(Vanchuongphuongnam.vn) – Bên dòng kinh nhỏ, dưới rặng dừa xanh là ngôi nhà nổi bật chốn quê. Nó khác biệt không chỉ vì nó bề thế mà còn là sắc màu sặc sỡ. Vùng nầy, mái đỏ tường vôi đã được xem là giàu có. Ngôi nhà nầy khác hẳn. Nó là tổng hợp các lối kiến trúc mà dân quê không biết gọi là gì nên gọi nôm na là ngôi nhà không giống ai. Đã vậy, chủ của nó còn phủ lên những màu sơn như bảy sắc cầu vồng. Đường vào nhà là trồng đủ các loại hoa quê như bông mười giờ, cúc dại, dâm bụt, hoa nhái không theo một trật tự nào. Những thứ ấy khiến ngôi nhà nầy như là điểm nhấn giữa những căn nhà mái tole ọp ẹp. Bất cứ ai đi ngang qua đây đều phải nhìn vào và mỗi người có một nhận xét khác nhau.

Nhà văn Chinh Văn
Chủ của nó là bà Sáu Nga, một người phụ nữ đã qua tuổi năm mươi. Tuy nhan sắc không mặn mà nhưng đậm đà nhờ trang điểm. Chồng bà là ai thì dân vùng nầy không ai biết, chỉ biết bà sống cùng hai đứa con trai, chưa qua tuổi hai mươi. Chúng không học hành mà chỉ lêu lổng chơi bời. Cũng đúng thôi vì bà Nga cưng chiều chúng lắm. Nếu như người mẹ lòe loẹt phấn son và quần là áo lụa thì hai đứa con trai cũng vậy. Mười mấy tuổi thôi nhưng xăm trổ khắp người, tóc thì đổi màu liên tục và đặc biệt là vàng đeo đầy tay. Cũng không ai ngạc nhiên về sự giàu có của bà Sáu Nga vì ai cũng biết bà có người anh là Việt kiều Mỹ và bà sống bằng nghề cho vay tiền góp.
Kể từ khi các vùng quê có phong trào “Hát với nhau” thì nhà bà Sáu Nga trở thành tụ điểm. Đây không chỉ là nơi hát hò mỗi đêm mà còn là một cách để bà sáu kinh doanh quán nhậu. Đơn giản thôi, chỉ nồi cháo vịt, bình rượu đế, vài ba chiếc bàn là quá đủ. Nơi gọi là sân khấu thì được kê cao lên một chút, một dàn karaoke và cặp loa “kẹo kéo”. Tất cả gói gọn trong diện tích khoảng mười mét vuông. Nhạc công cho đàn Organ và đàn guitar phím lõm kê ghế ngồi nép bên cạnh. Chỉ có vậy thôi cũng đủ tra tấn hàng xóm mỗi đêm. Khỏi phải nói, ai cũng biết, khi những chiếc loa được mở hết công suất, những giọng rượu đế lạc điệu cất lên sẽ tạo ra âm thanh khủng khiếp đến thế nào. Thật khó mà phân biệt được giữa “hát” và “hét”. Thương cho những cụ già, những em bé và những người lao động gần đó cần được nghỉ ngơi. Không ai dám phàn nàn vì bà Sáu Nga không phải hạng người biết điều. Khi quát lên, giọng bà đâu thua kém những chiếc loa kia.
Mới hơn bốn giờ chiều mà tiếng nhạc bên nhà bà sáu Nga đã xập xình. Đêm nay sẽ là đêm đặc biệt vì có Việt kiều về: ông Tư Nắng. Rượu vơi rồi rượu lại đầy. Sau gần ba tiếng thì ai nấy đã gần như say ngất ngưởng. Cướp micro tên tay MC Sáu Nga, ông Tư Nắng mở màn cho chương trình văn nghệ bằng lời giới thiệu. Giọng ông gằn vào cái micro vô tội:
– Xin lỗi bà con vì đã gây ồn ào, nhưng lâu lắm Tư Nắng nầy bên Mỹ mới được về quê. Xin bà con thông cảm cho tôi chơi vui một bữa. Có làm thì cũng phải có chơi, mà chơi thì phải nổi trội gây được tiếng vang….mình chơi thoải mái…
– Để cho người ta bắt đầu hát đi anh tư, anh nói không biết đường ra rồi đó. Giọng gắt gỏng của bà Sáu Nga từ dưới nói với lên.
