn ở lại đất mỏ, vì ông cảm thấy mình phải đóng góp nhiều hơn cho ngành an toàn mỏ để tâm trí ông khỏi bị ám ảnh bởi những cuộc đời luôn nằm lại với đất đá.

“Sao cô có thể đoán được ý nghĩa ấy trong đầu tôi?”

“Qua tất cả những gì mà ông đã làm đối với cái vùng mỏ này. Ông cứ cần mẫn như một con ong thợ đối với công việc. Đấy thực sự là cách của một người yêu nghề than mà chúng tôi học được từ nơi ông”.

“Những kỷ vật này do đâu cô có được?”.

“Đó là di sản quý báu đối với nghề mỏ của cha tôi” Hồng Vân nói bằng chất giọng hoài niệm- “Ông đã hy sinh trong đoàn thợ hành quân đi phục kích bọn chủ than tàn bạo, khi ông mới chỉ là một chàng trai ngoài ba mươi tuổi”.

“Những dụng cụ đi mỏ này” anh ấy thốt lên: đây là một đồng phục hiếm có, mà dường như chỉ được thiết kế để dành riêng cho người thợ lò và có thể chúng còn quý giá hơn vàng bạc khi đem so sánh với các lớp gương than tỏa lên một thứ ánh sáng trong mờ như thế đó. Mỗi một vật trên người thợ lò có một tín hiệu cảnh báo rất đáng chú ý”. Nhưng các hòn than đá xuất hiện ở một thượng tầng khác, các hòn than óng ánh, sáng rực, trong suốt, bitum-chẳng có thứ gì thừa thãi- đều mang một sắc màu riêng biệt. Hẳn là các hòn than là kim cương quý giá, luôn có thực trên đời”, người kỹ sư mỏ nói, khi anh ta qua cánh tay người thợ luôn nghe rõ mồn một tiếng than rơi đều trên các lò giếng. “Công việc khai thác than đá đã được nhiều thế hệ chú ý, vì thế các hòn than kim cương đã được nâng niu và trân trọng trong suốt một thời kỳ lịch sử xa xưa ấy và không gì có thể thay thế thứ tài nguyên phong phú này”, Hồng Vân cảm thấy khó thở, bước tới bước lui cố gắng hít một hơi thật dài trong cái đường hầm dài như lòng đại dương và nén lại tất cả sự sợ hãi. Người kỹ sư mỏ bắt đầu vang lên giọng nói an ủi cô giống như tiếng chảy thao thiết phía trên các dòng sông than dữ dội. “Cô đừng tỏ ra buồn chán, nghề mỏ vẫn thường diễn ra như một nghề có tính kỷ luật bắt buộc”.

“Có một bí mật mà tôi biết”, Hồng Vân nói, cỏ vẻ công việc đi mỏ nặng nhọc “Vì thế tôi chỉ muốn một giấc ngủ dài cho qua một ngày thôi”.

Lúc đó, chỉ lúc đó thôi, cô cảm thấy cô đã vượt qua nghịch cảnh của đời sống và trở lại trong tâm thế của một phụ nữ ngành than- theo đúng nghĩa của cụm từ này. Những giờ vào lò không cho phép ai chần chừ, cô búi tóc gọn gàng, tháo tung các đồ trang sức trên người, xốc lại từng cái khuya áo, mũ lò bằng vàng và các đôi gang tay bằng da và vải và các đồng tiền trong cái ví bạch kim để trong phòng thay đồ của công ty trước khi ngồi lên chuyến tàu hỏa cuối cùng để trượt xuống các hầm mỏ và đặt tất cả niềm tin vào một ngày làm việc hiệu quả.

“Hãy nhớ kỹ các thông số nữa nhé?”, người kỹ sư mỏ gửi lời chúc đặc biệt.

“Vâng, tôi sẽ ghi nhớ tất cả”, Hồng Vân đáp lại bằng một câu chắc nịch.

Cô được phân công ở những độ sâu vẫn còn xa lạ, nơi thân hình duyên dáng và đầy nữ tính có thể khiến cô lo lắng rằng các khớp ngón tay mình sẽ bị các cạnh than làm trầy xước. Cô nhận một nhiệm vụ đặc biệt mà không sợ hãi và lời chúc may mắn cuối cùng của người kỹ sư mỏ, phía trước cửa hầm lò, luôn luôn đầy vẻ khích lệ cổ động như lối chào nhau xã giao trước giờ vào ca của tất cả anh chị em trong ngành. Vào lúc dùng mọi cố gắng giữ thăng bằng cho tấm cửa hầm thông gió khỏi bật ra để cô bước vào, anh ấy đã muốn nói chuyện với cô lâu hơn một chút.

“Khi chúng ta vào lò, cô có nghĩ”, anh ta nói “Tôi như đang đùa rỡn với thần chết”.

Một buổi sáng hôm sau, Phan Văn Đạo và Hồng Vân đi xuống lò giếng chợ từ rất sớm. Đó là một nơi hẹp, chật chội, bụi đặc quýnh, không khí tan loãng, nóng nực, những người đồng chí đồng đội của họ lom khom với gầu than nặng trịch; ở một nơi khác, một tốp thợ đang lắp dựng ống thủy lực, cột gỗ, xà gỗ, xà gắt, rồi đánh mìn, dựng lưới, bổ cuốc chim vào than. Sau một phút tĩnh lặng họ thấy cần phải có thêm một thời gian nữa mới hoàn thành công việc. “Để có vàng đen, phải cực nhọc thế đó”, một người thốt lên. Và thế là Quản đốc sốt sắng động viên và đưa cái dây thắt an toàn, cả bản đồ, la bàn và cả bình ô –xy đựng đầy khí bên cạnh từng người.

Hồng Vân đã làm quen với hoàn cảnh này.

“Không được rời vị trí”, cô nói. “Những công cụ phải luôn mang bên mình để được an toàn”.

Quản đốc thấy yên tâm với những điều cô ra hiệu và đeo lại chiếc khẩu trang vải lên khuôn mặt sạm đen vì bụi than nơi mình. Hồng Vân cũng chỉnh lại các thông số trên cái máng cào bằng sắt và nhìn cột thủy lực bằng thép. “Cái gì cũng phải cẩn trọng”, cô nói.

Quản đốc liên tục đống thúc, nhưng cô an ủi mọi người bằng cách mời ông trở về mặt đất.

“Làm than không thể giục giã như đi đánh trận được?”

“Chúng ta phải thử sức các vỉa than khó tính hơn”, Quản đốc nói.

“Đúng, nhưng không phải là đánh đổi mạng sống bằng mọi giá. Chúng ta chỉ lấy vàng đen trong phạm vi cho phép thôi”.

“Cái hòn than này cũng là thỏi kim cương đấy”, Quản đốc nói.

“Ồ”, Hồng Vân đáp lại. “Chúng ta có thể lấy được vàng đen dễ dàng mà không cần đến dụng cụ đo lường, nhưng ông phải biết rằng hầm lò không phải là thứ có thể làm việc dễ dàng như khi ở trên mặt đất”.

Qua gương than, cô nhận thấy cặp mắt ông sưng phồng lên, trong góc nhìn này trông ông già hơn so với tuổi tác và có vẻ ông lo cho các khối lượng than được lấy lên thì ít mà lo lắng cho sự an toàn và số phận của từng người thợ lò thì nhiều. Cô mời ông một cốc nước ngon lành và dập tắt mọi ý nghĩa hoài nghi về vị thủ trưởng của mình.

 “Ngược lại”, cô nói thật trơn tru “Ngày làm việc hôm nay có vẻ như thế là đủ rồi”.

Trước khi ngồi trên chuyến xe tàu hỏa trở về mặt đất, cô lấy mấy hòn than còn bốc hơi nước đưa cho ông xem mà không buồn quan tâm đến việc chúng có khiến ông thay đổi những quyết định quan trọng trong việc di chuyển chiến dịch thăm dò sắp tới, để đem về phòng thí nghiệm nghiên cứu rồi thay đổi suy nghĩ trong ông.