– Cứ để anh nói, mình chơi bằng tiền của mình thì phải sợ ai. Anh Tư của cô bây giờ khác rồi. “Qua sông thì phải lụy thuyền, tao giờ có tiền chẳng phải lụy ai”. Sau câu nói có vần có điệu nầy thì Tư Nắng cười hô hố.
Đâu đó ở dưới có tiếng vỗ tay lẹt đẹt.
Rồi thì những ông những bà “ca sĩ miệt vườn”cũng lần lượt lên sân khấu hát. Họ là những người đã lên chức ông bà nhưng cũng ăn mặc lòe loẹt chẳng thua ai. Các bà cũng son phấn dẫu quá vụng về khi trang điểm. Các ông nào kém cạnh, cũng giày thể thao, quần jean. Họ hát và nhảy những điệu nhảy không hề có trong lịch sử vũ điệu. Có thể nói đây là chương trình ca nhạc tổng hợp bởi vừa nhạc sống, vừa karaoke, vừa tân nhạc vừa cổ nhạc kể cả cải lương. Đủ thành phần, đủ lứa tuổi. Chỉ tiếc một điều là chương trình “tổng hợp” nầy không “hòa hợp” chút nào. Trưng diện thì không hợp với tuổi tác, giọng hát thì không hợp với tiếng đàn. Dẫu vậy, buổi ca hát nầy vẫn kéo dài tận mười giờ đêm mới ngưng vì tất cả đã quá say.
Không biết có phải vì tửu lượng cao hay vì khác múi giờ mà sáng nay ông Tư Nắng dậy sớm. Ông tự pha cho mình ly café và bình trà rồi mang ra chiếc bàn giữa sân ngồi nhâm nhi café, đốt thuốc và suy nghĩ một mình:
– Không biết hàng xóm có phiền mình không nhỉ?. Không biết họ coi mình là thằng Tư Nắng bắt cua ngày xưa hay ông Tư Nắng Việt kiều?. Mình ăn chơi vậy có lố lăng lắm không và xứng tầm với Việt Kiều chưa?
Nói đến tiếng Việt kiều, tim ông như ngưng mất một nhịp. Ông nhớ lại và nhớ rất rõ hơn hai mươi năm trước:
Mới tám giờ tối mà khúc sông cái nầy vắng đến rợn người. Tiếng sóng vỗ rì rào và tiếng bìm bịp kêu làm cho không gian trở nên ma mị. Một con chim nào đó vụt bay lên cũng đủ cho ai đó đang lặn hụp ở đây thất kinh hồn vía. Trời tối đen và mưa lâm râm, gió cứ thổi ào ào vào đám dừa nước.Tư Nắng vẫn dầm mình móc cua ven bãi. Cả người chỉ có cái đầu là nhô lên mặt nước. Vật lộn mãi, ông cũng kéo được con cua biển ra khỏi hang và cho vào giỏ. Để tự thưởng cho mình, bò lên bãi, chùi tay qua loa vào chiếc nón vải duy nhất còn không bị ướt và châm thuốc hút. Nhìn xa xa ra biển, anh thấy ánh sáng nhỏ nhoi của vài chiếc thuyền câu. Ông cười một mình vì nghĩ con cua vừa bắt cũng đổi được vài ký gạo. Lặn hụp như vậy đủ rồi, hút hết điếu thuốc nầy thì về thôi. Ông bắt đầu thấy lạnh.
– Ngồi im! la lên là tao giết chết !
Tiếng nói không to nhưng sắc lạnh. Tư Nắng giật bắn người. Ông run lên không phải vì lạnh mà vì sợ.
Ông còn la thế nào được nữa, hai người đàn ông đã bẻ ngoặt tay và bịt lấy miệng ông. Họ kéo ông ra gần đó. Lúc nầy ông mới thấy và biết đây là chiếc ghe vượt biên. Họ tắt máy, tắt đèn nghe ngóng tình hình trước khi cho ghe ra khỏi cửa sông. Đóm lửa từ điếu thuốc ông đã làm cho họ chú ý. Sợ việc vượt biên bị lộ nên họ buộc phải khống chế ông. Ghe ra biển một đoạn khá xa, Tư Nắng được họ mở trói.Vẫn chưa hoàn hồn, giọng run run, ông năn nỉ:
– Mấy ông thả tôi về đi, tôi không vượt biên đâu. Tôi còn vợ và hai đứa con nhỏ, không có tôi, họ chết đói.