Phan Văn Đạo đưa vợ từ phân xưởng trở về nhà; họ đi men theo các bờ suối than ướt lép nhép, Hồng Vân ngồi nghiêm ngắn phía sau chiếc xe Hon đa đời mới, đưa tay vòng hết cỡ ôm chặt lấy cả thân hình to bè của chồng. Ngọn đèn đường trong khu xí nghiệp than vừa lúc bật sáng lên soi rõ từng gương mặt đen trùi trũi của đoàn thợ lò nơi buổi chiều hoàng hôn sâm sẫm tối. Gió từ cửa biển thổi tới tấp làm những cuống lá trơ trọi trên đám cây tiêu huyền rụng xuống bay lả tả và công trường than lúc này trông giống như những thành phố rực rỡ sánh đèn màu. Một chiếc xe siêu tải chạy dọc sông Mang, chiếc đài cát – sét bên phải liên tục mở hết âm vực, như thể một tình khúc người thợ mỏ vang khắp các đường hầm. Nghệ sĩ Quang Thọ đang ngân dài khúc hát theo tiếng guitar: “Miền Đông thân yêu tiếng súng đang vang rền. Trong mỗi ca lao động của người thợ mỏ. Của vùng than có khí thế Chi Lăng, Bạch Đằng lịch sử. Nghe tha thiết trong tâm hồn, thợ mỏ vào ca cũng là chiến sĩ. Trung đoàn năm xưa nay đã thành sư đoàn… Vùng than thân yêu ơi. Xin nguyện vì người mà chiến đấu đến cùng. Khi quân thù liều lĩnh dám đến nơi đây, súng trong tay. Anh cùng em sẽ chung một chiến hào. Mỗi khi tan ca. Anh cùng em lại ghi thêm một chiến công. (Tình ca thợ mỏ của nhạc sĩ Hoàng Vân).

Phan Văn Đạo và Hồng Vân chạy xe trong ánh trăng vùng mỏ trong suốt và tĩnh lặng, như thể bị cuốn hút bởi lời ca tha thiết và mùi than khó chịu của khí mê tan. Cô không thể nào chợp mắt nổi vì cứ bị cái tiếng than quen thuộc lẫn vào trong giấc ngủ.

“Thật là một tiếng thân quen!” Cô bỗng thảng thốt kêu lên.

“Người lính già đi lò vĩ đại”, Hồng Vân nói. “Đó quả là một cuộc đời vinh quang, hình mẫu cao đẹp mà chẳng diễn tả sao được”.

Một buổi chiều tháng tư cơn gió biển, ngay trên chiếc ca-bin mô nô- ray, Quản đốc có một cuộc thị sát dưới lòng đất trong mấy giờ liền, ông là người thợ lò đầu tiên của ngành than đặt chân xuống độ sâu âm ba trăm mét, dấu chân ấy giờ đây đang được Tập đoàn đúc đồng để trưng bày ở phòng truyền thống, nhưng công việc đi lò vẫn còn không ít mịt mờ phía trước. Theo suy nghĩ sáng suốt nhất, công việc đào than cực nhọc nhất là biết rằng ông và tất cả người thợ lò vẫn còn tiếp nối. Rất nhiều ngày sau, ông được đưa ngang qua các lò giếng đứng với những thợ lò khác; lúc đó Phan Văn Đạo và Hồng Vân có thể dễ dàng đi cùng ông như một trinh sát viên cần mẫn trên các hầm lò này. Ông đã là một người thợ lò mẫu mực có đầy đủ uy tín so với người khác: Tâm hồn đã lồng vào mỗi gương than, bước chân đặt trên nền than, tóc nhuốm màu than, đi tới đâu là than về bến đến đó. Sự có mặt bây giờ của ông trên mỗi đường hầm đã truyền một nhiệt độ cảm xúc mãnh liệt nơi vẻ cứng rắn vạm vỡ luôn nổi đầy trên đôi bàn tay của một người ưa lao động. Đối với ông chỉ cần nhìn độ ánh của than là ông có thể đoán được đồ dày của mặt gương và lên một đề cương chính xác trong đầu cho bước vào lò tiếp theo. Hồng Vân ở lại với nghề mỏ và làm việc bên cạnh phòng làm việc của ông để có thể học được từ ông những bài học cho một người điều dưỡng viên vùng mỏ. Một trong các thợ lò đang làm việc đã hạnh phúc thốt lên vì họ đã khơi được dòng than đầu tiên mà tưởng mình chẳng thể nào làm nổi. Những đêm dài thăm thẳm dưới hầm lò đã làm mỗi người thợ thêm khôn lớn như nhận từ phía Hồng Vân một tình yêu trẻ mãi.