– Thả mầy ra để tụi tao bị bắt cả tàu à. Người ta phải tốn bao nhiêu cây vàng mới được xuống ghe vượt biên. Mầy không tốn đồng nào mà còn kêu than. Mầy nói lần nữa là tụi tao ném xuống biển đó !.
Vậy là Tư Nắng thành kẻ vượt biên bất đắc dĩ. Qua bao ngày lênh đênh trên biển với những cơn say sóng như chết đi sống lại và đói khát, ông cũng được vào trại tị nạn ở Palawan của Philipine. Thời gian sau đó ông được định cư tại Mỹ. Nơi được mọi người tưởng như đất Hứa nầy, Tư Nắng phải chịu đựng bao nhiêu là nhục lụy để có được những đồng dollar lẻ. Khi thì bị kỳ thị chủng tộc, khi thì phải làm những công việc thấp hèn như quét chợ, nhặt rác. Không giao tiếp được với ai vì tiếng Anh một chữ bẻ đôi không biết. Không ít lần ông ao ước được trở về quê để bắt cua kiếm sống. Dường như định mệnh gắn chặt ông với những con cua. Nếu như ở Việt Nam ông sống bằng nghề đi bắt cua biển đổi gạo thì sang bên Mỹ ông được đi làm thuê cho những tàu đánh bắt cua. Để được xuống tàu làm nghề nầy, ông may mắn được một người Việt sang Mỹ lâu năm giới thiệu. Đây là cái nghề mà hiện nay ông vẫn đang làm.
Về nước thăm quê lần nầy, Tư Nắng luôn tỏ ra giàu có và sang cả. Việc ông mang đôi giày tây bóng lộn suốt ngày cũng có mục đích rõ ràng. Nó vừa tôn lên vẻ giàu sang của Việt kiều, vừa giấu đi những móng chân hư vì bị nước đá ăn mòn trong những ngày trên tàu đánh bắt cua ngoài biển bên xứ người.
Đốt thêm điếu thuốc, Tư Nắng tiếp tục suy tư. Thôi thì cứ vậy, đã là Việt kiều thì phải “chơi cho lịch mới là chơi”, phải cho thiên hạ xứ nầy biết tiếng. Ở đây, đâu ai biết mình vượt biên thế nào và càng không biết mình làm gì bên Mỹ. Ai ai cũng gọi mình là Việt kiều Mỹ kia mà. Tối nay, mình lại tiếp tục đàn ca nhậu nhẹt. Ba ngày nữa phải về Mỹ rồi. Bên ấy làm gì có thời gian để chơi, cũng không ai rảnh rỗi để chơi trò vô bổ nầy. Đó là chưa nói hàng xóm sẽ báo Cảnh sát tức thì nếu la hét ồn ào. Kể ra về Việt Nam chơi sướng thiệt. Quá thoải mái.
– Anh tư vào nhà ăn sáng. Em có mua súp cua cho anh nè.
Tiếng bà Sáu Nga từ trong nhà nói vọng ra làm ngắt ngang dòng suy nghĩ của ông. Tiếng “cua” trong câu nói ấy ông nghe sao chát chúa. Quái lạ ! sao con cua cứ đeo bám cuộc đời ông?. Ông gần như dị ứng với từ “cua”. May mà dân xóm nầy không ai biết ngày trước ông đi bắt cua mà thành Việt kiều bất đắc dĩ, qua Mỹ thì làm thuê cho tàu đánh bắt cua. Họ không biết thì mình cứ tỏ ra giàu có, cho xứng tầm là Việt kiều. Kể ra cái mác Việt kiều cũng có giá ấy chứ. Nếu dân ở đây biết rõ quá khứ và hiện tại thấp hèn nầy, chắc chắn họ sẽ đặt cho ông cái tên mới là “Việt kiều cua”. Vậy thì mặt mũi đâu mà vênh váo nữa?.
C.V