Mười mấy năm sau khi làm việc, Quản đốc không khi nào muốn rời khỏi nghề mỏ. Phan Văn Đạo, người thợ lò cần mẫn và tận tụy của vị Quản đốc đã kế thừa được một trong số những kỹ năng đi mỏ an toàn nhất và đưa ông xem các bản dự thảo về kế hoạch đi lò giúp công ty có thể tăng mức sản lượng và trở nên an toàn hơn trong bất kỳ mọi tình huống. Anh đặt lên bàn làm việc của ông trong lúc ông đang say sưa với các mẫu than như tâm trạng của một đứa trẻ thích khám phá về thế giới mà thực ra ông không biết điều gì đã giữ ông ở lâu với nghề than đến vậy, và tiếng than rơi đều đều trong hầm lò đã đưa ông với hiện thực. Ông cố gắng hướng dẫn từng người thợ theo một kỷ luật đồng tâm và đã giúp họ giảm bớt được sức ép trong hầm lò. Nhưng ngay cả với đồng phục kín đáo của nghề than mang trên mình, ông vẫn là một người thợ lò trong vóc dáng cũng như trong hành động thiết thực. Sợ rằng khi hè đến sẽ đem theo cái sức nóng khắc nghiệt và thực tế công việc dưới hầm lò đã trở nên nóng bức nhất trong vòng nửa thập kỷ, ông đã vạch ra, nghĩ đến lời khuyên chân tình của các bác sĩ ở trạm cứu thương vùng mỏ muốn ông và những người thợ lò hãy tự bảo vệ mình và luôn theo dõi nhịp tim khi ở dưới các độ sâu không cho phép ấy, ông rời lò giếng chợ trở về mặt đất trên chuyến xe tàu hỏa cuối cùng vào 4 giờ sáng. Như những lần trước, ông bao giờ cũng ngoái lại nhìn gương mặt từng người thợ, quan sát tiếng than rơi trên các gương than lấp lánh và Hồng Vân cảm nhận rõ điều đó, nhẩm tính số lò giếng chưa chạm tới, đã nhớ đến một vài kỹ năng hầm lò trong các buổi tập huấn trước đó, và cô đã vượt qua được một vài sự cố hy hữu ở dưới hầm lò sâu như cái lòng hồ thủy điện. Chính vào lúc đó Phan Văn Đạo thừa nhận rằng anh ấy  không nhớ nổi mình đã đem lại bao nhiêu tấn than, đóng cửa bao nhiêu vỉa và sống bao nhiêu ngày trong môi trường lao động ngập tràn bóng tối, mà tiếng than rơi, tiếng máy khoan, mìn nổ, sắt thép va đập, đã khiến anh trưởng thành hơn so với tuổi tác.

“Phải nhớ” Hồng Vân nén chặt tâm trạng nói. “Chúng ta cần vững thêm bước chân trong những mỏ than tối tăm và đầy nguy hiểm. Và hãy xem ông ấy như một người đặc biệt của tất cả chúng ta trên vùng mỏ này”.

Một buổi sáng mùa Thu năm đó, ông tiễn biệt chúng tôi trên chuyến xe ca đi vào mỏ Mông Dương trong khi tiết trời còn đẫm hơi sương, và đến khi gặp lại nhau từng người thợ lò mới bắt đầu để lộ một cảm xúc đặc biệt trên vùng mỏ đầy gian khổ, trên đó từng người đã để lại dấu chân như ông và Hồng Vân, cùng với những giọt mồ hôi của cuộc đời thợ mỏ vất vả, mà ông không bao giờ quên được, cùng với cái áo lao động và ánh đèn lò gắn trên mũ như ngôi sao ép trong lồng ngực của Hồng Vân. Đó là một ngày nghỉ đặc biệt, những người công nhân láng giếng sống ở làng mỏ Mông Dương, gác lại cái công việc phía dưới hầm lò huyền bí, đã cùng lúc tìm đến nhà văn hóa Hòn Gai với một số người bà con có quê quán ở Quan Lạn. Quản đốc đang tiếp đón đoàn người với tâm trạng phấn khởi trong cái nụ cười lấp lánh màu than và cái cung cách nói chuyện nhiều tình cảm với nghề mỏ vốn của Hồng Vân đã nhen nhúm nơi ông, nhưng dù sao, ông vẫn tìm một vị trí đứng thông thoáng bên cạnh của những chiếc xe ca – chuyến xe nghĩa tình chở người thợ lò vào lò, và với một cử chỉ thân ái, ông ngả chiếc mũ lò bằng vàng để không quên gửi lời tạm biệt may mắn đến từng người trong làn gió biển thổi tung những bụi than mù mịt trên khắp công trường khai khoáng.

Chuyến xe ca đã khuất dần vào công trường, Phan Văn Đạo bỗng nhận ra rằng anh vẫn chưa nói đến kế hoạch đi lò sắp tới. Anh lao như một cơn gió đến trước bến đỗ và đặt chồng hồ sơ tỉ mỉ lên tay Quản đốc để ông cầm lấy nhưng tập hồ sơ như có ma lực lại rơi tung tóe trong không trung và bay lả tả để lộ những nét vẽ đường lò chằng chịt. Một cái gì đó thật là hẫng hụt. Hạnh động duy nhất Hồng Vân thấy trong lúc này là tâm trạng đầy lo lắng của Quản đốc tiến lên để bắt lấy chồng hồ sơ mà có thể không với được và một vị khách đặc biệt trên tàu đã tìm cách giữ lại người thợ lò già dặn với mái tóc phủ đầy bụi than đó bằng cách bám chặt vào cái gấu áo lao động của ông và nới dần khoảng cách nơi ông trước lúc tàu chạy. Hồng Vân như một mũi tên xé gió, tiến về phía chồng, nở một nụ cười mạnh mẽ của người nữ ngành than mãn nhãn.

“Ôi thượng đế!’, cô kêu lên một tiếng, “Chẳng có cái gì có thể cản nổi những người thợ lò vinh quang ấy”.

Ông đã tìm ra một phương án chống ngập trong hầm lò an toàn, giống như bản thiết kế dài ông gửi đến mọi người để góp ý. Không thể tin được hơn là những điều đó đã được ông thực hiện chỉ trong vòng một tuần sau đó. Thế rồi, họ tình ngờ nhận được những bộ trang phục đi lò với cách trang bị rất giản dị, trong đó không ai có thể nhận ra nó lại xuất phát từ ý tưởng đơn giản của một người thợ lò vốn chỉ làm quen với những hòn than, đường hầm và bóng tối. Hình ảnh về những ngày đi lò trở lại, đẹp đẽ, huy hoàng và đúng như một cuốn hồi ký sống động trước đó, nhưng ông vẫn tĩnh lặng nghe tiếng than rơi phía trước từng bước chân mỗi người thợ và vào lò, dấn thân cho hết thảy cuộc đời đặc quánh mùi than. Một nhà báo vùng mỏ đã tặng ông một hòn than có bảy màu sắc, và ông đã quyết định dùng nó như một thứ trang sức quý giá. Những năm tháng sau đó ông vẫn tiếp tục làm việc cùng anh em trong các hầm lò và mọi hòn than đều mang một giọt mồ hôi và đã quen với mùi than hằng ngày dẫn đến các đường hầm tối tăm và nguy hiểm.

Nhưng ông không bao giờ hối hận trước mỗi quyết định với nghề than ở các hầm lò, bởi vì những khó khăn và nghịch cảnh chẳng bao giờ khiến một người thợ lò như ông sợ hãi. Vào ngày những dòng suối than chảy bất tận về các bến lớn, chất đầy trên con tàu thủy lực, ông hạnh phúc chúc mừng từng đoàn thợ với một nụ cười hào sảng, rất hợp với tính cách của người đi lò nhiều năm của ông và bắt đầu phát những phần lương đầy tâm đắc. Song, điều đặc biệt thực sự khiến ông chăm lo cho đời sống nơi họ là để họ biết rằng ông cảm thấy nghề đi lò ngoài chuyện nguy hiểm và vất vả còn bởi ý muốn xây dựng quê hương như là người công nhân trong phong trào Công đoàn tiến bộ – một cầu nối vì quyền lợi của công nhân – cho dù nghề mỏ chỉ đem lại cho ông và tất cả mọi người niềm vinh quang nhỏ nhoi không phải lo lắng vì các khoản lương bấp bênh trong cơn bão giá. Và bất cứ khi nào, nghe tiếng còi tầm phá hỏa, cuộc hành trình tiến vào hầm sâu mỗi năm của ông và những người thợ sẽ mang đến một sứ mệnh bất ngờ.

Mùa hè nóng bóng, 2026

V.M.P